Vận dụng phương pháp phát triển cộng đồng góp phần nâng cao ý thức pháp luật của người dân trên địa bàn xã vũ chính, thành phố thái bình - Pdf 31

Cowvũ chính

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI
------------------------------

ĐỀ CƯƠNG BÀI TẬP
ĐIỀU KIỆN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỀ TÀI:

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG GÓP
PHẦN NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP LUẬT CỦANGƯỜI DÂN
TRÊN ĐỊA BÀN XÃ VŨ CHÍNH TP THÁI BÌNH

Học viên thực hiện: NGUYỄN THIỆN THOẠI
Lớp: Đại học Công tác xã hội K4 - TPTB
Hệ đào tạo: VHVL

THÁI BÌNH, THÁNG 7/2015
1


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn và thực hiện đề tài
Quá trình đưa pháp luật vào cuộc sống,nâng cao ý thức pháp luật của người
dân được bắt đầu bằng hoạt động phổ biến và giáo dục pháp luật, đây là khâu
đầu tiên của hoạt động thực thi pháp luật, là cầu nối để truyền tải pháp luật vào
cuộc sống. Vì thực hiện pháp luật dù bằng hình thức nào như tuân thủ pháp luật,
thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật hay áp dụng pháp luật thì trước hết đều
phải có hiểu biết pháp luật.



pháp luật của cán bộ và nhân dân; đồng thời tạo điều kiện để cán bộ và nhân dân
sử dụng pháp luật làm phương tiện, công cụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mình, góp phần giữ gìn trật tự, kỷ cương, ngăn ngừa có hiệu quả các hành vi
vi phạm pháp luật.
- Tạo bước phát triển mới trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
(PBGDPL), đáp ứng nhu cầu tìm hiểu pháp luật, nâng cao dân trí pháp lý cho
cán bộ và nhân dân trên địa bàn.
- Thực hiện xã hội hoá công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đẩy mạnh thực
hiện cơ chế phối hợp, nâng cao tinh thần trách nhiệm, phát huy tính chủ động,
sáng tạo và trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức, đơn vị đối với công
tác PBGDPL; huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã
hội tham gia, đưa công tác PBGDPL thành hoạt động thường xuyên, liên tục của
mọi cơ quan, tổ chức, công dân.
Yêu cầu
- Kế thừa những kết quả đạt được, bảo đảm tính liên tục và phát triển trong thực
hiện các nội dung, hình thức, biện pháp PBGDPL. Sử dụng và khai thác có hiệu
quả các hình thức PBGDPL; kết hợp việc PBGDPL trên diện rộng với các hoạt
động tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, hòa giải cơ sở, khai thác tủ sách pháp
luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo, giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm pháp luật
và các hoạt động văn hóa khác.
- Phổ biến giáo dục pháp luật phải gắn với việc quán triệt các chủ trương,
chính sách của Đảng về phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng an ninh
trên địa bàn.
- Coi trọng công tác hướng dẫn, kiểm tra và thực hiện nghiêm túc chế độ thông
tin báo cáo, sơ kết, tổng kết nhằm đánh giá đúng tình hình và kết quả thực hiện;
kịp thời đưa ra những giải pháp phù hợp để tăng cường và nâng cao hiệu quả
thực hiện công tác PBGDPL trong địa bàn.


Phát triển cộng đồng là một tiến trình qua đó có sự nỗ lực của chính dân cư
trong cộng đồng kết hợp với nỗ lực của chính quyền để cải thiện các điều kiện
kinh tế, xã hội, văn hóa của cộng đồng và để cộng đồng có điều kiện hội nhập và
tham gia tích cực vào đời sống của toàn xã hội. Thực chất của phương pháp tổ
chức và phát triển cộng đồng là người làm CTXH sử dụng kiến thức, kỹ năng, xây
dựng, thực hiện chương trình, dự án dựa trên sự huy động nguồn lực bên trong
cộng đồng (nội lực) kết hợp với nguồn lực của xã hội, có sự tham gia của nhà nước
hoặc các nguồn hỗ trợ từ bên ngoài (tổ chức phi chính phủ, tổ chức xã hội), để cải
thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư, tăng cường khả năng tự lực của cộng
đồng trong việc giải quyết vấn đề của mình.
Đối tượng tác động của phương pháp này là cộng đồng người, sinh sống trên
một địa bàn dân cư có những đặc điểm chung cơ bản về kinh tế, xã hội và văn
hóa, có vấn đề hoặc nhu cầu xã hội. Mục đích của CTXH với cộng đồng là
thông qua việc nhận diện vấn đề của cộng đồng, đánh giá các nguồn lực, khai
thác và phát huy tiềm năng của cộng đồng, từ đó tổ chức hoạt động, thực thi
những chương trình hành động mang lại những chuyển biến tích cực cho cộng
đồng: từ chỗ khó khăn, kém phát triển trở thành cộng đồng tiến bộ, ổn định, phát
triển.
Quá trình ứng dụng phương pháp CTXH tác nghiệp với cộng đồng, người làm
CTXH tổ chức và phát triển cộng đồng cùng với cộng đồng xác định vấn đề gặp
phải, phân tích tìm ra nguyên nhân của những trở ngại khó khăn ảnh hưởng tới
4


sự phát triển của cộng đồng và tạo ra mối quan hệ, liên kết giữa các thành viên
trong cộng đồng, giữa cộng đồng với các cơ quan chức năng, tổ chức, thông qua
các chương trình, dự án hoạt động làm thay đổi, chuyển biến tích cực cộng
đồng: từ yếu, kém, có vấn đề, có nhu cầu trở thành cộng đồng thức tỉnh, lên khá
và phát triển - cộng đồng tự lực.
1.2. Bối cảnh ứng dụng phương pháp phát triển cộng đồng.

là những người đã bị vỡ mộng với cách tiếp cận phát triển cộng đồng dựa trên
5


nhu cầu, do đó, nó mở ra triển vọng là kích thích sáng kiến địa phương và tăng
cường hành động tập thể.
1.3. Nguyên tắc tác nghiệp của phương pháp phát triển cộng đồng.
Đối tượng tác nghiệp của phương pháp tổ chức và phát triển cộng
đồng là cộng đồng có nhu cầu, có vấn đề; với đặc thù cộng đồng là một
thành tố của cấu trúc xã hội, được xác định dựa trên những tiêu chí nhất
định, thường được hiểu khái quát là một tập hợp dân cư sinh sống trên
cùng một địa bàn, do đó phải có những nguyên tắc tác nghiệp phù hợp.
Cùng với những nguyên tắc chung, trở thành những nguyên tắc cụ thể
như: khẳng định và coi trọng đặc điểm riêng của cộng đồng; tôn trọng
quyền tự quyết, tự chịu trách nhiệm của cộng đồng; cộng đồng vừa là đối
tượng tác động, vừa là nguồn lực và lực lượng chủ yếu giải quyết vấn đề,
đáp ứng nhu cầu của cộng đồng… còn có những nguyên tắc đặc thù.
Những nguyên tắc tác nghiệp đặc thù bao gồm:
+ Các hoạt động phát triển cộng đồng phải dựa trên nhu cầu thiết yếu của
cộng đồng. Tác viên phát triển cộng đồng không làm thay, áp đặt chương trình
phát triển từ trên hoặc từ bên ngoài vào mà phải được xuất phát từ bên trong
cộng đồng. Đây là nguyên tắc quan trọng hàng đầu, quyết định đến động lực, sự
tham gia - điều kiện thành công của chương trình/dự án phát triển cộng đồng.
+ Phát triển cộng đồng phải dựa trên cơ sở và hướng tới thực hiện công
bằng, bình đẳng, dân chủ. Nguyên tắc này đòi hỏi công bằng, bình đẳng, dân chủ
về thông tin, về quyền tham gia, về mối quan hệ giữa lợi ích cộng đồng với lợi
ích cá nhân và về hưởng thành quả từ trước, trong và sau quá trình triển khai
thực hiện chương trình/dự án phát triển cộng đồng.
+ Khai thác và sử dụng tối ưu các nguồn lực cho chương trình/dự án phát
triển cộng đồng. Các nguồn lực phát triển cộng đồng bao gồm nguồn lực vật

Tiến trình phát triển cộng đồng là quá trình bao gồm các bước hoạt động
thể hiện sự tương tác giữa người làm CTXH (tác viên phát triển cộng đồng) với
một cộng đồng cụ thể nhằm đạt được mục đích và các mục tiêu đặt ra. Thực chất
tiến trình phát triển cộng đồng là quy trình thực hiện các bước trước, trong và
sau của một chương trình, dự án hoạt động đối với một cộng đồng. Tiến trình
này bắt đầu từ lựa chọn, tiếp cận, nhận diện vấn đề, đánh giá nhu cầu, tiềm năng,
những điều kiện thuận lợi, khó khăn của một cộng đồng đến việc thiết kế/xây
dựng, thực hiện chương trình, dự án phát triển cộng đồng và những hoạt động
phát triển sau chương trình, dự án.
+ Tìm hiểu và đánh giá cộng đồng: bước chuẩn bị, tạo tiền đề đi đến quyết
định xây dựng và thực hiện chương trình, dự án phát triển cộng đồng. Mục đích của
bước tìm hiểu, đánh giá cộng đồng là nghiên cứu, khảo sát thực tế nhằm xác định
tình trạng hiện thời của cộng đồng, nhận diện, phát hiện những vấn đề gặp phải của
cộng đồng, đánh giá nhu cầu, tiềm năng, những thuận lợi, khó khăn đối với hoạt
7


động, tổ chức đời sống của cộng đồng và dân cư trong cộng đồng. Để đạt được
mục đích đặt ra, tác viên phát triển cộng đồng phải thực hiện các nhiệm vụ: tiếp cận
cộng đồng, thu thập, xử lý, phân tích thông tin thông qua sử dụng các phương pháp
và kỹ năng chuyên nghiệp; thảo luận với cấp trên, với lãnh đạo và đại diện cộng
đồng về những kết luận, đánh giá hiện trạng, nhu cầu, tiềm năng của cộng đồng, từ
đó đề xuất giải pháp đáp ứng nhu cầu, giải quyết vấn đề, nâng cao năng lực, hướng
tới thiết kế, xây dựng chương trình, dự án phát triển cộng đồng.
+ Xây dựng chương trình, dự án phát triển cộng đồng: đáp ứng nhu cầu, giải
quyết một hay một số vấn đề của cộng đồng với sự tham gia tích cực của nhiều
lực lượng xã hội bên trong và bên ngoài cộng đồng, trong đó đối tượng tham
gia, đích tác động hướng tới là bản thân cộng đồng, thể hiện bằng một kế hoạch
can thiệp hay một chương trình hành động được xác định bởi một khung thời
gian, nguồn lực và hoạt động quản lý.

giải quyết những vấn đề đáp ứng những nhu cầu và theo những mục tiêu mới –
phát triển bền vững. Vì vậy, sau khi kết thúc chương trình/dự án, mặc dù không
còn sự tham gia trực tiếp của tác viên phát triển cộng đồng nhưng cộng đồng
vẫn luôn tiếp diễn việc nhận thức, phát hiện, huy động nguồn lực bên trong và
bên ngoài để giải quyết những vấn đề nảy sinh nhằm duy trì và đảm bảo sự ổn
định, nâng cao đời sống mọi mặt của cộng đồng.
1.5. Dự án/chương trình phát triển cộng đồng.
- Khái niệm dự án phát triển cộng đồng:
Dự án phát triển cộng đồng là một loại dự án phát triển nhằm giải quyết
một hay một số vấn đề của cộng đồng với sự tham gia tích cực của nhiều lực
lượng xã hội, thể hiện bằng một kế hoạch can thiệp, hỗ trợ hay một chương trình
hành động được xác định bởi một khung thời gian, nguồn nhân lực, tài chính và
quản lý.
Dự án phát triển cộng đồng là dự án hướng trực tiếp vào cộng đồng nhằm
mục đích giải quyết vấn đề, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, hướng tới sự phát
triển toàn diện của cộng đồng thông qua việc nâng cao năng lực của người dân
và các tổ chức trong dân chúng.
Như vậy, dự án phát triển cộng đồng phải hướng vào những mục tiêu phát
triển cụ thể, nó không phải là một dự án cứu trợ hay giải quyết tình huống khẩn
cấp, tạm thời, trước mắt, nó được thực hiện có sự phối hợp của nhiều nguồn lực,
lực lượng và đối tượng của dự án là tạo ra sự thay đổi tích cực tại cộng đồng, từ
bên trong cộng đồng.
- Quy trình thiết kế, thực hiện dự án phát triển cộng đồng:
+ Thiết kế dự án: Bao gồm các khâu từ nhận diện cộng đồng, xác định nhu
cầu, xác định mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể, đánh giá nguồn lực, thuận lợi,
khó khăn cho đến việc hoạch định các hoạt động.
+ Triển khai dự án: Là quá trình triển khai các hoạt động đã được hoạch
định – lên kế hoạch, bao gồm các hoạt động phối hợp, hoạt động giám sát và
hoạt động quản lý.
9

cần phải có,về tính hợp pháp hoặc không hợp pháp trong cách của các cơ quan
đảng,nhà nước và tổ chức xã hội,trong đó người giáo dục và người được giáo
dục luôn tác động qua lại lẫn nhau,thiết lập những hành vi sử sự phù hợp các
quy phạm pháp luật.hoạt động của giáo dục pháp luật nhằm hình thành ở con
người thói quen sử sự phù hợp với đòi hỏi của pháp luật.

10


Giáo dục pháp luật là quá trình tác động có tính liên tục,lâu dài,thường
xuyên.vì thế giáo dục pháp luật phải thong qua nhiều cơ quan,tổ chức chính trị,
xã hội,trong đó hội đồng phối hợp PBGDPL giữ vai trò quan trọng,nhưng cần
phải có sự kết hợp chặt chẽ với các ban nghành lien quan nhằm mục đích hướng
dẫn hành vi con người sử sự phù hợp với quy định của pháp luật.
2.2.Thực trạng hiểu biết và ý thức pháp luật của người dân ở nước ta hiện
nay:
- Có thể nói rằng, thực tiễn thực hiện pháp luật ở nước ta hiện nay có biểu hiện
tương đối tốt. Thực hiện Đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam, chính sách
của nhà nước, sự quan tâm chỉ đạo của các ban cấp lãnh đạo, công tác tuyên
truyền pháp luật của các cơ quan chức năng; tất cả những nhân tố đó đã tạo cho
người dân một cái nhìn tổng quan và chính xác nhất về pháp luật, từ đó, người
dân chấp hành, tuân thủ và thực hiện pháp luật một cách tự giác, chủ động và
nghiêm chỉnh. Ví dụ như có nhiều vụ tham nhũng của các cán bộ công chức nhà
nước như tham nhũng về đất, tiền đóng góp của người dân. . . đã bị người dân
khiếu nại, tố cáo. Nhân dân ủng hộ nhiệt tình với các chủ trương của chính phủ
trong việc giải quyết dứt khoát, không tránh né dù đối tượng có cương vị, trọng
trách cao đến đâu, cũng có nghĩa rằng nhu cầu công bằng xã hội được dư luận xã
hội quan tâm, tán thành, ủng hộ. Không chỉ đem lại quyền lợi cho người dân mà
thể hiện tính dân chủ của nhà nước. Điều này cũng cho thấy nhận thức về pháp
luật của người dân đã được củng cố và nâng cao.

tự

hội.
Thực tế cho thấy, một trong những nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm
11


pháp luật là trình độ hiểu biết pháp luật, ý thức pháp luật, sự tôn trọng pháp luật
của một bộ phận nhân dân còn hết sức hạn chế. Trong thời gian qua, việc tuyên
truyền pháp luật thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và các phương
tiện khác đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, so với yêu cầu nâng
cao trình độ, ý thức pháp luật cho nhân dân thì những kết quả đó vẫn chưa tương
xứng. Chính vì vậy, việc nâng cao trình độ pháp luật cho nhân dân theo yêu cầu
quản lý nhà nước bằng pháp luật hiện nay là vấn đề cấp thiết.
- Thực trạng ý thức pháp luật của người dân Với nhiều chủ trương, chính
sách, đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, công tác xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp
luật ngày càng nâng cao và có chất lượng tốt tạo ra sự chuyển biến rõ rệt so với
thời kỳ bao cấp trước đây. Với các quy định phù hợp của pháp luật về các quyền
cơ bản của con người (như ăn, ở, đi lại, kinh doanh...) đã tạo ra hành lang pháp
lý thuận lợi cho sinh hoạt của mọi người dân. Ý thức pháp luật của người dân
cũng có sự chuyển biến tích cực, nhận thức về vị trí vai trò của pháp luật đối với
đời sống ngày càng cao. Xuất phát từ nhận thức đúng đắn vai trò của pháp luật
trong cuộc sống người dân có ý thức chấp hành, tuân thủ pháp luật tốt hơn. Ý
thức pháp luật của nhân dân Việt Nam không ngừng được hoàn thiện, nâng cao
về mọi phương diện. Sự hiểu biết về tri thức pháp luật nói chung, pháp luật
chuyên ngành của cán bộ công chức và người dân ngày càng nâng cao không chỉ
về số lượng văn bản pháp luật mà về bản chất nội dung các quy định pháp luật.
Điều này thể hiện qua tình hình ý thức chấp hành pháp luật của người dân trong
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như kinh tế, văn hóa, giao thông, môi trường, y

không là vấn đề quyết định. Nếu luật pháp vẫn chỉ là luật pháp cho dù có hoàn
chỉnh đến mấy; nếu người dân cứ tự do sống theo kiểu của mình không cần biết
đến luật pháp, thì không những xã hội không phát triển mà còn rất tồi tệ và bất
ổn. Mấu chốt của vấn đề ở chỗ, pháp luật phải đi vào cuộc sống, nhân dân thấy
cần pháp luật như cần không khí để hít thở vậy. Cho nên, việc tuyên truyền giáo
dục pháp luật cho nhân dân là việc làm không thể thiếu và cũng không thể làm
một, hai lần, làm một thời gian ngắn là xong mà phải rất kiên trì, sáng tạo, linh
hoạt, được toàn xã hội tham gia.
Tuyên truyền giáo dục pháp luật cho nhân dân có nhiều việc phải làm, bằng
nhiều cách, do nhiều lực lượng tham gia như đã nêu.
Các phương tiện thông tin đại chúng với những ưu thế đặc biệt đã thực sự là một
công cụ tuyên truyền giáo dục pháp luật có hiệu quả xã hội cao. Các
phương tiện thông tin đại chúng làm cho mỗi người dân trong đời sống sinh
hoạt thường ngày của mình được tiếp cận với các phương tiện thông tin đại
chúng một cách trực tiếp, cập nhật, phong phú, đa dạng, sinh động, dễ
dàng. Thông qua các phương tiện nghe, nhìn của đài phát thanh, đài truyền
hình, sách báo in, báo mạng, báo ảnh, tạp chí... người dân có thể thấm
nhuần những nội dung pháp luật, những điều cần phải làm, những vấn đề
phải quan tâm... Các phương tiện thông tin đại chúng cũng phê phán, nêu
rõ các hiện tượng sai trái coi thường pháp luật, không hiểu pháp luật đã dẫn
đến những hậu quả khó lường cho cá nhân, gia đình và xã hội. Việc làm
này có tác động mạnh tới nhận thức tư tưởng, tình cảm của mỗi người,
khiến họ phải tự điều chỉnh hành vi của mình theo quy định của pháp luật.
Cho nên việc tuyên truyền giáo dục pháp luật thông qua các phương tiện
thông tin đại chúng là cần thiết, có nhiều ưu thế và là một trong những
13


phương pháp, phương thức tuyên truyền giáo dục pháp luật hiện nay có
hiệu quả cao, được nhiều người ở nhiều lứa tuổi quan tâm.

luật, vừa là Cơ quan thường trực của Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo
dục pháp luật của Chính phủ. Tăng cường sự chủ động và cơ chế phối hợp hiệu
quả giữa các bộ, ngành, đoàn thể trong công tác PBGDPL. Phân cấp mạnh mẽ
hoạt động PBGDPL cho địa phương với phương châm hướng công tác PBGDPL
về cơ sở.
14


- Tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, kế thừa những quy định của pháp luật hiện
hành về phổ biến, giáo dục pháp luật; tham khảo, tiếp thu có chọn lọc kinh
nghiệm phổ biến, giáo dục pháp luật của các nước trên thế giới.
- Sự cần thiết xây dựng Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật.
Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là khâu đầu tiên của quá trình thi hành
pháp luật và có vai trò hết sức quan trọng trong việc tăng cường pháp chế
XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của nhân dân, do
nhân dân và vì nhân dân. Xuất phát từ vai trò, ý nghĩa quan trọng của công tác
phổ biến, giáo dục pháp luật, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác
này. Trong rất nhiều văn kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nước đã đề cập
đến công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định: “Triển khai mạnh mẽ
công tác tuyên truyền và giáo dục pháp luật; huy động lực lượng của các đoàn
thể chính trị, xã hội, nghề nghiệp, các phương tiện thông tin đại chúng tham gia
các đợt vận động thiết lập trật tự, kỷ cương và các hoạt động thường xuyên xây
dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật trong cơ quan nhà nước và trong xã
hội’’. Nghị quyết số 08–NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số
nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới chỉ rõ cần: “Đẩy mạnh
công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật với nhiều hình thức phong
phú, sinh động, đặc biệt là thông qua các phiên toà xét xử lưu động và bằng
những phán quyết công minh để tuyên truyền, nâng cao ý thức pháp luật cho cán
bộ và nhân dân”.

Bắc giáp phường Trần Lãm; phía Bắc giáp phường Kỳ Bá; phía Tây Bắc giáp
phường Quang Trung; phía Tây giáp xã Vũ Phúc; phía Nam giáp với xã Việt
Thuận và xã Vũ Hội huyện Vũ Thư.
Vũ Chính có diện tích là 558 hecta với dân số ước khoảng 12.700 người gồm
hàng chục dòng họ, trong đó đông nhất là ba họ Nguyễn Xuân (Nguyễn Ngọc),
Phan Văn, Vũ Đình. Mỗi dòng họ có trên dưới 1.000 người. Dân cư sống tập
trung ở thành 3 làng Tống Vũ (phía Đông xã gồm các thôn Tống Vũ, Tây Sơn,
Hòa Hải, Đông Hải, Tống Vũ, tổ dân phố 2, dân số ước tính trên 5.000 người),
làng Tống Văn (phía Tây xã gồm các thôn Tống Văn, Nam Hùng, Trấn Tây,
Quyến, Trung Hòa, Tiên Sơn, tổ dân phố 1, dân số ước tính 7.000 người), làng
Lạc Chính (phía Tây Bắc, đồng thời cũng là thôn Lạc Chính có khoảng 1.000
người). Tổng cộng xã có 12 thôn và 2 tổ dân phố bao gồm các thôn:
1. Tống Văn (xóm 6+7 cũ)
2. Nam Hùng (xóm 8 cũ)
3. Trấn Tây (xóm 9+10 cũ)
4. Quyến (xóm 11 cũ)
5. Trung Hòa (xóm 12 cũ)
6. Lạc Chính (xóm 13 cũ)
7. Tiên Sơn (xóm 14 cũ)
8. Tống Vũ (xóm 5 cũ)
9. Tây Sơn (xóm 4 cũ)
10.Hòa Hải (xóm 3 cũ)
11.Đông Hải (xóm 2 cũ)
12.Vũ Trường (xóm 1 cũ)
13.Tổ dân phố 1 (xóm 15 cũ)
14.Tổ dân phố 2 (gồm 1 bộ phận của xóm 1 và xóm 2 cũ.
16


Xã Vũ Chính gồm 3 làng Tống Vũ, Tống Văn, Lạc Chính. Vùng đất Vũ Chính

đạt 23 triệu/người/năm.
17


Địa bàn xã hiện nay cũng nằm trong quy hoạch xây dựng nhiều cơ quan, doanh
nghiệp của tỉnh
Người dân xã Vũ Chính nổi tiếng với truyền thống thơ ca và tính tếu táo hay
đùa. Chẳng hạn về kinh nghiệm lập gia đình, người thôn Tống Văn có câu:
"Trai đô Tống Vũ, gái mềm cọi khê"
Ngụ ý chọn chồng thì lấy con trai làng Tống Vũ vì sức khỏe (làng Tống Vũ
trước đây chuyên sản xuất gạch). Lấy vợ thì phải xuống làng Cọi Khê (xã Vũ
Hội) vì con gái ở đây đảm đang, giỏi buôn bán.
Tếu táo hơn, người Vũ Chính có câu:
"Hỡi em mặc áo xanh xanh
Có về Vũ Chính quê anh thì về
Quê anh lắm ruộng nhiều nghề
Sáng trồng cải bắp, tối về trồng khoai"
Ngụ ý nói về xã Vũ Chính là địa phương chuyên trồng màu.
Một bài thơ thất truyền khác được cho là của một tác giả người Vũ Chính khi
địa phương có phong trào trồng cà vào những năm 2000
"Bà con toàn thể xã ta Đồng tâm hiệp lực giồng cà dái dê Dái dê to mập dài ghê
Năm sau ta cứ dái dê ta trồng".
3.1.3. Sự thể hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức chính
trị, đoàn thể xã hội trên địa bàn xã.
* Vai trò,nhiệm vụ,chức năng của Hội đồng nhân dân xã vũ chính.
Hội đồng nhân dân xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đồng thời là
cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân ở địa phương.
Hội đồng nhân dân xã quyết định các biện pháp thực hiện kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, an toàn xã hội tại địa phương; quyết định
các biện pháp phát triển hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế; quyết định các biện

triển nông, lâm, ngư nghiệp theo quy định của cấp trên. Tổ chức thực hiện các
biện pháp ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ để phát triển sản xuất, hướng
dẫn nông dân chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cây trồng, vật nuôi trong sản xuất theo
quy hoạch, kế hoạch chung.
- Đào tạo nâng cao trình độ đội ngũ công chức xã và thực hiện chế độ bổ nhiệm
có thời hạn. Tiếp tục đổi mới cải cách hành chính, giảm bớt phiền hà cho người
dân, đẩy mạnh phân cấp và tạo điều kiện cho chính quyền cấp xã hoạt động có
hiệu quả.
Thời cơ và thách thức trên đặt ra vấn đề phải giải quyết đồng bộ có hiệu quả các
vấn đề về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, củng cố phát triển hệ thống chính
trị ở nông thôn tạo cơ sở để thúc đẩy quá trình CNH, HĐH nông nghiệp và nông
thôn, thực hiện thành công mục tiêu đưa nước ta cơ bản thành một nước công
nghiệp vào năm 2020.
* Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã.
Ủy ban Mặt trận tổ quốc xã có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống chính
trị ở cơ sở, có vai trò đoàn kết nhân dân, chăm lo lợi ích của các thành viên, thực
hiện dân chủ và đổi mới xã hội, thực thi quyền và nghĩa vụ của công dân, thắt
chặt mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Với những yêu cầu, nhiệm vụ của quá trình CNH, HĐH, ý thức được vai trò của
mình, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã đã có những nội dung hoạt động phù hợp,
phát động được những phong trào tích cực sản xuất, xóa đói giảm nghèo, xây
dựng nông thôn. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã có vai trò quan trọng trong việc
phối hợp với các tổ chức Đảng và chính quyền cơ sở tham gia tích cực thực hiện
19


các nhiệm vụ về phát triển nông nghiệp, nông thôn; giải quyết những vấn đề cụ
thể để phát triển kinh tế - xã hội như chuyển đổi cơ cấu kinh tế, vấn đề vay vốn,
giống và áp dụng khoa học, kỹ thuật, bảo vệ môi trường, tiêu thụ sản phẩm; tiếp
tục đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân

mang tính gia đình, dòng họ, làng xã vốn có truyền thống lâu đời.
* Hội Cựu chiến binh.
Hội Cựu chiến binh ở xã có chức năng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và
quyền lợi chính đáng của cựu chiến binh ở địa phương. Hội có vai trò tham mưu
giúp cấp ủy Đảng và là lực lượng nòng cốt tập hợp, đoàn kết, vận động cựu
20


chiến binh thực hiện các nhiệm vụ chính trị - xã hội của cách mạng, của Hội;
tham gia giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ
viên chức nhà nước ở địa phương. Hội có các nhiệm vụ: tập hợp, đoàn kết, bồi
dưỡng, động viên cựu chiến binh; tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, chính
quyền, chế độ, thực hiện Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã. tổ chức chăm lo và
giúp đỡ nhau nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, bảo vệ quyền lợi ích chính
đáng và hợp pháp của cựu chiến binh; góp phần giáo dục thế hệ trẻ; tham gia
hoạt động đối ngoại nhân dân.
3.1.4. Các vấn đề xã hội và tình hình thực hiện chính sách xã hội, an sinh xã
hội trên địa bàn xã.
- Trên địa bàn xã vũ chính tệ nạn xã hội diễn biến cũng hết
sức tinh vi và phức tạp, thông qua nhiều phương thức hoạt động khác nhau
mà các cấp, các ngành chức năng khó có thể kiểm soát được.
Hiện nay xã vũ chính đang bước vào quá trình phát triển nền
kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, do vậy mà xã đang đứng
trước những khó khăn và thách thức lớn đó là sự phát triển cao của nền
kinh tế- xã hội đang đạt đến những đỉnh cao mới của văn minh, tệ nạn xã
hội lẽ ra phải ngày càng giảm nhưng trái lại nó vẫn phát triển và biểu hiện
dưới những hình thức đa dạng hơn, khác lạ hơn, khó trị hơn. Từ những
biểu hiện lẻ tẻ, rời rạc, các tệ nạn xã hội trở nên có tổ chức hơn như tệ nạn
ma tuý, mại dâm, cờ bạc…xảy ra liên tiếp làm ảnh hưởng rất lớn đến
đời sống, tâm lý và đe dọa sự sống của người dân ở trong địa phương và xã hội.

giáo dục, truyền thông nâng cao ý thức pháp luật của người dân trên địa
bàn xã .
Trong những năm gần đây ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân
dân từng bước được nâng lên, đồng bào đã có nhiều chuyển biến về mặt nhận
thức, ý thức được vai trò pháp luật đối với cuộc sống của mình. Công tác truyền
thông pháp luật kết hợp với nhiều cơ quan ban ngành khác đã triển khai một
cách nghiêm túc các kế hoạch, hình thức truyền thông phong phú chuyển tải kịp
thời các văn bản pháp luật đến với nhân dân đi vào cuộc sống để nhân dân cảnh
giác tránh xa tội lỗi.
Do một số bộ phận người dân còn khó khăn,mải lao động kiếm sống dẫn đến
không hiểu biết pháp luật là không thể tránh khỏi.. Mặc dù mấy năm gần đây đời
sống kinh tế có phần được cải thiện,song tỷ lệ đói nghèo vẫn còn cao, bên cạnh
đó tệ nạn xã hội như Ma tuý, mại dâm, cờ bạc, mê tín dị đoan và các vi phạm
pháp luật về hôn nhân gia đình, tranh chấp đất đai, vi phạm pháp luật giao thông
chưa giảm. Điều đáng báo động là tình trạng trẻ em chưa thành niên phạm tội
ngày càng nhiều, đặc biệt là các tệ nạn như mại dâm, vi phạm các quy định về
an toàn giao thông, cố ý gây thương tích … Có những đối tượng mặc dù nhận
thức được khá đầy đủ về sự nguy hiểm của hành vi của mình nhưng do hoàn
cảnh khó khăn, bị kích động, xuí giục nên vẫn phạm tội.
Bên cạnh đó việc truyền thông pháp luật lại còn có nhiều hạn chế do kinh
phí còn hạn hẹp, cán bộ còn thiếu, công tác chưa thực sự hiệu quả, ngay cả
những đợt sinh hoạt chính trị, pháp lý có quy mô lớn, có kế hoạch từ trung ương
và có kinh phí hoạt động nhưng việc tổ chức cũng còn nhiều hạn chế dẫn đến
việc thông tin chuyển tải đến người dân quá chậm và không đạt hiệu quả. Tình
hình trên đây đòi hỏi ngành tư pháp cũng như những cơ quan hữu quan khác
phải nghiên cứu, đánh giá một cách khách quan, có cơ sở khoa học về thực trạng
22


phổ biến, giáo dục pháp luật cho phù hợp, có sự phối hợp đồng bộ giữa các

thông, phổ biến giáo dục pháp luật. Chưa xây dựng được chương trình, kế
hoạch, biện pháp truyền thông, phổ biến giáo dục cho phù hợp. Cán bộ, báo cáo
viên của địa phương còn kiêm nhiệm công tác khác nên ít thời gian nghiên cứu
các văn bản pháp luật và đổi mới biện pháp thực hiện, dẫn đến hiệu quả tuyên
23


truyền, phổ biến giáo dục pháp luật chưa cao . Công tác truyền thông thiếu
thường xuyên, không mang tính cập nhật, chỉ làm qua một lần, nội dung ít nhắc
đi nhắc lại nên việc nhận thức về chính sách pháp luật trong quần chúng nhân
dân dẫn đến hạn chế .Vì thế công tác truyền thông phổ biến giáo dục pháp luật
chưa mang lại hiệu quả cao. Các hình thức tổ chức và biện pháp truyền thông
phổ biến pháp luật đến các đối tượng còn nhiều bất cập về hình thức, nội dung,
phương pháp và thời gian, địa điểm truyền thông .
3.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác giáo dục, truyền thông nâng
cao ý thức pháp luật của người dân trên địa bàn xã.
- yếu tố kinh tế : Yếu tố kinh tế hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tổng thể các điều
kiện, hoàn cảnh về kinh tế xã hội, hệ thống chính sách kinh tế, chính sách xã hội
và việc triển khai thực hiện, áp dụng chúng trong lĩnh vực xã hội. Nền kinh tế xã
hội phát triển năng động, bền vững sẽ là điều kiện thuận lợi cho hoạt động thực
hiện pháp luật, tác động tích cực tới việc nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức
pháp luật của tầng lớp xã hội. Ngược lại, nền kinh tế xã hội chậm phát triển,
kém năng động và kém hiệu quả sẽ có thể ảnh hưởng tiêu cực tới việc thực hiện
pháp luật của các chủ thể pháp luật. Yếu tố kinh tế là nền tảng của sự nhận thức
hiểu biết pháp luật và thực hiện pháp luật nên có tác động mạnh mẽ tới hoạt
động thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật.
- yếu tố tâm lý: Truyền thống trọng tình, duy tình của người dân được tạo nên từ
lối sống, từ tập tính sinh hoạt, sản xuất có từ lâu đời đã giúp cho người dân đoàn
kết tạo nên sức mạnh cộng đồng để xây dựng và bảo vệ cộng đồng trước sự khắc
nghiệt của thiên nhiên và các thế lực ngoại xâm, để tồn tại và phát triển và tạo ra

xứng. Chính vì vậy, việc nâng cao trình độ pháp luật cho nhân dân trong địa bàn
xã theo yêu cầu quản lý nhà nước bằng pháp luật hiện nay là vấn đề cấp thiết.Để
nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân trong thời gian tới cần đề ra
một số giải pháp sau đây:
a/. Nâng cao năng lực hoạt động phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp
luật các cấp:
- Tăng cường sự lãnh đạo, quản lý của cấp ủy Đảng, chính quyền đối với hoạt
động của Hội đồng, đặc biệt là giao nhiệm vụ, mục tiêu cụ thể trong từng năm
và cung cấp kinh phí đầy đủ, đảm bảo cho Hội đồng triển khai và hoàn thành
nhiệm vụ của mình.
- Số lượng các văn bản do trung ương và địa phương ban hành quá nhiều, do vậy
Hội đồng các cấp cần phải căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương tổ chức
hoạt động thường xuyên để chuyển tải kịp thời các văn bản đến với nhân dân.
Việc xây dựng tổ chuyên viên có đầy đủ năng lực về pháp luật để tham mưu cho
Hội đồng và trực tiếp triển khai các nhiệm vụ truyền thông, phổ biến đặt ra là
hết sức cần thiết.
b/. Tổ chức điều tra, khảo sát để biết được tình hình trong thực tế về trình độ
hiểu biết pháp luật của nhân dân:
Sự hiểu biết pháp luật của mỗi cá nhân khác nhau, sự hiểu biết đó phụ thuộc vào
nhiều yếu tố như: nghề nghiệp, khu vực sống, trình độ văn hóa, giới tính... Vì
vậy, khảo sát, điều tra thực trạng trình độ hiểu biết pháp luật căn cứ vào các yếu
tố như vậy mới có thể xác định được nhu cầu cụ thể của từng nhóm đối tượng,
25


Trích đoạn Hình thức tuyên truyền: Công tác truyền thông phổ biến giáo dục pháp luật cơ bản đã được triển khai, sự quan tâm đối với pháp luật của người dân, từ chỗ không để ý đến sự tồn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status