BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HỒ THỊ HẢI
GIÁO DỤC TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC
HỒ CHÍ MINH CHO HỌC SINH TRUNG
HỌC CƠ SỞ THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN
GIÁO DỤC CÔNG DÂN
(Qua khảo sát ở trường Trung học cơ sở Diễn Phú,
huyện Diễn Châu, Tỉnh Nghệ An)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2013
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HỒ THỊ HẢI
GIÁO DỤC TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC
HỒ CHÍ MINH CHO HỌC SINH TRUNG
HỌC CƠ SỞ THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN
GIÁO DỤC CÔNG DÂN
(Qua khảo sát ở trường Trung học cơ sở Diễn Phú,
huyện Diễn Châu, Tỉnh Nghệ An)
không thể tránh những thiếu sót và hạn chế. Rất mong nhận được sự góp ý và
chỉ dẫn của quý thầy cô.
Nghệ An, tháng 10 năm 2013
Học viên
Hồ Thị Hải
3
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN........................................................................................................2
MỤC LỤC.............................................................................................................3
DANH MỤC CHỮVIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN.............................................6
A. MỞĐẦU............................................................................................................7
1. Tính cấp thiết của đề tài.................................................................................7
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề...............................................................................9
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu....................................................................10
4. Phương pháp nghiên cứu...............................................................................11
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu..................................................................11
6. Giả thiết khoa học..........................................................................................11
7. Ý nghĩa đề tài...................................................................................................12
8. Kết cấu đề tài.................................................................................................12
B. NỘI DUNG.....................................................................................................13
Chương 1 CƠSỞLÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC TƯTƯỞNG
ĐẠO ĐỨC HỒCHÍ MINH CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠSỞTHÔNG QUA
DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN..........................................................13
1.1. Cơ sở lý luận của việc giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh cho học
sinh Trung học cơ sở thông qua dạy học môn Giáo dục công dân..................13
1.1.1 Khái niệm về đạo đức và giáo dục đạo đức............................................13
1.1.1.1 Khái niệm về đạo đức...........................................................................13
vậy có thể nói đạo đức của người Trung Quốc cổ đại có nghĩa là những yêu
cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà mỗi người phải noi theo........14
Ngày nay đạo đức được định nghĩa như sau: “Đạo đức là một hình thái ý thức
xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều
chỉnh cách đánh giá và cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và
quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi sức mạnh
của truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội”[37, 1]..............................14
Từ định nghĩa trên chúng ta có thể hiểu:...........................................................14
Đạo đức với tư cách là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội,
phản ánh hiện thực đời sống đạo đức xã hội....................................................14
Xã hội trước Mác không thể giải quyết một cách khoa học vấn đề nguồn gốc
và thực chất của đạo đức. Nó xuất phát từ “mệnh lệnh của thượng đế”, “ý
niệm tuyệt đối, lí tính trừu tượng”, bản chất bất biến của loài người,...chứ
không xuất phát từ điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, từ quan niệm xã
hội hiện thực để suy ra các toàn bộ lĩnh vực tư tưởng trong đó có tư tưởng đạo
đức......................................................................................................................14
Đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi của con người. Loài người đã
sáng tạo ra nhiều phương thức điều chỉnh hành vi của con người: phong tục,
tập quán, tôn giáo, pháp luật, đạo đức...Đối với đạo đức, sự đánh giá hành vi
của con người theo khuôn phép chuẩn mực và quy tắc đạo đức biểu hiện
thành những khái niệm thiện và ác, vinh và nhục, chính nghĩa và phi nghĩa.
Bất kì trong thời đại lịch sử nào, người ta cũng đều được đánh giá như vậy.
Các khái niệm thiện ác, khuôn phép, quy tắc hành vi của con người được thay
đổi từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, từ dân tộc này sang dân tộc khác. Và
trong xã hội có giai cấp thì bao giờ cũng biểu hiện lợi ích của một giai cấp
nhất định. Những khuôn phép (chuẩn mực) và quy tắc đạo đức là yêu cầu của
xã hội hoặc của một giai cấp nhất định đề ra hành vi cho mỗi cá nhân. Nó bao
gồm hành vi của cá nhân đối với xã hội (đối với tổ quốc, đối với nhà nước, giai
cấp mình và giai cấp đối địch...) và đối với người khác. Những chuẩn mực và
quy tắc đạo đức nhất định được công luận của xã hội, hay một giai cấp, dân tộc
học sinh Trung học cơ sở thông qua dạy học môn Giáo dục công dân ..........94
Kết luận chương 3............................................................................................109
C. KẾT LUẬN....................................................................................................111
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................................113
E. PHỤ LỤC
6
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BGH
:
Ban giám hiệu
CB-NV
:
Cán bộ, nhân viên
CT/TW
:
Chỉ thị Trung ương
CTQG
:
Học sinh
Nxb
:
Nhà xuất bản
QĐ
:
Quyết định
SGK
:
Sách giáo khoa
TLTK
:
Tài liệu tham khảo
TLN
:
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người con ưu tú của dân tộc Việt Nam. Cả
cuộc đời của Người đã hiến trọn cho sự nghiệp giải phóng và thống nhất đất
nước. Người để lại cho thế hệ sau những di sản to lớn đến hôm nay vẫn còn
nguyên giá trị, trong đó phải kể đến tư tưởng đạo đức, là những giá trị nhân
văn hết sức to lớn mà chúng ta tự hào được học và lĩnh hội. Do đó việc học
tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là nội dung thiết thực cho
toàn Đảng, toàn dân, cho cả mọi tầng lớp trong xã hội trong đó đặc biệt là thế
hệ thanh thiếu niên nhi đồng.
Đạo đức mà Người đề cập đến rất toàn diện. Bác nêu yêu cầu đạo đức
đối với các giai cấp, tầng lớp và các nhóm xã hội, trên mọi lĩnh vực hoạt
động, trong mọi phạm vi, từ gia đình đến xã hội, trong cả ba mối quan hệ: với
mình, với người và với công việc.
Với ý nghĩa trên nên trong quá trình dạy học, dễ lồng ghép tư tưởng của
Người. Đặc biệt là đối với môn GDCD. Làm thế nào để những “mầm xanh”
được “phát triển tốt và khoẻ” thì đất nước sẽ có sự biến chuyển nhanh, mạnh
tiến kịp với các cường quốc năm châu như Bác Hồ từng mong muốn?
Từ đó đặt ra yêu cầu cấp thiết trong sự nghiệp giáo dục, trong đó đề cập
đến việc giáo dục đạo đức cho học sinh trong các nhà trường phổ thông nói
chung. Công tác giáo dục đạo đức trở thành mối quan tâm của toàn xã hội, là
chiến lược hàng đầu vì sự phát triển của con người và của xã hội. Để công tác
giáo dục đạo đức đem lại hiệu quả thiết thực, rất cần sự phối hợp một cách
đồng bộ của các môi trường: gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó nhà
trường đóng vai trò quan trọng. Trong các môn học ở trường, GDCD là môn
học trực tiếp giáo dục đạo đức, chuẩn mực, lối sống cho các em học sinh dựa
trên những chuẩn mực của xã hội. Để kích thích các em có ý thức phấn đấu
8
thực hiện những chuẩn mực cũng như biến các chuẩn mực được học thành
Nghệ An) làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình với mong muốn góp một
phần nhỏ bé của mình trong công tác dạy học và giáo dục đạo đức cho học
sinh THCS.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là đề tài được nghiên cứu trong nhiều
năm gần đây với nhiều thể loại phong phú và đa dạng của nhiều tác giả: TS
Nguyễn Lương Bằng, Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp truyền thống và hiện
đại trong giáo dục và đào tạo, In trong sách: Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự
nghiệp đổi mới ở nước ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003; Văn Thị
Thanh Mai, Góp phần tìm hiểu tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh, Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội 2007. Thành Dung Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996; Phạm Ngọc Liên - Nguyễn An, Hồ
Chí Minh với Giáo dục - đào tạo (tập 1), Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội,
2003. Hoàng Bình Quân “Tuổi trẻ học tập và hành động theo tư tưởng Hồ
Chí Minh”, tạp chí Tư tưởng văn hóa, số 07, tr. 13 - 17; Hoàng Trung, “Vì
sao Hồ Chí Minh lại đặc biệt chú trọng đến vấn đề đạo đức”, tạp chí Triết
học, Số 04, tr. 19-20, 2000;… Những công trình nghiên cứu đó đều tập trung
đề cập đến tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh, trong đó chú trọng đến việc
giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ.
Có thể nói có rất nhiều đề tài thạc sỹ nghiên cứu về giáo dục tưởng đạo
đức Hồ Chí Minh, như: Vận dụng tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh vào giáo dục
đạo đức cho học sinh trường Trung cấp Kinh tế kỹ thuật công nghệ Việt Hàn
(Nghệ An) của Hồ Thị Bích Ngọc; Tích hợp tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
cách mạng trong dạy học phần: “Công dân với đạo đức” GDCD 10 của
Nguyễn Văn Hậu; Giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh cho sinh viên
trường cao đẳng sư phạm kỹ thuật trong giai đoạn hiện nay của Nguyễn Văn
Tâm; Vận dụng quan điểm Hồ Chí Minh về cần, kiệm, liêm, chính, chí, công vô
tư trong giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Nguyễn Đình Chiểu,
11
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục tư tưởng
đạo đức Hồ Chí Minh cho học sinh THCS thông qua dạy học môn GDCD.
4. Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý thuyết và thực tiễn, đề tài chủ yếu sử dụng phương
pháp nghiên cứu khoa học sau đây:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp
- Phương pháp khảo sát và điều tra xã hội học
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và việc vận
dụng vào trong quá trình dạy học môn GDCD bậc THCS ở trường THCS
Diễn Phú, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài luận văn nghiên cứu tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh tập
trung ở 4 nội dung lớn sau:
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh về:
Trung với nước, hiếu với dân
Yêu thương con người, sống có tình nghĩa
Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư
Tinh thần quốc tế trong sáng
Từ những phẩm chất đạo đức trên, vận dụng vào quá trình dạy học môn
GDCD ở trường THCS Diễn Phú, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An để giáo
dục tư tưởng đạo đức cho học sinh.
6. Giả thiết khoa học
Nếu công tác giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh cho học sinh
THCS thông qua dạy học môn GDCD ở trường THCS Diễn Phú, huyện
và làm thước đo để đánh giá nhân cách con người. Đối với giai cấp thống trị,
các giá trị chuẩn mực đạo đức được xem là một trong những những công cụ
đắc lực và hữu hiệu nhất để cai trị đất nước, giữ vững nền thống trị của giai
cấp mình và nó trở thành nền tảng, cơ sở vững chắc cho việc xây dựng, phát
triển đất nước.
Khái niệm về đạo đức xuất hiện đầu tiên ở thời nhà Chu và từ đó trở đi
được người Trung Quốc sử dụng nhiều. Đức dùng để nói đến nhân đức, đức
tính và nhìn chung đức là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa, là nguyên tắc luân
lí. Như vậy có thể nói đạo đức của người Trung Quốc cổ đại có nghĩa là
những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà mỗi người phải noi
theo.
Ở phương Tây, từ thời cổ đại con người đã đưa ra những tiêu chí để đánh
giá người có đạo đức. Một cá nhân được cộng đồng thừa nhận hoặc đánh giá
người có đạo đức dựa vào các biểu hiện hành vi của họ như tuân thủ đúng
những lề lối, tập tục của tập thể, xã hội và ngược lại những người không tuân
thủ theo đó là những người không có đạo đức.
Ngày nay đạo đức được định nghĩa như sau: “Đạo đức là một hình thái
ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm
điều chỉnh cách đánh giá và cách ứng xử của con người trong quan hệ với
nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi
sức mạnh của truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội”[37, 1].
Từ định nghĩa trên chúng ta có thể hiểu:
Đạo đức với tư cách là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã
hội, phản ánh hiện thực đời sống đạo đức xã hội.
Xã hội trước Mác không thể giải quyết một cách khoa học vấn đề
nguồn gốc và thực chất của đạo đức. Nó xuất phát từ “mệnh lệnh của thượng
đế”, “ý niệm tuyệt đối, lí tính trừu tượng”, bản chất bất biến của loài
15
16
hội phát triển. Ngược lại các hệ thống các quan điểm, nguyên tắc, quy tắc
chuẩn mực đạo đức lỗi thời, lạc hậu sẽ cản trở và có tác động tiêu cực đến xã
hội nên đạo đức là một hiện tượng xã hội. Đạo đức phản ánh các mối quan hệ
hiện thực bắt nguồn từ bản thân cuộc sống của con người. Trong cuộc sống,
đạo đức luôn thống nhất của ba mặt ý thức, tình cảm và hành động thực tiễn
tạo thành năng lực phục vụ một cách tự giác tích cực, tự giác của cá nhân đối
với lợi ích của người khác và lợi ích của cộng đồng. Như vậy đạo đức là một
hình thái của ý thức xã hội, cùng biến đổi với tồn tại xã hội, nhờ nó con người
tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc
của con người và tiến bộ xã hội. Đạo đức giúp con người không những tạo ra
hạnh phúc, nâng cao phẩm giá của mỗi cá nhân mà góp phần xây dựng, giữ
gìn và bảo vệ cho xã hội có cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn. Nói cách khác,
“Đạo đức đó là những gì góp phần phá hủy xã hội cũ của bọn bóc lột và góp
phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang
tạo ra xã hội mới, cộng sản chủ nghĩa” [36,1], chúng được thực hiện bởi niềm
tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội.
Ngày nay với sự phát triển không ngừng của xã hội trên tất cả các lĩnh
vực, thì mối quan hệ của con người cũng được mở rộng. Người sống có đạo
đức không chỉ có trong phạm vi các mối quan hệ giữa con người với con
người, giữa cá nhân với xã hội mà được mở rộng phạm vi giữa con người với
tất cả môi trường sống, với thiên nhiên xung quanh bằng một tinh thần lành
mạnh để giải quyết các mâu thuẫn đang tồn tại và thường phát sinh của con
người. Do đó đạo đức theo nghĩa hẹp là luân lí, là những quy định, những
chuẩn mực ứng xử trong quan hệ của con người. Theo nghĩa rộng, đạo đức liên
quan chặt chẽ với phạm trù chính trị, pháp luật, lối sống. Đạo đức là thành phần
cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ mặt nhân cách đã được xã hội hóa.
Từ khi xã hội xuất hiện cho đến nay có rất nhiều quan điểm, khái niệm
khác nhau về đạo đức nhưng nội dung cốt lỗi của đạo đức vẫn là phản ánh
18
Giáo dục đạo đức không những hình thành những quan niệm, cung cấp
và trang bị các giá trị, chuẩn mực đạo đức cho cá nhân mà còn có khả năng
đánh giá các biểu hiện, hành vi của người khác trong cộng đồng. Bản thân
mỗi người ngoài việc tự đánh giá các suy nghĩ, hành vi của mình đồng thời
chuyển hóa các văn hóa đạo đức của xã hội đến với mỗi cá nhân và trở thành
văn hóa của cá nhân đó. Nói một cách cụ thể hơn, giáo dục đạo đức là phương
thức và là quá trình chuyển hóa các nguyên tắc, chuẩn mực, những giá trị
chuẩn mực, những quan điểm hoặc lý tưởng đạo đức của xã hội thành những
phẩm chất đạo đức của từng cá thể. Trên cơ sở đó mỗi cá nhân hình thành cho
riêng mình những nhu cầu, tình cảm, niềm tin và tri thức, trách nhiệm gắn liền
với nghĩa vụ, ý chí và động cơ cá nhân, thành năng lực sáng tạo và đánh giá
đạo đức của mỗi người.
Từ xưa, ông cha ta đã đúc kết một cách sâu sắc kinh nghiệm về giáo
dục “Tiên học lễ, hậu học văn”, “Lễ” ở đây chính là nền tảng của sự lĩnh hội
và phát triển tốt các tri thức và kỹ năng. Ngày nay, phương châm “ Dạy
người, dạy chữ, dạy nghề “ cũng thể hiện rõ tầm quan trọng của hoạt động
giáo dục đạo đức, như Bác Hồ đã dạy : “Dạy cũng như học, phải chú trọng cả
tài lẫn đức. Đức là đạo đức cách mạng. Đó là cái gốc quan trọng. Nếu thiếu
đạo đức, con người sẽ không phải là con người bình thường và cuộc sống xã
hội sẽ không phải là cuộc sống xã hội bình thường, ổn định…”[30, 331].
Ngày nay giáo dục đạo đức cho học sinh là giáo dục lòng trung thành đối
với Đảng, hiếu với dân, yêu quê hương đất nước, có lòng vị tha, nhân ái, cần
cù liêm khiết và chính trực. Đó là đạo đức XHCN, là đạo đức của cá nhân, tập
thể và chủ nghĩa nhân đạo mang tính chân thực tích cực, khác với đạo đức vị
kỷ, cá nhân. Giáo dục đạo đức học sinh gắn chặt với giáo dục tư tưởng, chính
trị, giáo dục truyền thống và giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc, giáo dục pháp
luật nhà nước XHCN, cung cấp cho học sinh những phương thức ứng xử
các đặc điểm tâm-sinh-lý lứa tuổi của học sinh, nắm vững cá tính, hoàn cảnh
sống cụ thể của từng em để định ra sự tác động thích hợp.
20
Như vậy có thể nói giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục
đích, có kế hoạch đến học sinh nhằm giúp cho nhân cách của mỗi học sinh
có ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ giữa cá nhân với xã hội, cá
nhân với lao động, của cá nhân với mọi người xung quanh và của cá nhân
với chính mình.
1.1.2. Nguồn gốc tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
1.1.2.1. Gia đình và quê hương
Giáo dục gia đình có một vị trí quan trọng trong việc hình thành và phát
triển nhân cách đầu tiên của con người. Gia đình và quê hương là nền tảng
của nhân cách, tính tình, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Ảnh hưởng trực tiếp đầu tiên đến cậu bé Nguyễn Sinh Cung là bà
Hoàng Thị Loan - thân mẫu của Người, bà là tấm gương điển hình của người
phụ nữ Việt Nam, đảm đang, đôn hậu, sống chan hoà, yêu mến mọi người.
Suốt cuộc đời bà đã dồn hết sức lực, tình thương của mình để chăm sóc
chồng, nuôi dạy con cái. Với một chiếc võng được mắc cạnh giường nằm và
khung dệt vải, biết bao nhiêu bài hát, bài ca, bài vè, điệu ru con mang nặng
nghĩa nước, tình nhà và đạo lý làm người đã in sâu vào tâm hồn non trẻ của
chị em Nguyễn Sinh Cung.
Thân phụ của Nguyễn Sinh Cung là ông Nguyễn Sinh Sắc, một nông
dân cần cù, chất phác, ở xã Chung Cự, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Lúc
thiếu thời ông Nguyễn Sinh Sắc là tấm gương tiêu biểu của tinh thần cần cù,
tự học. Khi đã đỗ phó bảng, ông vẫn rất khiêm nhường. Tuy được hưởng một
ít bổng lộc của làng nước, nhưng trong sinh hoạt ông phó bảng không hề xa
cách với dân làng. Ông vẫn sống đạm bạc, gần gũi với bà con chung quanh.
Buổi sáng cả nhà đều nhịn ăn như mọi gia đình. Mái ấm gia đình, sự mẩu mực
đồng. Nhà và làng gắn liền với nước, sống ở làng sang ở nước, mất nước thì nhà
tan. Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, quê hương gắn liền với lòng yêu nước, với tinh
thần cộng đồng dân tộc, cộng đồng quốc tế.
Hồ Chí Minh đã tiếp thu những tình cảm tốt đẹp của dân tộc sáng
tạo và kết hợp nhuần nhuyễn với ý thức cách mạng. Những giá trị nhân
22
văn, những tình cảm mang đậm dấu ấn bản sắc truyền thống dân tộc này
định hướng nội dung cũng như phương châm hoạt động cách mạng của
Hồ Chí Minh.
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã
phát huy cao độ tinh thần đoàn kết kiểu gia tộc trong cộng đồng. Ham muốn
tột bậc của Người là “Làm sao cho nước ta hoàn toàn được độc lập, dân ta
hoàn toàn được tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học
hành” [22, 161].
“Một đặc điểm nổi bật của đạo đức truyền thống và người Việt Nam
sống nhân văn, chân tình, trọng nghĩa lấy tình cảm làm nguyên tắc ứng xử”
[26, 309]. Trên tiêu chuẩn đạo đức cao nhất của người Việt Nam là sống có
nhân. Người Việt Nam quan niệm tình thương và lòng nhân ái có giá trị vượt
thời gian, là nguyên nhân tạo ra kết quả cho đời sau “trồng cây đức để đời con
ăn”. Họ nhắc nhở nhau sống phải coi trọng tình cảm hơn mọi thứ ở đời, trong
gia đình thì “Vợ chồng là nghĩa ở đời, ai ơi đừng nói những lời thiệt hơn”,
ngoài ra xã hội thì khuyên bảo sống yêu thương, đùm bọc nhau.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu truyền thống đạo đức dân tộc, lòng
nhân ái, lòng yêu thương quý mến con người và nâng nó lên thành chủ nghĩa
nhân văn cách mạng.
Trong quá trình phát triển, người Việt Nam luôn luôn đứng trên lập
trường dân tộc tiếp thu tinh hoa đạo đức của các nguồn tư tưởng lớn của nhân
loại, để làm giàu thêm nền đạo đức của dân tộc. Một điểm đáng chú ý nữa là
có chọn lọc gần như toàn bộ những gì tinh tuý nhất trong truyền thống đạo
đức của Nho gia nói riêng và của những truyền thống đạo đức tiến bộ của
Phương Đông nói chung.
Hồ Chí Minh sinh trưởng trong một gia đình Nho giáo, cho nên ngay từ
thuở niên thiếu, tuổi hình thành nhân cách, Người đã được học chữ Hán, tiếp
thu những triết lý và đạo đức Khổng Mạnh về đạo làm người, về sự tu thân,
cung cách ứng xử đối với mọi người và xã hội, qua ông cụ thân sinh và những
24
nhà nho chân chính đương thời. Người cũng đã từng sinh sống ở Huế, nơi ngự
trị của vua chúa phong kiến vốn tôn sùng đạo Nho. Những nguyên tắc tiến bộ
của Nho giáo đã ảnh hưởng rất lớn trong suốt cuộc đời của Người.
Với một tầm trí tuệ sâu sắc, Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta tấm
gương sáng về thái độ tiếp thu đối với di sản văn hoá truyền thống, trong đó
có Nho giáo, một thứ Nho giáo không còn ở dạng thuần khiết nguyên sơ mà
là thứ Nho giáo sống động trong thực tế của một vùng quê hương Nghệ Tĩnh
hiếu học. Hồ Chí Minh luôn luôn khai thác những yếu tố tích cực của Nho gia
để phục vụ cho việc xây dựng nền đạo đức mới.
Trong khi khai thác những yếu tố hợp lý của Nho giáo, Người cũng phê
phán những quan điểm sai lầm, phản tiến bộ của học thuyết này. Trong lĩnh
vực đạo đức, Hồ Chí Minh đã sử dụng nhiều khái niệm, phạm trù của các truyền
thống đạo đức đã có từ trước, nhất là đạo đức Nho gia. Hồ Chí Minh hay nói đến
cần, kiệm, liêm, chính. Đây là những khái niệm của Khổng giáo. Đạo Khổng đề
cao Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, Hồ Chí Minh cũng từ đó đưa ra 5 tiêu chuẩn về đạo
đức người cách mạng: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm.
Qua việc sử dụng nhiều mệnh đề, thuật ngữ cả đạo đức Nho giáo thể
hiện rõ đạo đức Nho giáo có ảnh hưởng lớn đến Hồ Chí Minh. Nhưng người
đứng trên lập trường của giai cấp công nhân, của dân tộc để tiếp cận học
thuyết này, khai thác những mặt tích cực, tiến bộ, loại bỏ những yếu tố tiêu