Giải pháp mở rộng và nâng cao hiệu quả cho vay đối
với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tại chi nhánh
NHCT Hà Tây.
I. Định hớng hoạt động kinh doanh của chi nhánh NHCT Hà Tây
trong thời gian tới.
Việc tăng trởng d nợ cho vay ngoài quốc doanh tại chi nhánh NHCT Hà
Tây luôn tuân theo định hớng chiến lợc của NHCT Việt Nam là : An toàn,
hiệu quả, phát triển. Trên cơ sở phơng hớng và nhiệm vụ mà NHCT Việt Nam
đã đề ra, căn cứ vào điều kiện thực tế và khả năng của chi nhánh, đồng thời do
sự chỉ đạo kịp thời của ban lãnh đạo nhằm đảm bảo phù hợp với năng lực quản
lý của chi nhánh, phù hợp với tốc độ phát triển của nền kinh tế... Ngân hàng đã
đề ra phơng hớng cho vay trong thời gian tới:
- Tiếp tục tăng trởng nguồn vốn kinh doanh bằng nhiều hình thức, bằng
nhiều mức lãi suất phù hợp để đáp ứng nhu cầu vốn vay một cách chủ động,
với chi phí đầu vào thấp nhất. Phấn đấu tổng nguồn vốn tăng 22,25%/ năm.
- Tiếp tục tăng doanh số cho vay, mở rộng tín dụng với các khách hàng
của mọi thành phần kinh tế bằng cách áp dụng nhiều phơng thức cho vay khác
nhau nh cho vay chiết khấu, cho vay bằng cách mua lại các khoản phải thu,
cho vay bằng thế chấp các giấy tờ có giá.
- Giảm tỷ lệ nợ quá hạn bằng phơng thức chủ yếu là xử lý nợ quá hạn,
phấn đấu năm 2002 tỷ lệ nợ quá hạn dới 0,8% / tổng d nợ cho vay. Kiên quyết
không để phát sinh nợ quá hạn khó đòi.
- Thực hiện chiến lợc khách hàng nhằm xây dựng cơ cấu d nợ hợp lý, an
toàn. Đầu t có trọng điểm, tăng cờng lựa chọn khách hàng để cấp tín dụng đảm
bảo an toàn theo mục tiêu chuyên doanh hoá có lựa chọn ở các phân đoạn thị
trờng khác nhau, kết hợp u tiên với khách hàng truyền thống, đồng thời xem
xét các khách hàng tiềm năng nhất là các doanh nghiệp xuất khẩu và các
ngành nghề mũi nhọn có nhiều triển vọng phát triển góp phần vào công cuộc
công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nớc, chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Tăng cờng thực hiện các nỗ lực nhằm mở rộng quy mô tín dụng, đặc
biệt là tín dụng trung và dài hạn. Phấn đấu trong thời gian tới d nợ tín dụng
phát triển nhng mặt khác có thể kéo theo những khách hàng có chất lợng
không tốt". Vấn đề đặt ra đối với Ngân hàng Công thơng Hà Tây cũng nh cán
bộ tín dụng cần phải thanh lọc những khách hàng yếu kém, tăng cờng đầu t,
kết hợp u tiên phục vụ khách hàng tốt, khách hàng truyền thống. Mà một trong
những biện pháp Ngân hàng thực thi muốn xác định đúng đối tợng cho vay đó
là phân loại khách hàng. Cụ thể:
- Doanh nghiệp xếp loại A: Là doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ổn
định, thực hiện tốt các nghĩa vụ đối với Nhà nớc, không có nợ quá hạn đối với
2
2
Ngân hàng. Nếu doanh nghiệp có phơng án khả thi cần cho vay - tín chấp
trong mức độ cần thiết.
- Doanh nghiệp xếp loại B: Là doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
không ổn định, kết quả hoạt động bình thờng, quan hệ bạn hàng đối với Ngân
hàng cha có uy tín cao. Đối với doanh nghiệp loại này thì Ngân hàng cho vay
trên cơ sở giá trị tài sản thế chấp, cầm cố bảo lãnh.
- Doanh nghiệp loại C: Là doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ, không có
biện pháp khắc phục, không thanh toán sòng phẳng, hay nợ nần. Để giảm bớt
khó khăn thì phải tìm cách từ chối hợp lý quan hệ tín dụng, nhanh chóng thu
hồi vốn quay về.
Thông qua phơng pháp xếp loại doanh nghiệp này, Ngân hàng Công th-
ơng Hà Tây không chỉ mở rộng đợc công tác cho vay mà hiệu qủa cũng đợc
đảm bảo. Qua đó mà Ngân hàng biết đợc mình nên đầu t vào đối tợng nào,
muốn hạn chế hay chấm dứt quan hệ với đối tợng nào để giảm tối đa rủi ro có
thể xảy ra, đảm bảo an toàn khoản tiền cho vay và cho bản thân khách hàng
gửi tiền.
2. Đổi mới cơ chế tín dụng đối với kinh tế ngoài quốc doanh.
Trong quá trình hoạt động một số nguyên tắc quan trọng mà Ngân hàng
luôn đặt lên hàng đầu đó là an toàn và hiệu quả". Thực tế trong công tác cho
thể kinh doanh cũng luôn chú ý, là điểm hội tụ của nhiều mối quan hệ, liên
quan trực tiếp đến lợi ích của các bên. Nếu lãi suất đợc sử dụng hợp lý, linh
hoạt, phù hợp với tình hình kinh tế từng thời kỳ sẽ có tác dụng trực tiếp và rất
quan trọng đến kiềm chế lạm phát cũng nh kích thích đầu t phát triển sản xuất
của các doanh nghiệp và tăng trởng kinh tế. Mặt khác sử dụng lãi suất một
cách cứng nhắc thì có thể ý nghĩa trớc mắt nhng về lâu dài có thể trở thành yếu
tố kìm hãm.
Hiện nay Ngân hàng Công thơng Hà Tây thực thi mức lãi suất dựa
trên lãi suất cơ bản do thống đốc Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam và Ngân
hàng Công thơng Việt Nam quy định. Tuỳ theo điều kiện kinh doanh cụ thể,
sự biến động của thị trờng mà Ngân hàng Công thơng Hà Tây đa ra các mức
lãi suất phù hợp. Trong thực tế Ngân hàng áp dụng một mức lãi suất cho vay
chung là từ 0,7% đến 0,85%/ tháng cho tất cả các thành phần kinh tế. Hơn
nữa để thu hút đợc nhiều nguốn vốn huy động thì Ngân hàng đã phải bỏ ra
chi phí, trong khi đó không thể tăng đợc lãi suất đầu ra. Bị đặt trong tình thế
tiến thoái lỡng nan, Ngân hàng phải tăng cờng cho vay để tránh ứ đọng vốn,
tăng nguồn thu cho Ngân hàng để trả lãi tiền gửi cho khách hàng đến gửi
tiền. Vì vậy để Ngân hàng hoạt động có lợi nhuận thì Ngân hàng cần phải
tiến hành đa dạng hoá các mức lãi suất phù hợp nhng đều phải dựa trên cơ
sở đảm bảo chi phí để bù đắp một phẩn rủi ro có thể xảy ra và đặc biệt là
phải phù hợp với từng ngành nghề kinh doanh, tình hình sản xuất của các
doanh nghiệp. Hay chăng để hấp dẫn khách hàng, Ngân hàng Công thơng
4
4
Hà Tây nên có mức lãi suất thấp, u đãi, hấp dẫn đối với khách hàng truyền
thống, khách hàng tiềm năng.
* Cần đa dạng hoá tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh.
Bất kỳ một Ngân hàng nào trớc khi quyết định cho vay đều phải xem
xét đến hiệu quả phơng án sản xuất kinh doanh, khả năng trả nợ của khách
5
5
* Thời hạn cho vay:
Hiện nay thời hạn cho vay của Ngân hàng Công thơng Hà Tây đối với
khách hàng chủ yếu là 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng tuỳ thuộc vào thời gian thực
hiện hợp đồng, thời hạn cho vay cũng có những trờng hợp cha sát với thời gian
thực hiện phơng án xin vay. Vì thế mà Ngân hàng cần điều chỉnh thời hạn cho
vay một cách linh hoạt đối với từng loại hình doanh nghiệp là cần thiết góp
phần đảm bảo an toàn món vay. Việc xác định kỳ hạn nợ cho từng món vay
không chỉ đơn thuần căn cứ vào bảng tổng kết tài sản, kế hoạch sản xuất kinh
doanh mà phải còn dựa trên kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, các hợp đồng mua
bán tiêu thụ sản phẩm, từ đó Ngân hàng mới có thể xác định kỳ hạn nợ một
cách chính xác. Việc xác định thời hạn cho vay một cách chính xác có ý nghĩa
hết sức quan trọng trong việc đảm bảo món vay đợc sử dụng đúng mục đích,
khả năng trả nợ đúng hạn cho Ngân hàng, nâng cao hiệu quả công tác cho vay
của Ngân hàng.
3. Nâng cao chất lợng thẩm định và đánh giá tình hình tài chính của
khách hàng.
Khi chuyển sang nền kinh tế thị trờng, song song với việc mở rộng
phạm vi và quy mô hoạt động tín dụng là đối tợng khách hàng ngày càng
phong phú, theo đó khả năng rủi ro thất thoát vốn gia tăng, đe doạ sự tồn tại và
phát triển của Ngân hàng. Tuy nhiên không phải vì thế mà Ngân hàng không
dám mở rộng hoạt động tín dụng mà với phơng châm hoạt động tăng cờng mối
quan hệ lâu dài giữa khách hàng với Ngân hàng trên cơ sở đảm bảo chữ "tín"
và thoả mãn mọi yêu cầu của khách hàng. Muốn vậy Ngân hàng cần phải nâng
cao chất lợng công tác thẩm định về tình hình tài chính cũng nh các vấn đề có
liên quan đến khách hàng.
Thẩm định tín dụng là quá trình Ngân hàng thu thập thông tin từ nhiều
nguồn khác nhau liên quan đến khách hàng và khoản tín dụng mà khách hàng
cần. Sau quá trình xử lý thông tin, Ngân hàng xác định khả năng và ý muốn
doanh là tìm kiếm lợi nhuận bằng mọi giá nên để đánh giá đợc tình hình thực
tế hoạt động kinh doanh của các thành phần kinh tế này rất khó khăn. Mà một
trong những bí quyết dẫn đến thành công, đảm bảo an toàn và hiệu quả nguồn
vốn cho vay của Ngân hàng là phải đánh giá khả năng kinh doanh và tình hình
tài chính thực của doanh nghiệp. Việc đánh giá và phân tích tình hình tài chính
của khách hàng có thể dựa trên các chỉ tiêu khác nhau nh: năng lực quản lý
doanh nghiệp, tính cách khách hàng, khả năng sinh lời của khách hàng. Bên
cạnh đó để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng thì Ngân hàng nên sử
dụng các nhóm chỉ tiêu sau:
Nhóm 1: Nhóm chỉ tiêu đo lờng khả năng thanh toán.
Nhóm 2: Nhóm chỉ tiêu cơ cấu tài chính.
Nhóm 3: Nhóm chỉ tiêu về năng lực hoạt động.
Nhóm 4: Nhóm chỉ tiêu về lợi nhuận và phân phối lợi nhuận.
7
7
Thông qua việc đánh giá và phân tích tình hình tài chính khách hàng mà
Ngân hàng có thể đa ra các quyết định cho vay đúng đắn để có thể mở rộng và
nâng cao hiệu quả công tác cho vay của Ngân hàng. Ngoài ra Ngân hàng còn
quan tâm để tìm hiểu khách hàng tiềm năng trong tơng lai từ đó có đợc sự
nhạy bén hơn trong kinh doanh, giúp cho Ngân hàng có thể cạnh tranh đợc với
các Ngân hàng khác.
4. Đa dạng hoá các nghiệp vụ cho vay và phơng thức cho vay.
Đa dạng hóa các nghiệp vụ cho vay của Ngân hàng làm cho nguồn vốn
mà Ngân hàng huy động đợc xâm nhập vào nhiều lĩnh vực, nhiều thành phần
kinh tế khác nhau, thu hút đợc nhiều khách hàng đồng thời giảm bớt đợc nhiều
rủi ro do nguồn vốn đợc đầu t phân tán. Nhờ có đa dạng hoá mà bản thân các
doanh nghiệp có thể lựa chọn hình thức vay vốn phù hợp với điều kiện sản
xuất, tiêu thụ sản phẩm của họ. Xuất phát từ nhu cầu thực tế của sự phát triển
kinh tế bên cạnh việc thực thi nghiệp vụ cho vay đối với kinh tế ngoài quốc
- Cho vay có đảm bảo bằng các khoản phải thu, thu về hàng hoá bán
chịu cha trả tiền, các khoản đầu t.
Bên cạnh việc đa dạng hoá nghiệp vụ cho vay thì việc xác định phơng
thức cho vay phù hợp đối với mỗi khách hàng cũng hết sức quan trọng. Hiện
nay Ngân hàng Công thơng Hà Tây hầu nh chỉ áp dụng phơng thức cho vay
từng lần đối với kinh tế ngoài quốc doanh . Điều đó hạn chế đến việc mở rộng
và nâng cao hiệu quả công tác cho vay của Ngân hàng đối với thành phần kinh
tế này. Với phơng châm "giúp đỡ khách hàng làm giàu chân chính", Ngân
hàng cần áp dụng các phơng thức cho vay khác nhau để thoả mãn tối đa nhu
cầu vay vốn của khách hàng. Đối với các khách hàng có nhu cầu vay vốn th-
ờng xuyên, có khả năng tài chính và có uy tín. Ngân hàng áp dụng phơng thức
cho vay luân chuyển (hay còn gọi là cho vay theo hạn mức tín dụng) nghĩa là
đầu mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh thì khách hàng chỉ cần ký một hợp đồng
tín dụng với ngân hàng trong hợp đồng đó ngân hàng cam kết cho khách hàng
vay một hạn mức tín dụng nhất định và duy trì trong suốt thời kỳ đó. Do đó
thủ tục chỉ phải làm một lần vào đầu mỗi thời kỳ. Phơng thức này thờng áp
dụng cho các khách hàng có nhu cầu vay vốn thờng xuyên, có khả năng tài
chính và có uy tín. Việc cho vay theo phơng thức này giúp cho cán bộ dễ nắm
bắt tình hình đơn vị vay vì doanh số cho vay thể hiện doanh số mua vào, còn
doanh số thu nợ biểu hiện doanh số bán ra và nó tiết kiệm tối đa cho ngời vay,
nó phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh với vòng quay của đồng tiền.
Ngoài ra ngân hàng còn có thể áp dụng các phơng thức cho vay khác
nh: cho vay theo dự án đầu t, cho vay mua hàng trả góp, cho vay thông qua
việc phát hành và sử dụng thẻ tín dụng...
5. Chủ động giải quyết nợ có vấn đề.
Song hành với việc mở rộng hoạt động kinh doanh thì yếu tố rủi ro mất
mát xảy ra là tất yếu. Trong quá trình hoạt động của Ngân hàng, vấn đề phòng
9
9
lý sẽ đựơc coi là biện pháp hay nhất để xử lý khoản vay có vấn đề. Thanh lý là
cách của Ngân hàng đòi các khoản nợ quá hạn, dựa trên việc áp dụng và thực
hiện các biện pháp pháp lý. Tuy nhiên khi tiến hành thanh lý có thể xảy ra vật
thế chấp bị mất giá do ngời vay sử dụng sai hoặc bảo quản tồi, đôi khi tài sản
10
10