Phân tích tài chính công ty cổ phần cơ điện và xây dựng việt nam (MECO) – MCG và công ty cổ phần xây dựng cotec – CTD - Pdf 31

PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH

Đề tài: Phân tích tài chính 2 công ty trong ngành xây dựng: Công ty cổ phần Cơ điện và
Xây dựng Việt Nam (MECO) – MCG và Công ty cổ phần Xây dựng Cotec – CTD

1


MỤC LỤC

I.

TÌNH HÌNH VÀ CHÍNH SÁCH KINH TẾ VĨ MÔ:
1. Về tình hình kinh tế vĩ mô:
Năm 2011 là năm mà nền kinh tế trong nước cũng như thế giới đối diện với nhiều
thách thức. Bên cạnh việc phục hồi khá tích cực thì vấn đề nợ công khiến nhiều quốc
gia chao đảo. Trong nước, lạm phát và lãi suất cao đã ảnh hưởng một cách toàn diện
lên nền kinh tế và đời sống người dân. Thị trường bất động sản, chứng khoán lao dốc;
giá vàng nổi sóng; sức ép tái cấu trúc nền kinh tế ngày càng lớn. Hiện tại, lạm phát chỉ
còn tăng chậm nhưng lãi suất vẫn cao và kinh tế tăng trưởng chậm lại.
Tăng trưởng kinh tế
Bước sang năm 2011, đà phục hồi của nền kinh tế trong năm 2010 bị gián đoạn.
Tăng trưởng GDP của năm 2011 là 5,89%, thấp hơn mức 6,78% của năm 2010 và
thấp hơn nhiều mức tiềm năng 7,3% (Viện CL&CSTC) của nền kinh tế cũng như mức
tăng trưởng 7,9% của các nước đang phát triển ở châu Á trong năm 2011. Tăng
trưởng giảm sút chủ yếu do giảm sút của khu vực công nghiệp & xây dựng và dịch vụ,
nhất là các ngành chịu ảnh hưởng của chính sách thắt chặt tín dụng: tài chính – tín
dụng, xây dựng, kinh doanh tài sản & dịch vụ tư vấn.

2



Sang tháng 1/2012, do tháng 1/2012 là tháng Tết (trong khi Tết năm ngoài vào
tháng 2/2011) nên chỉ số sản xuất công nghiệp đã giảm giảm 2,4% so với cùng kỳ năm
trước.
Xét về cơ cấu, khu vực công nghiệp và xây dựng được đặc trưng bởi xu hướng giảm
tỷ trọng của ngành công nghiệp khai thác và tăng tỷ trọng của ngành công nghiệp chế
biến. Nếu như năm 1995 tỷ trọng của ngành khai thác là 18% thì tỷ trọng này chỉ còn
9% vào năm 2011. Trong khi đó, cũng trong giai đoạn trên, tỷ trọng của ngành chế
biến đã tăng từ 52% lên 62%. Ngoài ra, riêng trong năm 2011, đã có sự sụt giảm nhẹ
của ngành xây dựng khi ngành này chiếm tỷ trọng 21%, so với mức 23% của năm
2010.
Dịch vụ
Tốc độ tăng trưởng của khu vực dịch vụ năm 2011 là 6,99%, thấp hơn mức 7,52%
của năm 2010. Dịch vụ giảm sút tăng trưởng là do giảm sút của hầu hết các ngành
dịch vụ, nhất là ngành kinh doanh bất động sản. Tốc độ tăng trưởng của ngành kinh
doanh bất động sản trong năm 2011 chỉ ở mức 1,8%, so với mức thấp 2,6% của năm
2010, do tín dụng cho khu vực bất động sản bị thắt chặt. Ngành khách sạn và nhà
hàng cũng giảm tốc độ tăng trưởng từ 8,7 (2010) xuống 7,1% (2011) do tình hình
kinh tế thế giới đình trệ đã khiến số khách quốc tế đến Việt Nam trong năm 2011 chỉ
tăng 19,1%, thấp hơn nhiều mức tăng 34,8% của năm 2010.
Lạm phát
Bước sang năm 2011, lạm phát đã liên tục gia tăng trong nửa đầu năm, gây nguy
cơ mất ổn định kinh tế vĩ mô. Tháng 8/2011, tỷ lệ lạm phát so cùng kì năm trước đã
lên tới 23%, cao hơn hẳn mức lạm phát 19,9% của năm 2008. Trước tình hình trên,
Chính phủ đã có Nghị quyết số 11/NQ-CP (ngày 24/02/2011), đề ra 6 nhóm giải pháp
nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, trong đó tập trung vào kiềm chế lạm phát. Nhờ thực hiện
quyết liệt những giải pháp trên, tình hình lạm phát đã được cải thiện trong cuối quý
3/2011 khi tốc độ tăng CPI hàng tháng bắt đầu giảm từ tháng 8/2011 và duy trì ở

4

hạn lạm phát nhưng trên thực tế, các năm 2004, 2005, 2007 và 2008 tốc độ lạm phát

5


thực tế đã cao hơn giới hạn đề ra. Ngoài ra, việc thực hiện điều chỉnh tăng lương, giá
điện, xăng dầu theo định kỳ hàng năm cũng khiến gia tăng mức lạm phát kì vọng, góp
phần làm tăng lạm phát thực tế. Đồng thời, giá của những loại hàng hóa quan trọng
như xăng dầu, điện, than… bị kìm giữ quá lâu, làm thu hẹp không gian chính sách, đến
khi buộc phải thực hiện xóa bỏ bao cấp thì lại thực hiện dồn dập vào một thời điểm
gây hiệu ứng tâm lý, làm giảm hiệu quả của các giải pháp kiềm chế lạm.
Thị trường tiền tệ
Lãi suất có xu hướng tăng cao từ đầu năm 2011 do áp lực của lạm phát. Tuy nhiên,
trong quý 3/2011, lãi suất cho vay VNĐ có xu hướng giảm, nhưng không nhiều, do can
thiệp của NHNN buộc các ngân hàng thực hiện nghiêm chỉnh quy định về trần lãi suất
14% và thành lập nhóm 12 ngân hàng lớn để ổn định thị trường.
Lãi suất liên ngân hàng, so với cuối năm 2011, tăng mạnh trong quý 1/2011, sau đó
giảm nhẹ trong hai quý tiếp theo và đột ngột tăng cao vào thời điểm cuối năm 2011.
Lãi suất liên ngân hàng tăng trong năm 2011 có nhiều khả năng là do khi trần lãi suất
được giữ nghiêm ở mức 14% nhiều ngân hàng nhỏ sẽ gặp khó khăn khi đi huy động
vốn nên phải vay trên thị trường liên ngân hàng. Nhưng sau đó với động thái bơm
ròng 22.000 tỷ đồng qua nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất liên ngân hàng đã giảm
trong tháng 9/2011. Tuy nhiên, vào thời điểm cuối năm khi nhu cầu thanh toán tăng
lên lãi suất liên ngân hàng đã tăng cao trở lại.
Ngoài vấn đề lãi suất tăng cao, còn một hiện tượng đáng chú ý là đường cong lãi
suất bị đảo ngược đối với lãi suất liên ngân hàng kì hạn 6 tháng và 12 tháng. Hiện
tượng trên có thể phản ánh kì vọng của các ngân hàng lãi suất sẽ giảm trong tương
lai (khi lạm phát giảm) hoặc việc các ngân hàng sử dụng vốn ngắn hạn cho vay dài
hạn mà nguyên nhân có thể do với lãi suất trần 14% các ngân hàng buộc phải huy
động tiền gửi ngắn hạn để giữ khách.

2010) và nợ quốc gia là 41,4% GDP (so với mức 42,2% GDP năm 2010).

7


Chính sách tài khóa trong năm 2011 đã thể hiện rõ chủ trương thắt chặt so với năm
2010. Cụ thể là, so với năm 2010, trong năm 2011 tỷ lệ trên GDP của chi đầu tư phát
triển đã giảm từ 8,6% xuống 6,9%.
Chính sách tiền tệ
Trong năm 2011, thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm kiềm chế lạm phát,
tăng trưởng tín dụng và cung tiền đều ở mức rất thấp so với các năm trước. Cụ thể, tín
dụng tăng ở mức 12%, so với mức 29,8% của năm 2010 và cung tiền tăng ở mức 10%,
so với mức 25,3% của năm 2010. Tuy nhiên, việc điều hành chính sách tiền tệ vẫn chưa
thực sự nhất quán khi trong tháng 8/2011 cung tiền đã bất ngờ tăng tới 5,56% so với
tháng trước. Sau đó, trong tháng 9/2011, NHNN cũng đã bơm ròng 22.000 tỷ đồng
qua nghiệp vụ thị trường mở để ổn định lãi suất liên ngân hàng. Động thái trên của
NHNN là nhằm giúp các ngân hàng thực hiện quy định về trần lãi suất huy động 14%.
Tuy nhiên, chủ trương này có thể ảnh hưởng đến những nổ lực kiềm chế lạm phát.
Việc áp dụng trần lãi suất cũng cho thấy khả năng của NHNN trong điều hành lãi
suất thông qua cung tiền và thị trường mở bị hạn chế. Trong điều kiện lạm phát lên
tới 18% thì việc áp dụng trần lãi suất 14% là rất khó thực hiện, buộc các ngân hàng
phải tìm đủ mọi cách để “lách” quy định.
Chính sách tỷ giá
Điều hành tỷ giá trong năm 2011 về cơ bản là đúng hướng, giúp tình hình xuất
khẩu trong năm rất khả quan. Tuy nhiên, cần lưu ý xu hướng đồng Việt Nam lên giá
thực, có thể làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu về lâu dài. Xu hướng
tăng giá thực cũng làm tăng kì vọng về giảm giá danh nghĩa của đồng Việt Nam, làm
gia tăng tình trạng găm giữ ngoại tệ và theo đó ảnh hưởng đến dự trữ ngoại hối.
Ngoài ra, chủ trương ổn định tỷ giá ổn định có thể khuyến khích các khoản vay bằng
ngoại tệ, được xem là nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra ở Thái Lan


HOSE: 41DN

9


Vốn hóa ngành (tỷ VND)
% Tổng vốn hóa thị trường
Tổng số CP lưu hành (tr CP)

HNX: 101 DN
25.297
4,72%
2.611,37

SLCPGD TB 30 ngày (trCP)

10,68

SLCPGD TB 90 ngày (trCP)
PE ngành
PB ngành
PE VN_Index
PB VN_Index

12,69
6,09
0,53
8,61
1,45

H1’20
09

Tăn
g

64.245.7

56.784.

trưở
13,

43.87

Vốn chủ sở hữu
Doanh
thu
thuần
(Tr.VND)

46 12.958.6
38.326.8

59910.962.
32.502.

13 18,
17,


94 10,59
1,04

Tổng tài sản (Tr.VND)

(Tr.VND
ROE (%)
)
ROA (%)
EPS (VND)

gộp
ròng

30 -1,7

trưởng
29,4

3 8,08

18411,24
2,45

1.652

BVPS (VND)
18.758
Số liệu KQKD lũy kế 4 quý đến kỳ Bloomberg cập nhật nhất; đã loại
trừ các doanh nghiệp không có đủ số liệu cho 3 năm .


trong những thuận lợi lớn nhất đối với ngành Xây dựng là Chính phủ Việt Nam vẫn

ưu tiên đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng mặc dù có định hướng chung là cắt giảm
đầu tư công. Chi cho đầu tư phát triển là khoản chi lớn thứ 2 của ngân sách nhà nước
hàng năm sau khoản chi thường xuyên và chiếm trên 20% tổng chi dự toán. Năm
2011, chi ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển năm 2011 dự kiến ở mức 152.000
tỷ VND, giảm 12% so với thực hiện năm 2010 nhưng tăng trên 21% so với dự toán
năm 2010, trong đó dự toán chi cho đầu tư xây dựng cơ bản vào khoảng 145 nghìn tỷ
VND.
Ngành xây dựng vẫn là một trong những ngành thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài lớn nhất

12


•Tính

đến giữa tháng 9/2011, tổng chi Ngân sách Nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản

đạt khoảng 101,5 nghìn tỷ VND, gần 70% tổng dự toán năm cho khoản mục này.
•Theo

Tổng cục thống kê, nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam (bao gồm cả vốn

đăng ký mới và vốn tăng thêm) trong lĩnh vực xây dựng 9 tháng đầu năm đạt gần
690 triệu USD với 80 dự án được cấp mới và 7 dự án tăng vốn. Ngành Xây dựng là
ngành thu hút vốn FDI lớn thứ 3 trong 9 tháng đầu năm 2011, chiếm gần 7% trong
tổng vốn FDI đăng ký mới và tăng thêm trong giai đoạn này.


đối với cho vay phi sản xuất.
Nguồn nhân lực thiếu nghiêm trọng
•Ngoài

ra, vấn đề thiếu nguồn nhân lực lao động cơ bản cũng như nhân lực có trình độ

một cách trầm trọng vẫn tiếp tục là một trở ngại lớn cho ngành. Theo số liệu của Bộ
KH-ĐT, hiện nay ngành xây dựng hiện nay khoảng 2,9 triệu lao động. Theo tờ trình về
Quy hoạch phát triển nhân lực giai đoạn 2011-2012 của Bộ Xây dựng lên Thủ tướng
chính phủ, mục tiêu đặt là số lượng lao động trong ngành xây dựng sẽ tăng lên
khoảng 5 triệu năm 2015 và khoảng 8-9 triệu năm 2020. Theo ước tính, nguồn nhân
lực hiện nay đã qua đào tạo (tại cơ sở đào tạo thuộc Bộ Xây dựng và các doanh nghiệp
xây dựng) chỉ đáp ứng được khoảng 25% nhu cầu.
Khó khăn từ nguồn cầu - thị trường bất động sản
•Bên

cạnh chính sách cắt giảm chi tiêu công của Chính phủ, một trong những khách hàng

quan trọng của ngành xây dựng là thị trường bất động sản đã rơi vào tình trạng
ảm đạm những tháng đầu năm 2011 khi các doanh nghiệp trong ngành phải chịu
những sức ép mạnh mẽ về vốn do chủ trương thắt chặt tiền tệ của Chính phủ (như Chỉ
thị số 01/CT-NHNN ngày 1/3/2011 của Ngân hàng Nhà nước) và chính sách quản
lý ngành (như Nghị định 71/2010/NĐ-CP và Thông tư số 16/2010/TT- BXD ngày
01/09/2010).
Triển vọng ngành:
Năm 2012 vẫn sẽ tiếp tục là một năm khó khăn cho ngành xây dựng
•Với

bản chất là một ngành kinh tế phụ thuộc chặt chẽ vào tốc độ tăng trưởng kinh tế


PHÂN TÍCH SWOT NGÀNH
•Một số tên tuổi lớn trong ngành, vốn là các doanh nghiệp lớn thuộc

các Tổng công ty Nhà nước đã xây dựng được vị thế trên thị
trường nhờ vào chất lượng công trình.
ĐIỂM MẠNH

•Cơ

sở hạ tầng yếu kém đem lại nhiều cơ hội phát triển ngành

trong ngắn và dài hạn.
•Thị trường tiềm năng thu hút nguồn

ngoài.

15

vốn đầu tư trực tiếp nước


•Nhiều

loại nguyên liệu đầu vào chính và chiếm tỷ trọng lớn trong

giá thành đang phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu
ĐIỂM YẾU

•Chất


Xây dựng Việt Nam (MECO) – MCG và Công ty cổ phần Xây dựng Cotec - CTD với
tổng tài sản năm 2011 xấp xỉ nhau là 2.255,275 triệu đồng (MCG) và 2.459,637 triệu
đồng (CTD)

III. SO SÁNH 2 CÔNG TY MCG VÀ CTD:
1, Giới thiệu chung:
a) Công ty cổ phần Cơ điện và Xây dựng Việt Nam (MECO) – MCG:
• Lịch sử hình thành:

16


Công ty Cổ phần Cơ điện và Xây dựng Việt Nam (MECO) được thành lập trên cơ sở
cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước Công ty Cơ điện Xây dựng Nông nghiệp và Thuỷ
lợi Hà Nội. Từ ban đầu là Xưởng 250A được thành lập tháng 3 năm 1956 theo Quyết
định số 07/NN/QĐ của Bộ Nông lâm, thực hiện nhiệm vụ sửa chữa, phục hồi máy kéo
đáp ứng yêu cầu cơ giới hoá nông nghiệp.
Tháng 3 năm 1969 Bộ Nông nghiệp ra Quyết định số 16/NN/QĐ đổi tên Xưởng
250A thành Nhà máy đại tu máy kéo Hà Nội.
Tháng 4 năm 1977 Bộ Nông nghiệp ra Quyết định số 102/NNCK/QĐ đổi tên Nhà
máy đại tu máy kéo Hà Nội thành Nhà máy Cơ khí Nông nghiệp I Hà Nội
Ngày 23 tháng 03 năm 1993, Văn phòng chính phủ có thông báo số: 81/TB và ngày
24/03/1993 tại Quyết định số 202 BNN - TCCB - QĐ Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và
Công nghiệp thực phẩm nay là Bộ Nông nghiệp & PTNT đổi tên Nhà máy Cơ khí Nông
nghiệp I Hà Nội thành Công ty Cơ điện và Phát triển Nông thôn.
Ngày 29 tháng 10 năm 2003, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ra
Quyết định số 4797/QĐ/BNN-TCCB, đổi tên Công ty Cơ điện và Phát triển Nông thôn
thành Công ty Cơ điện - Xây dựng Nông nghiệp và Thuỷ lợi Hà Nội, là doanh nghiệp
Nhà nước hạch toán độc lập trực thuộc Tổng Công ty Cơ điện Xây dựng Nông nghiệp
và Thuỷ lợi - Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.

loại máy móc thiết bị chuyên dụng phục vụ cho ngành nông lâm nghiệp; thiết kế, chế
tạo, lắp đặt thiết bị cơ khí thuỷ công cho công trình thuỷ lợi, thuỷ điện; chế tạo, sửa
chữa, lắp đặt công trình nhà máy chế biến sản phẩm nông lâm nghiệp, công trình
khung nhà kết cấu thép. Thiết kế và sản xuất các loại bơm đến 8000m 3/h; xây lắp
đường dây và trạm biến thế điện đến 220KV; chế tạo tủ điện hạ thế, tủ điều khiển
trung tâm phục vụ thuỷ lợi và công nghiệp chế biến…Meco đã và đang triển khai các
hợp đồng sản xuất cơ khí thuỷ công lớn thuộc các công trình thuỷ điện, thuỷ lợi lớn
như Thuỷ điện Văn Chấn (Yên Bái), Thuỷ điện Nho Quế 3 (Hà Giang), Cống thuỷ lợi Đò
Điểm (Hà Tĩnh)…..

-

Xây lắp:
Meco đang được biết đến là một nhà thầu xây lắp hàng đầu của ngành xây dựng
thuỷ lợi, thuỷ điện Việt Nam, Meco đã và đang tham gia với tư cách là Tổng thầu xây
lắp, nhà thầu thi công các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện lớn như: Thuỷ điện Pleikrông
(Kontum), Thuỷ điện Sêsan 4 (Gia Lai), Thuỷ điện Đakr’tih (Đăk Nông), Thuỷ điện Bình
Điền, Thuỷ điện Hương Điền (Thừa Thiên Huế), Thuỷ điện Cửa Đạt (Thanh Hoá), Thuỷ
điện Văn Chấn (Yên Bái), Thuỷ điện Nho Quế 3 (Hà Giang), Công trình Hồ chứa IAMƠ
(Gia Lai)….Bên cạnh đó Meco cũng tham gia thi công các công trình xây dựng dân
dụng và công nghiệp như nhà chung cư cao tầng, hệ thống xử lý nước thải công
nghiệp, san lấp mặt bằng và phát triển hạ tầng….Lĩnh vực Xây lắp là một trong những

18


lĩnh vực hoạt động then chốt của Meco, luôn được Meco tăng cường nguồn lực, đổi
mới công nghệ thiết bị để đảm nhận thực hiện các dự án quy mô lớn và phức tạp

-

quản lý và sản xuất, có chính sách hướng vào phục vụ thoả mãn khách hàng với các
dịch vụ có chất lượng cao mới giữ vững uy tín đã được khẳng định, mở rộng thị phần
của Công ty trên thị trường, tạo tiền đề hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới….
• Vị thế công ty

19


Về lĩnh vực xây dựng:
Hiện nay Công ty CP Cơ điện và Xây dựng Việt Nam đang tập trung vào lĩnh vực thi
công xây dựng và các công trình thủy điện, thủy lợi. Công ty chính thức tham gia từ 7
năm trở lại đây với công trình đầu tiên là Thủy điện PleiKrông. Công ty đã tạo được uy
tín lớn trong thị trường xây dựng thủy điện – thủy lợi, được chủ đầu tư tin tưởng vào
giao thầu cho nhiều công trình lớn.
Về lĩnh vực sản xuất cơ khí:
Với hơn 50 năm kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực sản xuất cơ khí từ khi tiền
thân là Xưởng sửa chữa máy kéo thành lập năm 1956, với sản phẩm cơ khí đặc thù,
Công ty đang dần khẳng định chỗ đứng trên thị trường sản phẩm cơ khí trong nước
và thế giới. Hoạt động sản xuất cơ khí chủ lực là chế tạo, sửa chữa, lắp đặt thiết bị phụ
tùng cơ khí phục vụ cho ngành nông, lâm diêm nghiệp, cơ khí thủy công cho công trình
thủy điện và thủy lợi; chế tạo thiết bị nâng hạ máy và thiết bị dây chuyền chế biến
nông sản.
Về lĩnh vực thương mại:
Công ty đã và đang là một đối tác quan trọng cung cấp các thiết bị sản xuất vật liệu,
thi công xây dựng cho các đơn vị như LiLama; Tổng công ty Xây dựng Thủy lợi 1, Tổng
công ty Xây dựng Thủy lợi 4, Ban điều hành một số các công trình thủy điện trọng
điểm quốc gia như: Thủy điện Pleikrong; Thủy điện Sông Tranh 2; Thủy điện Đồng Nai
3; Thủy điện Sơn La; Thủy điện Nậm Chiến…
Về lĩnh vực đầu tư:
Công ty đang là chủ đầu tư của nhiều dự án khả thi trong lĩnh vực kinh doanh bất

- Môi giới bất động sản.
- Sản xuất máy móc - thiết bị xây dựng.
- Chế tạo, sản xuất kết cấu xây dựng; sản xuất vật liệu xây dựng.
- Kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa - quốc tế.
- Kinh doanh khách sạn.
- Kinh doanh bất động sản.
- Thiết kế tổng mặt bằng xây dựng công trình.

21


- Thiết kế kiến trúc công trình dân dụng và công nghiệp.
- Thiết kế nội - ngoại thất công trình.
- Thiết kế cấp nhiệt, thông hơi, thông gió, điều hòa, không khí, công trình dân dụng
và công nghiệp.
- Thiết kế phần cơ điện công trình.
- Thiết kế xây dựng công trình dân dụng-công nghiệp.
- Thiết kế xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị.

• Vị thế công ty
- Công ty có khả năng thực hiện các loại công trình hiện đại và quy mô lớn trong cả
nước. Nguồn vốn chủ sở hữu của công ty lên đến 1.000 tỷ đồng, đủ để đáp ứng cho
hoạt động sản xuất kinh doanh và không phải đi vay từ ngân hàng.
- Công ty sở hữu nhiều máy móc thiết bị nhập khẩu hiện đại phục vụ cho lĩnh vực
xây lắp (khoảng 20 cầu tháp, nhiều hệ thống sàn treo, hệ thống coffa trượt dùng thi
công lõi thang máy nhà cao tầng, vận thăng lồng, cừ thép, hệ thống giàn giáo...). Công
ty có thể cùng một lúc quản lý và thi công trung bình trên dưới 25 công trình có quy
mô lớn trên khắp cả nước.
- Công ty là một trong số rất ít công ty xây dựng của Việt Nam có khả năng thi công
tầng hầm nhà cao tầng theo phương pháp từ trên xuống dưới (Top - Down).

CTD đã có sự tăng trưởng về nguồn vốn khá ổn định và an toàn.

23


4, Phân tích báo cáo tài chính:
a) Bảng cân đối kế toán:
Công ty CTD
Chỉ tiêu
A. Tài sản ngắn hạn
Tiền và các khoản
tương đương tiền
Các khoản đầu tư tài
chính ngắn hạn
Các khoản phải thu
ngắn hạn
Hàng tồn kho
Tài sản ngắn hạn
khác

Năm 2009
65.45
20.83

Năm 2010
63.66
14.37

Năm 2011
72.65

Chỉ tiêu
A.Tổng nợ
Nợ ngắn hạn
Nợ dài hạn

34.55
8.86
3.65
18.37

36.34
12.77
5.11
9.22

27.35
10.49
4.05
4.73

3.67

9.23

8.08

Năm 2009
37.86
37.69
0.17


24


vòng 10 năm trở lại đây. Điều này có thể được giải thích bởi sự đi xuống của thị
trường bất động sản cũng như sự hạn chế đầu tư công đối với mốt số công trình có
vốn đầu tư nhà nước. Tỷ trọng khoản phải thu tăng lên làm cho tỷ trọng của tiền mặt
và các khoản tương đương tiền của công ty bị giảm xuống, tuy chưa đến mức nghiêm
trọng nhưng công ty cần phải có điều chỉnh cụ thể để giảm bớt tỷ trọng các khoản
phải thu.
Về cơ cấu nguồn vốn, công ty CTD có sự cân bằng tương đối về tỷ trọng vốn chủ sở
hữu và vốn vay nợ. Tỷ trọng này cũng được duy trì ổn định, ít có sự biến động qua các
năm từ 2009-2011
Công ty MCG
Chỉ tiêu
A. Tài sản ngắn hạn
Tiền và các khoản
tương đương tiền
Các khoản đầu tư tài
chính ngắn hạn
Các khoản phải thu
ngắn hạn
Hàng tồn kho
Tài sản ngắn hạn
khác

Năm 2009
73.90
4.45


Tài sản cố định
Bất động sản đầu tư
Các khoản đầu tư tài
chính dài hạn
Tổng tài sản dài hạn
khác

26.10
16.37

19.28
8.63

30.68
10.87

9.63

10.59

19.78

0.1

0.06

0.04

Chỉ tiêu
A.Tổng nợ

31.35
31.34
0.01

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status