MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trẻ em là nguồn nhân lực mới cho tương lai. Việc chăm sóc, bảo vệ và
giáo dục trẻ em ngày càng được toàn cộng đồng đặc biệt quan tâm. Ngày nay,
nhu cầu xã hội ngày càng phát triển, đời sống ngày càng cao nên việc chăm
sóc con cái từ miếng ăn, giấc ngủ cũng được chuẩn bị kỹ lưỡng hơn. Mục
đích là để phát triển toàn diện về thể chất cũng như sự phát triển về tinh thần
cho các em lứa tuổi mầm non nhằm hạn chế tối đa tỷ lệ còi xương, đồng thời
để tránh được tình trạng suy dinh dưỡng.
Suy dinh dưỡng đang là bệnh chiếm tỷ lệ cao và mang tính chất xã hội.
Những đánh giá gần đây cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng (cân nặng theo tuổi)
của trẻ em dưới 5 tuổi là 33,8%; 10 trẻ sơ sinh cân nặng dưới 2500gam do bị
thiếu dinh dưỡng ngay trong bụng mẹ (Viện Dinh dưỡng năm 2000). Ở nông
thôn trẻ bị suy dinh dưỡng cao hơn ở thành thị và ở miền núi cao hơn đồng
bằng, so sánh các nước trong khu vực Việt Nam có tỷ lệ trẻ em suy dinh
dưỡng cao nhất. Tỷ lệ suy dinh dưỡng cao và thường xuyên của trẻ em đe dọa
sự phát triển nguồn nhân lực của đất nước trong tương lai.
Bảo Yên là một huyện vùng cao và là cửa ngõ của tỉnh Lào Cai. Đời
sống kinh tế của người dân ở nơi đây còn gặp nhiều khó khăn, công tác thực
hiện chương trình suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 6 tuổi đã và đang được
thực hiện song hiệu quả còn chưa cao. Chế độ chăm sóc sức khỏe khu vực
này như thế nào? Thực trạng suy dinh dưỡng trẻ em ở nơi đây ra sao? Vì
những lý do trên mà chúng tôi đã chọn đề tài “Ảnh hưởng của chế độ chăm
sóc sức khỏe tới bệnh suy dinh dưỡng của trẻ em lứa tuổi 3 - 6 tuổi ở khu vực
huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai” làm đề tài nghiên cứu khóa luận của mình.
1
2. Mục tiêu của đề tài
của chúng ta phải có dinh dưỡng”. [9]
Năm 1729, quyển sách đầu tiên “về sự tăng trưởng chiều dài” ở người
J.S.Stoeller đã xuất bản ở Đức. Nhưng trong quyển sách này chưa có số liệu
đo đạc cụ thể. Cũng ở Đức trong năm này đã nghiên cứu về sự tăng trưởng
chiều cao ở người và sự phát triển axit amin, đánh dấu bước ngoặt khởi đầu
về nghiên cứu sự phát triển chiều cao ở người và các phát hiện cụ thể về dinh
dưỡng. [7]
Năm 1983 C. William phát hiện ra bệnh gọi là suy dinh dưỡng thiếu
Protein- Năng lượng thể phù (Kwashiokor). [9]
Năm 1984, WHO đã tổ chức 1 hội nghị về dinh dưỡng để đánh giá tình
hình và kinh nghiệm phòng chống suy dinh dưỡng ở các nước trong khu vực
Tây Thái Bình Dương. Hội nghị kết thúc đã đưa ra một quyết định quan
trọng: “Suy dinh dưỡng trẻ em có rất nhiều nguyên nhân, cho nên việc phòng
chống suy dinh dưỡng trẻ em không thể hoạt động riêng rẽ của từng ngành:
ngành nhi, ngành phòng dịch, ngành nông nghiệp và chế biến thực phẩm, mà
phải do những người cầm đầu các nước đứng ra nhận trách nhiệm phối hợp
các ngành và giáo dục vận động nhân dân, các gia đình tự giác tham gia bằng
khả năng và phương tiện hiện có của mình”. Hội nghị đã đưa ra việc phòng
chống suy dinh dưỡng bắt đầu từ thời kỳ nhi khoa chuyển sang thời kỳ phòng
dịch.
3
Theo báo cáo của Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc UNICEF năm 2008
thì trên thế giới có khoảng 146 triệu trẻ em dưới 6 tuổi được xem là thiếu cân
(một chỉ tiêu chính của định nghĩa “suy dinh dưỡng”), trong đó có khoảng 20
triệu trẻ em dưới 6 tuổi bị suy dinh dưỡng nặng cần được chăm sóc khẩn cấp,
phần lớn tập trung ở Châu Á, Châu phi và Mỹ latinh. Trong số này có khoảng
2 triệu trẻ em Việt Nam.
Lê Doanh Tuyên “Dịch tễ học và một số yếu tố nguy cơ suy dinh dưỡng
thể còi trẻ dưới 6 tuổi ở một số vùng sinh thái khác nhau ở nước ta hiện nay”.
[15]
Các công trình nghiên cứu đã phân tích trên các kích thước tổng thể,
một số kích thước vòng và một số chỉ số phát triển cơ thể và đưa ra những
nhận xét về quy luật phát triển cơ thể tốc độ tăng trưởng và kích thước hình
thái đồng thời so sánh các tài liệu trước đây ở Việt Nam và nước ngoài.
1.2 Cơ sở khoa học.
1.2.1 Đặc điểm tâm lý [10]
Sự phát triển tâm lý của trẻ trong những năm đầu tuy còn đơn sơ nhưng
rất quan trọng, song song với tiến tới độc lập về mặt sinh học của con người,
ở giai đoạn này chủ yếu là tạo ra những tiền đề cần thiết để sau này hình
thành nên những chức năng tâm lý của con người.
1.2.2 Đặc điểm sinh lý [8]
- Tốc độ tăng trưởng chậm hơn.
- Răng sữa bắt đầu mọc từ 6 tháng tuổi. Đến 3 tuổi trẻ đã có đủ 20 răng.
Khoảng 6 tuổi trẻ đã bắt đầu thay răng sữa bằng răng vĩnh viễn.
- Chức năng cơ bản của các bộ phận dần dần hoàn thiện.
- Chức năng vận động phát triển nhanh, hệ cơ phát triển, trẻ có khả
năng phối hơp động tác khéo léo hơn.
- Trí tuệ phát triển nhanh, đặc biệt về ngôn ngữ.
5
1.2.3 Đặc điểm bệnh lý [4]
Bệnh suy dinh dưỡng là tình trạng cơ thể thiếu protein – năng lượng và
các vi chất dinh dưỡng.
Bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ, đặc biệt là trẻ dưới 3 tuổi biểu hiện ở nhiều
mức độ khác nhau nhưng ít nhiều đều có ảnh hưởng đến sự phát trển thể chất
BMI < 18,5 : gầy/nhẹ cân
18,5 ≤ BMI < 23 : Bình thường
23 ≤ BMI < 25 : Thừa cân
25 ≤ BMI < 30 : Béo phì độ 1
30 ≤ BMI < 35 : Béo phì độ 2
BMI ≤ 35
: Béo phì độ 3
Mức độ gầy:
Độ 1: 17,0 – 18,49 (gầy nhẹ)
Độ 2: 16,0 – 16,99 (gầy vừa)
Độ 3: < 16,0
(quá gầy)
1.2.5 Tình hình mắc bệnh suy dinh dưỡng ở trẻ
Hiện nay tỉ lệ suy dinh dưỡng đã giảm nhiều nếu tính từ 1985 (51,1%)
đến 1995 (44,9%) mỗi năm giảm trung bình 0,66%. Từ năm 1995, chỉ sau 4
năm tỉ lệ suy dinh dưỡng đã giảm xuống còn 36,7% (1999), trung bình mỗi
năm giảm 2% [15] là tốc độ được quốc tế công nhận là giảm nhanh. Như vậy
mỗi năm đã đưa gần 200.000 trẻ dưới 6 tuổi thoát khỏi suy dinh dưỡng. Năm
2000, theo số liệu điều tra MICS của Tổng cục thống kê, tỉ lệ trên còn 33,1%.
Có thể nói thành tựu giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng trẻ em trong 5 năm qua
rất đáng ghi nhận: suy dinh dưỡng nặng đã giảm hẳn (0,8%) và suy dinh
dưỡng ở nước ta hiện nay chủ yếu là thể nhẹ và thể vừa. Tuy nhiên suy dinh
dưỡng ở nước ta vẫn ở mức rất cao so với quy định của Tổ chức Y tế thế giới.
Mặt khác, dù tỉ lệ trẻ em thấp còi đã giảm nhanh song vẫn còn ở mức khá cao
(38,6%). Tỷ lệ SDD có sự khác biệt giữa các vùng sinh thái, giữa các tỉnh. Vì
vậy trẻ rất cần được quan tâm, chăm sóc nhất là trong những năm tháng đầu
kéo theo sự giảm học hỏi, tiếp thu.
1.2.6.5 Nguy cơ về mặt xã hội [6]
8
- Tầm vóc của dân tộc sẽ chậm tăng trưởng nếu tình trạng suy dinh
dưỡng không được cải thiện qua nhiều thế hệ.
- Khả năng lao động về thể lực cũng như về trí lực của những người suy
dinh dưỡng trong quá khứ hay trong hiện tại đều không thể đạt đến mức tối
ưu, là một sự lãng phí vô cùng lớn với những nước đang phát triển có nhu cầu
về nguồn nhân lực rất cao.
- Nguồn nhân lực trong lai cũng sẽ bị ảnh hưởng vì tầm vóc của các lớp
thanh niên liên quan đến sức khỏe sinh sản.
1.3 Một số chỉ số nhân trắc:
Để đánh giá sự phát triển cơ thể trẻ, người ta sử dụng các kĩ năng, chiều
cao, chu vi các vòng, tỷ lệ giữa các phần của cơ thể chiều cao theo tuổi phản
ánh tiền sử dinh dưỡng, chiều cao theo tuổi thấp phản ánh sự chậm tăng
trưởng do điều kiện dinh dưỡng không hợp lý và sức khỏe kém. Chiều cao
theo tuổi thấp phản ánh tỷ lệ SDD mãn tính (trẻ thấp còi) nghĩa là trẻ bị thiếu
dinh dưỡng từ trước kéo dài đã lâu ở các nước nghèo và các nước đang phát
triển thì tỷ lệ SDD chiều cao (thể thấp còi) ở trẻ càng cao.
1.4 Một số khái niệm liên quan.
1.4.1 Sức khỏe và chăm sóc sức khỏe trẻ em
1.4.1.1 Định nghĩa sức khỏe[8]
Theo Tổ chức y tế thế giới - cơ quan của Liên Hợp Quốc đặt tiêu chuẩn
và cung cấp chương trình kiểm soát bệnh tật đã định nghĩa sức khỏe là “tình
trạng hoàn toàn thoải mái cả về thể chất, tinh thần và các quan hệ xã hội chứ
không đơn giản là tình trạng không có bệnh hay ốm yếu”.
triển thì tỷ lệ mắc bệnh cao hơn.
1.4.4 Suy dinh dưỡng [4]
10
SDD là tình trạng cơ thể không được cung cấp đủ các chất phát sinh
năng lượng protein và cá chất dinh dưỡng khác. Bệnh thường gặp ở trẻ em
biểu hiện ở các nước khác nhau làm ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển
của trẻ, trường hợp nặng sẽ dẫn đến tử vong.
Phân loại SDD: có 3 thể
+ Thể cân nhẹ dựa trên chỉ tiêu (cân nặng/tuổi thấp).
+ Thể còi cọc dựa trên chỉ tiêu(chiều cao/tuổi).
+ Thể còm được đánh giá khi chỉ tiêu (cân nặng/chiều cao).
Hiện nay, người ta sử dụng “Biểu đồ phát triển” để giúp các bà mẹ và
cô bảo mẫu phát hiện và theo dõi suy dinh dưỡng ở trẻ. Trên biểu đồ có chia
4 kênh kí hiệu A, B, C và D căn cứ vào chỉ số nhạy nhất là cân/tuổi: [5]
Kênh A: trẻ khỏe mạnh.
Kênh B: suy dinh dưỡng độ 1.
Kênh C: suy dinh dưỡng độ 2.
Kênh D: suy dinh dưỡng độ 3.
CHƯƠNG 2
11
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
của các đối tượng trong nghiên cứu. Trên thước đo họ chia thành những vạch
nhỏ đều nhau. Mỗi một vạch nhỏ cách nhau 1cm. Để đo chiều cao cơ thể
được chính xác ta nên tiến hành đo như sau: Đo vào buổi sáng, khi đo thước
dây căng thẳng áp sát vào tường nhà, vuông góc với mặt đất nằm ngang. Trẻ
đi chân không đứng quay lưng vào thước đo. Gót chân, mông, vai và đầu theo
một đường thẳng nằm ngang, hai tay bỏ thõng bên mình. Dùng thước vuông
áp sát đỉnh đầu thẳng góc với thước đo. Sau đó nhìn thước đo xem được bao
nhiêu cm? Chiều cao đứng được tính bằng cm với hai số thập phân sau dấu
phẩy.
2.3.2 Phương pháp phỏng vấn
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi có dùng bảng hỏi in sẵn và phỏng
vấn sâu để thu thập các thông tin định tính và định lượng về việc chăm sóc
cũng như các yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ.
2.3.3 Phương pháp thống kê và xử lí số liệu:
Sau khi thu thập thông số về điều tra, ngày sinh, ngày đo, giới
tính,...của trẻ trong nghiên cứu cho phép đánh giá được tình trạng suy dinh
dưỡng của trẻ trong nghiên cứu.
Khi đã có số liệu trong nghiên cứu, chúng tôi tiến hành tìm mối liên
quan giữa tình trạng suy dinh dưỡng với một số yếu tố trong quá trình chăm
sóc trẻ.
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
13
3.1 Kết quả nghiên cứu về sự phân bố nhóm tuổi và giới tính.
Bảng 1. Kết quả nghiên cứu về sự phân bố theo nhóm tuổi và giới
tính ở trẻ
60,00
36
40,00
5
27
45,00
33
55,00
Tổng
116
50,43
114
49,56
Bảng 1 cho thấy: số trẻ nam chiếm tỷ lệ cao hơn số trẻ nữ và chủ yếu là
ở nhóm 4 tuổi.
3.2 Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của chế độ chăm sóc sức khỏe tới
8
6,15%
Không đủ dinh dưỡng
78
15
19,23%
Đảm bảo vệ sinh
22
2
9,09%
Bảng trên cho thấy có sự chênh lệch giữa tỷ lệ trẻ bị SDD khi được
cung cấp đủ dinh dưỡng và không đủ dinh dưỡng trong khẩu phần ăn của trẻ:
cung cấp đủ dinh dưỡng chiếm 6,15%; không đủ dinh dưỡng chiếm 19,23%.
Tuy nhiên, khi bữa ăn của trẻ đảm bảo vệ sinh thì vẫn có 9,09% trẻ bị suy
dinh dưỡng.
3.2.3 Kết quả nghiên cứu về một số chỉ tiêu thể lực của trẻ dưới 6 tuổi ở
khu vực huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai
Bảng 3. Kết quả nghiên cứu về chiều cao trung bình của trẻ ở khu
Đơn vị tính: cm
Tuổi
Chiều cao trung bình
Độ lệch chuẩn
P
3
92,8
2,3
95,1
4
98,6
4,1
102,7
5
103,8
5,6
40
42,10%
Ăn uống, ngủ, sinh hoạt không
hợp lý
Nếu ăn uống, ngủ, sinh hoạt hợp lí thì tỷ lệ trẻ bị suy dinh dưỡng sẽ
thấp hơn nhiều so với những trẻ ăn uống, ngủ, sinh hoạt không hợp lí.
3.2.4 Kết quả nghiên cứu về vệ sinh cá nhân trẻ
Bảng 5. Kết quả nghiên cứu về việc vệ sinh cá nhân trẻ
16
Chỉ tiêu nghiên cứu
n
Số trẻ bị SDD
Tỷ lệ (%)
155
15
9,67
3.2.5 Kết quả nghiên cứu về vệ sinh môi trường
Đối với trẻ nhỏ, các điều kiện môi trường sống càng có ý nghĩa quan
trọng đối với sự phát triển cơ thể. Từ khi sinh ra, đứa trẻ đã sống ở trong môi
trường mới điều kiện hoàn toàn khác xa với môi trường trong bụng mẹ. Mà
đối với trẻ cơ thể non nớt của trẻ có các hệ cơ quan chưa hoàn thiện về cấu
tạo và chức năng.
Cơ thể của trẻ mẫu giáo là cơ thể đang lớn, đang phát triển mạnh và
chưa hoàn thiện, sức đề kháng chưa cao nên sức chống đỡ với ảnh hưởng của
môi trường bên ngoài rất kém. Một trong những nhân tố đó là tình trạng nhà
ở, điều kiện vệ sinh cũng như môi trường không tốt sẽ ảnh hưởng xấu tới sức
khỏe của trẻ.
Bảng 6. Kết quả nghiên cứu về vệ sinh nhà ở
17
Tình trạng bệnh
Số trẻ
n
Chỉ số NC
Nhà ẩm thấp, có nhiều ruồi nhặng, không
bị
SDD
Tỷ lệ
6,51
Có nhà vệ sinh tự hoại
174
16
9,19
Không có nhà vệ sinh tự hoại
56
19
33,92
hợp vệ sinh
Bảng trên cho thấy, yếu tố môi trường nhà ở có ảnh hưởng rất lớn đến
tỷ lệ trẻ mắc bệnh. Tỷ lệ trẻ mắc bệnh giữa điều kiện môi trường nhà ở tốt và
môi trường nhà ở không tốt có sự chênh lệch lớn.
3.2.6 Kết quả nghiên cứu về việc khám sức khẻ định kỳ cho trẻ
Bảng 7. Kết quả nghiên cứu về việc khám sức khỏe định kỳ của
một số địa phương ở huyện Bảo Yên
Số lượt khám,
Số lượt khám và
3374
80
2,37%
19000
92
0,48 %
1589
76
4,78%
Phường Kim Ngọc, TT
Phố Ràng, huyện Bảo
Yên, tỉnh Lào Cai
Xã Việt Tiến, huyện
Bảo Yên, tỉnh Lào Cai
Nhìn vào bảng ta thấy việc khám sức khỏe định kỳ được các bậc phụ
huynh rất quan tâm, thể hiện qua số lượt trẻ đến khám và phát hiện bị SDD ở
một số địa phương trong huyện.
3.2.7 Kết quả nghiên cứu về việc tiêm chủng và phòng bệnh
Ảnh hưởng của yếu tố bệnh tật tới tình trạng SDD của trẻ
19
Tình trạng bệnh
Số trẻ bị Tỷ lệ
n
SDD
(%)
Chỉ số NC
Mắc bệnh
93
35
37,63
Không mắc bệnh
137
13
biết
n
%
n
%
n
%
n
%
132
57,39
18
7,83
9
3,91 28 12,17
nhà
Có thể phòng
bệnh SDD cho
49
21,3
0
trẻ
Bệnh
SDD
được phát hiện
72
31,3
0
20
0
0
15
sinh cá nhân trẻ
Không dùng nước ao, hồ để
sinh hoạt
Tiêm vacxin phòng bệnh đủ
và đúng lịch
110
167
124
95,6
5
47,8
2
72,6
0
35,9
1
n
%
n
%
3
1
Bảng trên cho thấy 95,65% các bà mẹ tin tưởng gần như tuyệt đối vào
việc cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng, ăn uống, ngủ, sinh hoạt hợp lí; hơn
một nửa số bà mẹ còn tin tưởng vào việc tiêm vacxin phòng bệnh; có rất
nhiều bà mẹ chưa nhận thức được việc giữ vệ sinh môi trường, vệ sinh cá
nhân cho trẻ và tác hại của việc dùng nước ao, hồ để sinh hoạt.
21
3.5 Kết quả nghiên cứu về tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ dưới 6 tuổi ở khu
vực huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
Bảng 11. Tỷ lệ Suy dinh dưỡng của trẻ dưới 6 tuổi ở khu vực huyện
Bảo Yên, tỉnh Lào Cai
Nhóm tuổi
n
Số trẻ bị SDD
Tỷ lệ (%)
3
78
19
- Xét về từng nhóm tuổi, số lượng bé gái chiếm ưu thế hơn số lượng bé
trai: tỷ lệ bé gái (50,43%) cao hơn tỷ lệ bé trai (49,56%) là 0,87%. Tỷ lệ này
được thể hiện cụ thể từng nhóm tuổi như sau:
- Xét theo nhóm 3 tuổi thì tỷ lệ bé trai cao hơn bé gái là: 12,50% còn
nhóm 4 tuổi thì tỷ lệ bé trai là 40,00% thấp hơn tỷ lệ bé gái 20,00%
- Xét theo nhóm 5 tuổi thì tỷ lệ bé trai (55,00%) cao hơn tỷ lệ bé gái
(45,00%) là 10%.
Thường thì tỷ lệ bé trai cao hơn tỷ lệ bé gái nhưng không quá chênh
lệch như trên. Có thể giải thích trường hợp này là do sự trùng lặp ngẫu nhiên
khi chọn trong danh sách.
3.5.2 Ảnh hưởng của chế độ chăm sóc sức khỏe tới bệnh SDD
- Chế độ dinh dưỡng:
Trong nghiên cứu, khẩu phần ăn thiếu dinh dưỡng có tới 19,23% trẻ bị
suy dinh dưỡng cao hơn so với những trẻ trong khẩu phần ăn đầy đủ chất dinh
dưỡng là 6,15%. Tuy nhiên khi khẩu phần đảm bảo vệ sinh thì trẻ vẫn có khả
năng bị SDD (9,09%). Như trên ta thấy yếu tố dinh dưỡng nói chung, khẩu
phần ăn hàng ngày của trẻ có mối quan hệ tỷ lệ thuận với tình trạng SDD của
trẻ. Chế độ ăn uống dinh dưỡng không hợp lý... ăn quá nhiều hay quá ít, sử
dụng không hợp lý các thành phần dinh dưỡng sẽ không có lợi cho sức khỏe.
Trẻ cần được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng như: đạm, chất béo, chất
đường, vitamin và các chất khoáng cân đối hợp lý.
+ Chất đạm (thịt, cá, trứng, sữa, đậu đỗ): là một chất dinh dưỡng quan
trọng nhất giúp cơ thể trẻ lớn nhanh. Chất đạm còn là nguyên liệu để kiến tạo
tế bào và chất kháng thể. Vì vậy cơ thể thiếu đạm sẽ làm cho cơ thể trẻ chậm
lớn, dễ mắc các bệnh nhiễm trùng do khả năng đề kháng kém. Nhưng ngược
lại nếu thừa đạm gây nguy cơ dị ứng, ảnh hưởng đến thận, làm hệ thần kinh
dễ bị kích thích và gây táo bón.
23
Chế độ ăn uống, ngủ, sinh hoạt cũng ảnh hưởng tới tình trạng mắc bệnh
suy dinh dưỡng của trẻ. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy trẻ em nếu
được ăn uống, ngủ, sinh hoạt hợp lí thì tỷ lệ bị SDD chỉ có 7,82%; ngược lại
thì khả năng bị bệnh SDD sẽ rất cao (42,10%). Vì vậy mà cần phải có một chế
độ ăn uống, ngủ, nghỉ, sinh hoạt khoa học, hợp lí cho trẻ.
- Vệ sinh cá nhân:
Nếu vệ sinh cá nhân không tốt thì trẻ rất có khả năng bị bệnh cao.
Trong nghiên cứu chúng tôi thấy có tới 30,23% trẻ bị SDD do vệ sinh cá nhân
kem.
Do đó cần phải thường xuyên vệ sinh cá nhân cho trẻ: tắm. giặt, đánh răng,
rửa mặt, mũi, chân, tay…
- Vệ sinh môi trường :
Cơ thể của trẻ mẫu giáo là cơ thể đang lớn, đang phát triển mạnh và
chưa hoàn thiện, sức đề kháng chưa cao nên sức chống đở với ảnh hưởng của
môi trường bên ngoài rất kém. Một trong những nhân tố đó là tình trạng nhà
ở, điều kiện vệ sinh cũng như môi trường sống không tốt sẽ ảnh hưởng xấu tới
sức khỏe của trẻ.
Qua nghiên cứu, kết quả cho thấy: 28,86% trẻ bị SDD sống trong căn
nhà ẩm thấp, ruồi nhặng, không hợp vệ sinh; 6,76% trẻ bị SDD sống trong
căn nhà thoáng mát, sạch sẽ; 33,33% trẻ bị SDD do dùng nước ao, hồ để sinh
hoạt. Tỷ lệ trẻ bị SDD khi sống trong những gia đình có nhà vệ sinh tự hoại
và gia đình không có nhà vệ sinh tự hoại có sự chênh lệch tượng đối lớn
(9,9% và 33,92%)
- Khám sức khỏe định kỳ:
Chúng tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát 3 xã và 1 thị trấn ở khu vực
huyện Bảo Yên và thu được kết quả như sau:
25