Giải pháp nhằm tăng cường thực hành kỹ năng mềm cho sinh viên Thương Mại - Pdf 31

MỤC LỤC
PHIẾU KHẢO SÁT THÔNG TIN VỀ KỸ NĂNG MỀM CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC
THƯƠNG MẠI..........................................................................................................................3


LỜI CẢM ƠN

Chúng em xin chân thành cảm ơn khoa quản trị doanh nghiệp trường đại học
Thương Mại đã tạo điều kiện tốt cho chúng em thực hiện đề tài nghiên cứu này.
Chúng em xin chân thành cám ơn cô Trần Thị Hoàng Hà đã tận tình hướng dẫn
chỉ bảo chúng em trong suốt thời gian thực hiện đề tài này.
Chúng em xin chân thành cám ơn thầy cô trong trường đã tận tình giảng dạy
trang bị cho chúng em kiến thức quý báu trong thời gian qua.
Một lần nữa, chúng tôi xin chân thành cám ơn các bạn sinh viên trong trường
đac giúp đỡ chúng tôi trong quá trình nghiên cứu điều tra phục vụ cho đề tài.
Mặc dù chúng em đã cố gắng hoàn thiện bài nghiên cứu trong phạm vi và khả
năng cho phép nhưng chắc chắn sẽ không thiếu khỏi những thiếu sót. Chúng em kính
mong nhận được sự thông cảm và tận tình chỉ bảo của thầy cô và các bạn.

Nhóm sinh viên thực hiện.
Đinh Thị Phương Liên
Đặng Thị Phương Thảo
Nguyễn Thị Lan


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1.SV

Sinh viên

2.ĐHTM



DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ

Bảng 1: Yêu cầu về kỹ năng đối với sinh viên mới tốt nghiệp phân theo hình thức sở hữu,
ngành, và vị trí tuyển dụng…………………………………………………6 + 7

Biểu đồ 1: Kết quả tự đánh giá của các bạn sinh viên Thương mại về kỹ năng mềm
của bản thân………………………………………………………………............47
Biểu đồ 2: Kết quả đánh giá của sinh viên Thương Mại về mức độ cần thiết của các
kỹ năng trong học tập………………………………………………………...........48
Biểu đồ 3: Kết quả đánh giá của sinh viên Thương Mại về mức độ cần thiết của các
kỹ năng khi đi làm………………………………………………………………..49


CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Thế kỉ 21, thế kỉ của sự phát triển, nâng cao không ngừng của văn hóa, kinh
tế, đất nước. Để có thế bắt kịp đà phát triển của những nước lớn mạnh thì cần sự
chung sức, đồng lòng của tất cả mọi người, mà lực lượng chủ yếu chính là tuổi trẻ.
Bởi tuổi trẻ là lực lượng nòng cốt, là chủ nhân tương lai, là nhân vật chính góp phần
tạo nên cái thế, cái dáng đứng cho Tổ Quốc Việt Nam . Nhất là các bạn sinh viên –
nguồn lao động trí thức góp phần quan trọng phát triển nền kinh tế đất nước. Nhưng
thời gian gần đây, vấn đề đang được xã hội quan tâm và phản ánh đó là phần lớn sinh
viên thiếu kỹ năng mềm.
Một nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Giáo dục cho thấy 83% học sinh thiếu
các kỹ năng mềm, đặc biệt là khả năng tập trung cho hành trang vào đời của mình.
Thậm chí, nhiều người còn phàn nàn giới trẻ thiếu kỹ năng để giữ gìn hạnh phúc gia
đình, kiểm soát bản thân, rèn chỉ số cảm xúc, làm chủ sự thay đổi, làm chủ thời gian

đề tài này
1.2. XÁC LẬP VÀ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ TRONG ĐỀ TÀI
Từ tính cấp thiết của đề tài, nhóm nghiên cứu quyết định nghiên cứu về “giải
pháp nhằm tăng cường thực hành kỹ năng mềm cho sinh viên Thương Mại ”.
Nhóm nghiên cứu sẽ thực hiện làm sáng tỏ: các kỹ năng mềm cần thiết phục vụ trong
cuộc sống, học tập cũng như trong công việc sau này của các sinh viên. Các kỹ năng
(điểm mạnh) mà sinh viên TM có và các kỹ năng mà sinh viên TM còn thiếu và từ đó
đưa ra một số giải pháp hoàn thiện kỹ năng mềm cho sinh viên ĐHTM.
1.3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài này nhằm đạt được các mục tiêu sau:
Thứ nhất: nhận thức về tầm quan trọng của kỹ năng mềm trong cuộc sống,
trong học tập cũng như trong môi trường làm việc sau này của các bạn sinh viên.
Thứ hai: Phân tích và đánh giá thực trạng việc phát triển kỹ năng mềm của
sinh viên Thương Mại hiện nay.
Cuối cùng đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần tăng cường
thực hành kỹ năng mềm cho sinh viên Thương Mại.

2


1.4. CÁC CÂU HỎI ĐẶT RA TRONG NGHIÊN CỨU
Trong khi nghiên cứu đề tài này có một số câu hỏi đặt ra cần giải quyết đó là:
Về mặt lý thuyết: Khái niệm kỹ năng, khái niệm kỹ năng mềm?
Về mặt thực tiễn: kỹ năng mềm cần thiết như thế nào đối với sinh viên và đối
với nhà tuyển dụng? Những kỹ năng mềm cần thiết với mỗi sinh viên? Thực trạng
việc rèn luyện và phát triển kỹ năng mềm của sinh viên Thương Mại trong thời gian
qua? Liệu những kỹ năng mềm mà sinh viên Thương Mại hiện có đã đủ để giúp sinh
viên TM tự tin trong học tập, cuộc sống và trong môi trường làm việc sau này? Giải
pháp nhằm tăng cường thực hành kỹ năng mềm cho sinh viên TM hiện nay là gì?
1.5. PHẠM VI NGHIÊN CỨU.

nào tốt hơn 2 lý thuyết về phản xạ có điều kiện (được hình thành trong thực tế cuộc
sống của cá nhân) và phản xạ không điều kiện (là những phản xạ bẩm sinh mà cá nhân
sinh ra đã sẵn có). Trong đó, kỹ năng của cá nhân gần như thuộc về cái gọi là phản xạ
có điều kiện, nghĩa là kỹ năng được hình thành từ khi một cá nhân sinh ra, trưởng
thành và tham gia hoạt động thực tế cuộc sống. Ví dụ: Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng
quản trị chỉ được hình thành trong hoạt động công việc của một cá nhân.
Bản thân chúng ta sinh ra chưa có kỹ năng về một khía cụ thể nào (trừ kỹ
năng bẩm sinh) nhất là kỹ năng công việc, đó là lý do hình thành hệ thống đào tạo
nghề nghiệp hiện có ở bất kỳ quốc gia nào. Như vậy, đa số kỹ năng mà chúng ta có
được và hữu ích với cuộc sống của chúng ta là xuất phát từ việc chúng ta được đào
tạo. Và như thế, nền tảng của sự thành công của chúng ta trong cuộc sống là do 98 %
là do được đào tạo và tự đào tạo rèn luyện kỹ năng, chỉ có 2 % là kỹ năng bẩm sinh
tham gia vào sự thành công của chúng ta.
Vì sao phải cần có kỹ năng?
Khi tham gia vào bất kỳ hoạt động nghề nghiệp nào phục vụ cho cuộc sống
của chúng ta đều đòi hỏi chúng ta phải thỏa mãn những kỹ năng tương ứng. Ví dụ:
Nghề tư vấn thì tương ứng là nhà tư vấn phải có những kỹ năng tư vấn; nghề luật sư
thì phải có kỹ năng hành nghề luật sư. Như thế bất kỳ hoạt động hay nghề nghiệp nào
mà chúng ta tham gia thì chúng ta đều phải đáp ứng những kỹ năng mà hoạt động hay

4


nghề nghiệp đó đòi hỏi nếu không chúng ta không thể tham gia cuộc chơi.
Có những loại kỹ năng nào?
Có người đã phân loại kỹ năng thành 2 loại cơ bản là kỹ năng cứng và kỹ
năng mềm. Kỹ năng cứng là kỹ năng mà chúng ta có được do được đào tạo từ nhà
trường hoặc tự học, đây là kỹ năng có tính nền tảng. Loại thứ 2 là kỹ năng mềm là loại
kỹ năng mà chúng ta có được từ hoạt động thực tế cuộc sống hoặc thực tế nghề
nghiệp. Kỹ năng mềm là loại kỹ năng cực kỳ phong phú và không kém phần quan

con người như sự tận tâm, tính dễ chịu cũng là những nhân tố dự báo quan trọng đối
với sự thành công trong nghề nghiệp giống như khả năng về nhận thức và kinh
nghiệm làm việc.
Dựa trên kết quả nghiên cứu về “ Yêu cầu của nhà tuyển dụng về những kỹ
năng đối với sinh viên mới tốt nghiệp các ngành quản lý – kinh tế : Ứng dụng phương
pháp phân tích nội dung “ của TS. Vũ Thế Dũng –Trần Thanh Tòng(Khoa Quản Lý Công
Nghiệp – Đại Học Bách Khoa Tp.HCM), nghiên cứu chỉ ra rằng :
Bảng 1: Yêu cầu về kỹ năng đối với sinh viên mới tốt nghiệp phân theo hình thức sở
hữu, ngành, và vị trí tuyển dụng
Stt

Kỹ năng

Toàn

Theo hình thức sở hữu

mẫu

Ngành

Theo vị trí tuyển dụng
Sản
xuất –

Nước
ngoài

TNHH


Ngoại ngữ

78%

91%

69%

89%

68% 76% 80% 80% 81%

79%

79%

2

Tin họcvăn phòng

65%

68%

68%

70%

53% 62% 68% 57% 74%


30%

30%

25% 28% 31% 30% 33%

30%

24%

19%

19%

25%

11%

10% 16% 21% 23% 29%

13%

10%

Nhóm 2: Giá trị gia
tăng
5

Tổ chức



22%

27% 14% 21% 17%

4%

25%

24%

8

Làm việcnhóm

15%

18%

8%

30%

15% 13% 17% 22% 17%

10%

17%

Tin họcchuyên ngành 14%

18%

14%

11

Hoạchđịnh

13%

9%

13%

15%

17% 9% 15% 12% 14%

13%

10%

12

Đàm phán

13%

18%


16%

5%

14

Lãnh đạo

5%

3%

6%

0%

8% 5% 5%

7%

4%

3%

2%

5%

5%


0%

3%

3%

4%

0%

2% 2% 4%

2%

3%

4%

2%

trên một vị trí tuyển 3.63

3.82

3.45

3.70

3.67 3.4 3.8



7


Giao tiếp xã hội giữa con người và con người đã góp phần tạo nên những
truyền thống, nghi thức, quy tắc đạo đức, giá trị, chuẩn mực xã hội, và cả luật pháp. Tất cả

cùng nhau tạo nên những nền tảng của xã hội loài người. Có thể nói giao tiếp xã hội là
một trong những thuộc tính đặc biệt và duy nhất giúp loài người khác biệt so với các sinh
vật khác. Đó là sự tương tác giữa con người với con người với một cá nhân, tập thể, một cộng
đồng. Có thể nói con người không thể sống mà thiếu đi sợi dây liên kết với xung quanh.
Ngày nay khi công nghệ thông tin càng phát triển thì việc tạo ra sự kết nối ngày càng mở
rộng. Điều đó làm cho sự tương tác của con người với con người không chỉ theo chiều rộng
mà còn phát triển theo cả chiều sâu. Do đó ngoài các kỹ năng giao tiếp con người còn phải
chuẩn bị cho mình rất nhiều kỹ năng như: kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng tư duy sáng tạo,
kỹ năng học và tự học, kỹ năng lãnh đạo bản thân…..Kỹ năng mềm cần thiết cho tất cả mọi
người từ nam đến nữ, người già người trẻ , cho dù bạn vẫn còn ngồi trên ghế nhà trường hay
bạn đã đi làm . Với các bạn sinh viên, việc học tập trau dồi kỹ năng mềm lại càng quan
trọng . Khi trở thành sinh viên, môi trường thay đổi . Khi còn là một học sinh , chúng ta chỉ
biết học thế nào cho giỏi , để đậu vào đại học . Được bố mẹ lo lắng chu đáo cho từng cái ăn
cái mặc, cho nên chúng ta cũng không mấy quan tâm đến thế giới bên ngoài . Nhưng khi trở
thành một sinh viên lại khác , chúng ta phải tự học , làm quen với cuộc sống tự lập , nhất là
các bạn sinh viên đi học xa nhà . Sinh viên phải làm quen với cuộc sống mới , với những con
người mới đến từ các vùng miền khác nhau .
Không chỉ làm quen với cuộc sống mới mà các bạn còn phải làm quen với phương
pháp học tập mới. Nếu như các bạn vẫn áp dụng phương pháp học tập như phổ thông đến lớp
nghe thầy cô giáo giảng, ghi chép bài, và chỉ học tập và làm bài theo đúng những yêu cầu của
thầy cô giáo đưa ra, không có bất kỳ sự sáng tạo nào khác trong học tập thì việc học như vậy
ở đại học của bạn sẽ không mang lại cho bạn kết quả học tập cao như bạn mong muốn. Để
đạt được kết quả học tập cao trong trường đại học ngoài việc lắng nghe thầy cô giáo giảng,

nhanh chóng và thuận lợi
Trong quá trình tuyển dụng:
Hầu hết các nhà quản lý và nhà tuyển dụng đều than phiền nhân viên trẻ thiếu
và rất yếu về kỹ năng mềm, đa số không đáp ứng được yêu cầu công việc dù họ có
bằng cấp rất tốt.
Một nghiên cứu khác của L&A cho thấy, khoảng 70% sinh viên ra trường khó
xin việc vì không có kinh nghiệm và thiếu các kỹ năng cần thiết. Cơ hội tìm được
công việc thích hợp, lương cao, môi trường tốt ở các công ty lớn hay tập đoàn nước
ngoài là khá xa vời. Ở các công ty, tập đoàn có bề dày hoạt động lâu năm và tổ chức
hoàn chỉnh, việc một nhân viên thiếu kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm, kỹ năng
thuyết trình, nói chuyện trước đám đông, kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng làm chủ bản
thân…là hạn chế khiến họ khó có thể hòa đồng và tồn tại lâu.
9


Ví dụ: Intel từng thất vọng khi tuyển 2.000 nhân viên cho dự án đầu tư vào
Việt Nam nhưng chỉ có 40 ứng viên đủ trình độ kiến thức lẫn kỹ năng mềm. 40 ứng
viên này không dễ tuyển vì các ứng viên hầu như không nhận thức được thế mạnh bản
thân, hoặc biết nhưng không thể hiện được khả năng nổi trội của mình và thường bối
rối khi nói về bản thân. Một ví dụ khác: Trong một buổi phỏng vấn tuyển dụng vào công ty
A, đang trao đổi về nghiệp vụ kinh doanh, nhà tuyển dụng bỗng bất ngờ hỏi câu hỏi chẳng ăn
nhập gì với công việc đang tuyển, ví dụ: “Theo em, khi phi một con dao vừa dùng để phết bơ
thì mặt nào sẽ tiếp đất, mặt phết bơ hay không phết bơ?”. Thật ra, ý đồ của các nhà tuyển
dụng qua những câu hỏi “vu vơ” là nhằm kiểm tra kỹ năng mềm của các ứng viên. Sẽ không
có đáp án cụ thể nào cho câu hỏi này mà ứng viên phải thuyết phục được nhà tuyển dụng tin
vào đáp án của mình. “Chính vì vậy, việc học và đào tạo kỹ năng mềm cần được xem là vấn
đề được quan tâm đặc biệt”, ông Đức lưu ý.
Từ các ví dụ trên ta có thể thấy thực trạng tuyển dụng hiện nay các doanh nghiệp
không chỉ quan tâm đến bằng cấp,kỹ năng chuyên môn của các ứng viên mà kỹ năng mềm là
một yếu tố quan trọng tác động đến quyết định tuyển dụng của doanh nghiệp.

năng giao tiếp, trí tuệ tình cảm và đức tính, giá trị cá nhân khác là những kỹ năng mềm không
thể thiếu để bạn phát triển nghề nghiệp. Với các kỹ năng mềm, bạn có thể phát triển thành
một người lãnh đạo. Giải quyết vấn đề, phân quyền, xây dựng đội nhóm sẽ dễ dàng hơn cho
bạn nếu bạn có kỹ năng mềm tốt. Làm thế nào để hài hòa với mọi người và thể hiện một thái
độ tích cực đó là điều cốt lõi cho thành công của bạn.
Khoảng trống kỹ năng:
Khi lực lượng lao động của công ty có rất nhiều kỹ năng chuyên môn nhưng lại
thiếu các kỹ năng mềm, như vậy là có khoảng trống. Các kỹ năng mềm đồng hành cùng các
kỹ năng cứng và chính nó giúp cho các kỹ năng cững được phát huy đến hết mức. Chẳng hạn
nếu bạn rất giỏi kiếm khách hàng, nhưng lại không giỏi để giữ họ, vậy là có khoảng trống kỹ
năng. Nếu công ty bạn có tỷ lệ nhân viên bỏ việc cao trong khi lại phải giữ những người đã
quen

việc,

chắc

chắn

đó





khoảng

cách

kỹ

con người đang có và đang phát huy tác dụng trong tổ chức của bạn. Những kỹ năng này sẽ
có tác động lớn đến thái độ mà một người sẽ thể hiện ra trong giao tiếp với đồng nghiệp,
khách hàng, người quản lý giám sát cũng như với các đối tác liên quan đến tổ chức. Thái độ
của một người tích cực bao nhiêu, mối quan hệ cá nhân của người đó tốt bấy nhiêu. Điều này
sẽ thúc đẩy mãnh liệt hiệu quả đội nhóm và nhờ đó nó định hướng dẫn dắt các cá nhân đóng
góp mạnh mẽ hơn vào tầm nhìn, chiến lược của tổ chức.
Kỹ năng mềm đang ngày càng quan trọng như kỹ năng cứng trong lực lượng lao
động ngày nay. Chỉ thuần túy được đào tạo tốt về kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn là chưa đủ
nếu không được phát triển các kỹ năng mềm, kỹ năng quan hệ con người, xây dựng đội nhóm
giúp người ta giao tiếp, tương tác và hợp tác với nhau hiệu quả hơn. Những kỹ năng con
người này đang trở nên thiết yếu hơn bao giờ hết với các tổ chức trong bối cảnh phải tìm ra
các cách có ý nghĩa để duy trì sức cạnh tranh và năng suất lao động. Mỗi kỹ năng mềm đều
thiết yếu đối với sự phát triển cá nhân cũng như thành công của tổ chức, phát triển chúng
đóng một vai trò quan trọng và thực sự rất cần thiết.
2.2.2. Các kỹ năng mềm cần thiết.
Kỹ năng năng mềm cần thiết cho mỗi con người để thành công trong công việc và
cuộc sống?
Tại Mỹ, Bộ Lao động Mỹ (The U.S. Department of Labor) cùng Hiệp hội Đào tạo
và Phát triển Mỹ (The American Society of Training and Development) gần đây đã thực hiện
một cuộc nghiên cứu về các kỹ năng cơ bản trong công việc. Kết luận được đưa ra là có 13
kỹ năng cơ bản cần thiết để thành công trong công việc:
1.

Kỹ năng học và tự học (learning to learn)

2.

Kỹ năng lắng nghe (Listening skills)

3.


skills)

10. Kỹ năng làm việc đồng đội (Teamwork)
11. Kỹ năng đàm phán (Negotiation skills)
12. Kỹ năng tổ chức công việc hiệu quả (Organizational effectiveness)
13. Kỹ năng lãnh đạo bản thân (Leadership skills)
Năm 1989, Bộ Lao động Mỹ cũng đã thành lập một Ủy ban Thư ký về Rèn luyện
các Kỹ năng Cần thiết (The Secretary’s Commission on Achieving Necessary Skills SCANS). Thành viên của ủy ban này đến từ nhiều lĩnh vực khác nhau như giáo dục, kinh
doanh, doanh nhân, người lao động, công chức… nhằm mục đích “thúc đẩy nền kinh tế bằng
nguồn lao động kỹ năng cao và công việc thu nhập cao”. ( />
Tại Úc, Hội đồng Kinh doanh Úc (The Business Council of Australia - BCA) và
Phòng thương mại và công nghiệp Úc (the Australian Chamber of Commerce and Industry ACCI) với sự bảo trợ của Bộ Giáo dục, Đào tạo và Khoa học (the Department of Education,
Science and Training - DEST) và Hội đồng giáo dục quốc gia Úc (the Australian National
Training Authority - ANTA) đã xuất bản cuốn “Kỹ năng hành nghề cho tương lai” (năm
2002). Cuốn sách cho thấy các kỹ năng và kiến thức mà người sử dụng lao động yêu cầu bắt
buộc phải có. Kỹ năng hành nghề (employability skills) là các kỹ năng cần thiết không chỉ để
có được việc làm mà còn để tiến bộ trong tổ chức thông qua việc phát huy tiềm năng cá nhân
và đóng góp vào định hướng chiến lược của tổ chức. Các kỹ năng hành nghề bao gồm có 8
kỹ năng như sau:
1.

Kỹ năng giao tiếp (Communication skills)

2.

Kỹ năng làm việc đồng đội (Teamwork skills)

3.


kỹ năng cần thiết đối với người lao động. Conference Board of Canada là một tổ chức phi lợi
nhuận của Canada dành riêng cho nghiên cứu và phân tích các xu hướng kinh tế, cũng như
năng lực hoạt động các tổ chức và các vấn đề chính sách công cộng. Tổ chức này cũng đã có
nghiên cứu và đưa ra danh sách các kỹ năng hành nghề cho thế kỷ 21 (Employability Skills
2000+) bao gồm các kỹ năng như:
1.

Kỹ năng giao tiếp (Communication)

2.

Kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem solving)

3.

Kỹ năng tư duy và hành vi tích cực (Positive attitudes and behaviours)

4.

Kỹ năng thích ứng (Adaptability)

5.

Kỹ năng làm việc với con người (Working with others)

6.

Kỹ năng nghiên cứu khoa học, công nghệ và toán (Science, technology and

mathematics skills)

Kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (Information and

communication technology)
5.

Kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem solving)

6.

Kỹ năng làm việc với con người (Working with others)

Chính phủ Singapore có Cục phát triển lao động WDA (Workforce Development
Agency) WDA đã thiết lập hệ thống các kỹ năng hành nghề ESS (Singapore Employability
Skills System) gồm 10 kỹ năng ( />1.

Kỹ năng công sở và tính toán (Workplace literacy & numeracy)

2.

Kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (Information &

communications technology)
3.

Kỹ năng giải quyết vấn đề và ra quyết định (Problem solving & decision

4.

Kỹ năng sáng tạo và mạo hiểm (Initiative & enterprise)


người ta sẽ làm được”. Và vì vậy họ cứ cố dạy cho học sinh, sinh viên thật nhiều kiến thức
hòng làm được việc khi ra trường. Nhưng thực tế đâu có vậy, từ biết đến hiểu là một khoảng
cách rất xa, và từ hiểu đến làm việc chuyên nghiệp với năng suất cao là một khoảng cách còn
xa hơn nữa. Điều này dẫn đến một thực trạng là sinh viên khi ra trường biết nhiều kiến thức
nhưng lại không có khả năng làm việc cụ thể. Chỉ vài năm gần đây, các phương tiện thông tin
đại chúng mới nhắc nhiều đến cụm từ “kỹ năng” và “kỹ năng mềm”. Chúng ta tự hào về
nguồn lao động dồi dào. Nhưng đó mới chỉ là số lượng. Chất lượng lao động mới là vấn đề
đáng bàn. Theo bà Nguyễn Thị Hằng (nguyên Bộ trưởng Bộ Lao Động, Thương Binh & Xã
Hội, Chủ tịch hội dạy nghề Việt Nam), hiện nay, Việt Nam còn đến hơn 50% lao động trong
tổng số hơn 10 triệu lao động chưa qua đào tạo cơ bản chính quy, mà chủ yếu là vừa học vừa
làm hoặc làm những công việc đơn giản. Điều đó cho chúng ta thấy bức tranh tổng thể về kỹ
năng nghề nghiệp của lực lượng lao động không có gì là sáng sủa cho lắm và còn nhiều việc
phải làm để có một bức tranh tươi sáng hơn. Điều tối thiểu phải biết (nhưng lại không phải ai
cũng biết), là xã hội bây giờ sử dụng sản phẩm dùng được, chứ không sử dụng khả năng hay
bằng cấp của con người. Bạn không có kỹ năng đánh máy, thì có thuộc lòng 10 quyển sách
về Microsoft Office cũng vô nghĩa. Bạn không thiết kế nổi một cái nhà bình thường 3 tầng,
thì có tốt nghiệp xuất sắc trường Kiến trúc cũng vô nghĩa.
Tổng hợp các nghiên cứu của các nước và thực tế Việt Nam, dưới góc độ của người
nghiên cứu đề tài thấy rằng 10 kỹ năng sau là căn bản và quan trọng hàng đầu cho người lao
động trong thời đại ngày nay:
1.

Kỹ năng học và tự học (Learning to learn)

2.

Kỹ năng lãnh đạo bản thân và hình ảnh cá nhân (Self leadership & Personal

branding)
3.

10. Kỹ năng đàm phán (Negotiation skills)
Như vậy ngoài những kiến thức chuyên môn, người lao động cần phải được trang bị
thêm các kỹ năng hành nghề để đảm bảo có được việc làm mà còn để tiến bộ trong tổ chức
thông qua việc phát huy tiềm năng cá nhân và đóng góp vào định hướng chiến lược của tổ
chức góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Lâu nay chúng ta chỉ nghĩ đến xuất khẩu lao động, nhưng một thực tế mới đang
thách đố người lao động Việt Nam là trong thời kỳ khủng hoảng người nước ngoài đang đến
tranh chỗ làm việc của ta. Chúng ta có thể bị thua ngay trên sân nhà. Rõ ràng 10 kỹ năng
mềm thiết yếu này không những chỉ giúp người lao động nâng cao năng suất, hiệu quả công
việc mà thực chất là giúp ích rất nhiều trong mọi khía cạch cuộc sống ở gia đình ngoài xã hội
tại công sở, nâng cao đáng kể chất lượng cuộc sống và văn hóa xã hội, góp phần thay đổi
diện mạo con người Việt Nam.
(1) Kỹ năng học và tự học

Nhẩm tính sơ lược, ở cấp học phổ thông, mỗi học trò phải đọc trên 60 quyển
sách. Bốn năm đại học, mỗi sinh viên phải học và đọc trung bình trên 100 quyển sách.
Với những con số biểu tượng cho sự khổng lồ của kiến thức trong cuộc đời đi học,
mỗi học trò, mỗi con người cần tìm cho mình những công cụ, phương pháp, mà quan
trọng nhất là kỹ năng học và tự học để lãnh hội hết những kiến thức chuyên môn dành
cho mình.
Nhiều sinh viên cho rằng chỉ cần cố gắng học là có thể đạt kết quả tốt, nhưng
học ở đại học khác với học ở trung học rất nhiều, và biết cách học có hiệu quả ở đại
học là một điều quan trọng mà có khi chưa được chú ý đúng mức. Nếu như các bạn
sinh viên vẫn tin rằng chỉ cần chăm chỉ học tập sẽ đạt kết quả tốt thì suy nghĩ đó sẽ
làm cho các bạn thất vọng trong học tập. Nếu như các bạn sinh viên vẫn không có sự
sáng tạo trong học tập, không có phương pháp học tập hiệu quả cho riêng bản thân
mình, các bạn sẽ khó tìm thấy một sự thành công trong học tập cũng như trong cuộc
sống. Hệ quả của phương pháp học không tốt sẽ là lãng phí thời gian, thành tích học
tập kém, thậm chí thi rớt dẫn đến chán nản, thất vọng và bất mãn. Học đối với sinh
viên là cuộc sống, là tương lai. Có một phương pháp học tập tốt và sáng tạo cho chính

mình chiến thắng sự yếu kém, buồn chán, cám dỗ... để thực hiện những mục tiêu lâu
dài mà mình đã đặt ra. Có bạn cho rằng, để lãnh đạo bản thân, quan trọng nhất là phải
rèn được ý chí và quan niệm sống đúng đắn. Bạn khác thì chia sẻ kinh nghiệm: “Chỉ
cần đặt ra nguyên tắc sống đúng đắn và tuân thủ theo những nguyên tắc đó thì đã
chiến thắng được chính mình”. Lãnh đạo bản thân giúp con người khám phá thế giới

18


bên trong để hiểu mình hơn. Từ những nhận thức đúng đắn về mình sẽ giúp bản thân
có thể xây dựng cho mình kế hoạch hành động nhằm đạt được những mục tiêu và ước
mơ trong cuộc sống. giúp con người tư duy tích cực hơn để sống tự tin, hạnh phúc và
thành đạt.
(3) Kỹ năng tư duy sáng tạo và mạo hiểm
Kỹ năng tư duy sáng tạo và mạo hiểm bao gồm trong nó nhiều kỹ năng. Đầu
tiên phải kể tới kĩ năng thường được gọi là "khả năng liên kết". Nó thuộc dạng kĩ năng
có được sau quá trình tích lũy kinh nghiệm, cho phép một số người có khả năng sáng
tạo hình thành những mối liên kết giữa những câu hỏi, vấn đề hay các ý tưởng dường
như chẳng có mối liên quan nào. Kế đến phải kể tới là kĩ năng đặt câu hỏi - những câu
hỏi mang tính thách thức tình thế hiện tại và mở ra một bức tranh rộng lớn hơn như
"Tình hình sẽ như thế nào nếu...", "Tại sao...", "Tại sao lại không...". Nằm thứ ba
trong danh sách này là khả năng nhìn thấu các tiểu tiết, đặc biệt là về hành vi, lối ứng
xử của con người. Ngoài ra, khả năng trải nghiệm cũng là một yếu tố cấu thành thiết
yếu.Và cuối cùng, những người đột phá thành công thường thực sự giỏi trong việc xây
dựng mối quan hệ với những người ít nhiều có nét tương đồng với họ và chắc chắn có
gì đó để họ học hỏi.
Kết quả tìm kiếm cho thấy 15% các CEO thực sự rất sáng tạo, nói cách khác
những người này đều từng cho ra đời một sản phẩm mới hay khởi đầu một vụ đầu tư
mạo hiểm. Tuy nhiên, vấn đề nằm ở chỗ dù một người có sáng tạo đến đâu thì họ vẫn
thường ít nhiều tỏ ra cẩn trọng trong việc đặt câu hỏi do sợ trông ngốc nghếch hoặc

chức xã hội, chính trị, chính trị - xã hội nhằm nâng cao hiệu quả làm việc của cá nhân
hay tập thể. Ở các trường trung học của các nước phát triển, một số phương pháp quan
trọng như tập kích não, giản đồ ý cũng đã được áp dụng cho học sinh biết cách áp
dụng dưới dạng thô sơ; đồng thời cũng đã có nhiều cơ sở giáo dục tư thục giảng dạy
các chuyên đề về phương pháp tư duy sáng tạo cho học viên mọi lứa tuổi.
(4) Kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc
Việc nhà, việc cơ quan, xã hội, có quá nhiều việc cần làm và con người hiện
đại dường như không đủ thời gian để cân bằng cuộc sống. Ai cũng có hàng núi công
việc phải giải quyết nhưng số người cảm thấy hoàn thiện và thoả mãn là rất ít. Không
có gì đáng chán hơn cảm giác bạn đã làm việc cật lực nhưng chẳng có gì mà mình
thực sự muốn. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là do mọi người không có kế hoạch
và các quy trình rõ ràng. Thay vì nhận diện các mục tiêu cụ thể, các sự kiện quan
trọng và các ước mơ, con người thường trải qua một ngày với các công việc rời rạc và

20


không mấy quan trọng. Ngày kết thúc theo cách nhàm chán và tiêu tốn nhiều năng
lượng, đồng thời làm gia tăng cảm giác chán nản, xa rời mục tiêu ban đầu. Vì thế rất ít
người đạt được một cuộc sống cân bằng thực sự.
Khi được hỏi: “Bạn dự định sau này sẽ làm gì?”, các bạn trẻ thường trả lời:
“Tôi sẽ làm chủ một doanh nghiệp, sẽ làm một diễn giả, muốn thành đạt, muốn cống
hiến…”. Nhưng đa phần các bạn lại chưa hề có một kế hoạch rành mạch để hiện thực
hóa dự định đó. Các bạn đang cần kỹ năng lập kế hoạch. Nguyên nhân của việc không
chú ý hoặc không thể xác định được kế hoạch cho mình là do các bạn trẻ thiếu mục
tiêu hoặc những mục tiêu ấy là mơ hồ. Khi bạn đã đặt mục tiêu dù ngắn hạn hay dài
hạn cho mình như sẽ thành một chủ doanh nghiệp, sẽ là một lập trình viên phần mềm, là
nhà nghiên cứu khoa học, nhà hoạt động xã hội … để có thể cống hiến, đóng góp
được nhiều cho xã hội thì bạn cần phải có một kế hoạch rành mạch từng bước để thực
hiện. Một kế hoạch được chuẩn bị kĩ lưỡng và được cập nhật, chỉnh sửa thường xuyên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status