Nghiên cứu tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ dưới 5 tuổi tại xã mai đình, huyện sóc sơn, thành phố hà nội 2011 - Pdf 31

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trẻ em là nguồn nhân lực mới cho tương lai. Việc chăm sóc, bảo vệ
và giáo dục trẻ em ngày càng được toàn cộng đồng quan tâm. Trẻ em bị
bệnh không những ảnh hưởng tới tính mạng, tới sự phát triển về thể chất
mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển tinh thần và trí tuệ của trẻ.
Để thực hiện tốt việc chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ sức khỏe cho trẻ
đòi hỏi giáo viên mầm non, các nhà chuyên môn và cả các bậc cha mẹ cần
có những hiểu biết về đặc điểm sinh lí, bệnh lí và tâm vận động của các
thời kì phát triển của cơ thể trẻ. Cần được trang bị những kiến thức, kĩ năng
cơ bản về bệnh của trẻ em, đảm bảo an toàn cho trẻ để từ đó có thể áp dụng
vào công tác phòng bệnh, đảm bảo an toàn, phòng tránh tai nạn, biết phát
hiện bệnh sớm, xử lí bước đầu và chăm sóc khi trẻ bị ốm.
Nhiễm khuẩn hô hấp cấp một loại bệnh phổ biến có tỉ lệ mắc và tử
vong cao ở trẻ em, đặc biệt là ở trẻ em dưới 5 tuổi. Theo số liệu của Tổ
chức Y tế Thế giới, mỗi trẻ trung bình trong một năm mắc nhiễm khuẩn hô
hấp cấp từ 4 – 9 lần, ước tính trên toàn cầu có khoảng 2 tỉ lượt trẻ mắc
NKHHC, trong đó khoảng 40 triệu lượt là viêm phổi.
Hiện nay ở Việt Nam có khoảng 8 triệu trẻ dưới 5 tuổi. Như vậy ước
tính mỗi năm sẽ có từ 32 đến 40 triệu lượt trẻ mắc NKHHC và từ 22 đến 24
nghìn trẻ tử vong do viêm phổi. Bệnh NKHHC có thể mắc nhiều lần trong
1 năm, vì vậy đây còn là nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến ngày công
lao động của các bà mẹ. Bệnh NKHHC có thể được phân loại theo các cách
khác nhau và biểu hiện bệnh cũng ở các mức độ khác nhau. Mức độ nhẹ
chăm sóc tại nhà, nếu nặng cần được điều trị tại cơ sở y tế, nếu không đưa
trẻ đến cơ sở y tế kịp thời có thể sẽ dẫn tới tử vong.
Nguyên nhân gây NKHHC nói chung và viêm phổi nói riêng chủ yếu
là do vi rút, vi khuẩn, lao phổi trẻ em, nấm. ngoài ra do tác động của các
-1-



CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình NKHHC trên Thế giới và Việt Nam
1.1.1 Tình hình NKHHC ở trẻ em trên Thế giới
Hiện nay các nước đang phát triển, các bệnh nhiễm khuẩn đường hô
hấp vẫn là nguyên nhân mắc bệnh và tử vong hàng đầu ở trẻ em dưới 5
tuổi, chủ yếu do viêm phổi. Ở các nước đang phát triển, theo số liệu của Tổ
chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi trẻ em trung bình trong 1 năm mắc
NKHHC từ 4 – 9 lần, ước tính trên toàn cầu mỗi năm có khoảng 2 tỷ lượt
trẻ mắc NKHHC chiếm 19 – 20 % số trẻ dưới 5 tuổi tử vong trên toàn cầu.
Tại khu vực Đông Nam Á tử do nhiễm khuẩn hô hấp vẫn là nguyên nhân
cao nhất (25%) trong các nguyên nhân tử vong ở trẻ [3], [4].
Theo Ruan I (2005), ước lượng tỉ lệ viêm phổi ở trẻ em dưới 5 tuổi
trên toàn cầu trong các nghiên cứu dọc dựa vào cộng đồng cho thấy: Tỉ lệ
mới mắc các đợt viêm phổi ở các nước đang phát triển là 0,29 đợt/năm/trẻ,
ở các nước phát triển là 0,026 đợt/năm/trẻ và trên 95% các đợt viêm phổi ở
trẻ em trên Thế giới xảy ra ở các nước đang phát triển [5]. Năm 2004,
Michael Ostapchuk và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu tình hình viêm phổi
mắc phải ở cộng đồng thuộc Châu Âu và Bắc Mĩ cho thấy viêm phổi mắc
phải cộng đồng (Community Acquired Pneumonia – CAP) là 1 trong những
nhiễm khuẩn phổ biến nhất ở trẻ em với số mới mắc phải hàng năm là từ 34
– 40 ca trên 1000 trẻ. Mặc dù tử vong do CAP là hiếm gặp ở các nước công
nghiệp phát triển nhưng lại là bệnh phổ biến nhất ở trẻ em dưới 5 tuổi. Ở
các nước đang phát triển không những tỉ lệ mắc bệnh này cao mà còn gây
tử vong cao [6]. Nhiễm khuẩn hô hấp dưới là một trong những nguyên
nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ tại các nước đang phát triển [7]. Nghiên
cứu của Baqui A. H và cộng sự (2007) ở Bangladesh cho thấy, tỉ lệ nhập
viện ở trẻ dưới 2 tuổi là cao hơn so với trẻ lớn tuổi, và khoảng 25% các

-3-




Như vậy, qua một số nghiên cứu ở trên Thế giới và Việt Nam cho
thấy, tình hình mắc và tử vong do NKHHC ở trẻ dưới 5 tuổi ở các nước
đang phát triển nói chung và ở nước ta nói riêng còn cao. Tuy nhiên còn ít
nghiên cứu đề cập tới tình hình mắc bệnh và tử vong do NKHHC ở trẻ em
dưới 5 tuổi tại các khu vực nông thôn. Vì vậy đây là vấn đề cần quan tâm
nghiên cứu và đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm giảm tình trạng nhiễm
khuẩn hô hấp cấp ở trẻ em.
1.2. Nhiễm khuẩn hô hấp cấp là gì?
1.2.1. Đặc điểm hệ hô hấp của trẻ em [1]
Hệ hô hấp trẻ em kể từ mũi đến phế nang, chia làm 2 phần: đường hô
hấp trên và đường hô hấp dưới, được giới hạn bởi nắp thanh quản.
Về sinh lí, hệ hô hấp có chức năng giúp cơ thể hít thở khí trời để hấp
thụ O2 và thải CO2. Hô hấp trên chuẩn bị điều kiện để phần hô hấp dưới
hoàn thành tốt chức năng: mũi và các cuống mũi có tổ chức cương, tự động
điều chỉnh diện tích tiếp xúc với khí thở vào, nên không khí vào phổi đã ấm
bằng thân nhiệt cho dù không khí ngoài trời ở nhiệt độ nào. Cũng nhờ hệ
mạch và tổ chức cương ở mũi, không khí vào phổi đã được bão hòa hơi
nước, tạo điều kiện cho đường thở loại bỏ được vi khuẩn, virus, bụi ra khỏi
phổi. Mỗi khi uống nước hay có vật gì va chạm vào thanh quản thì hình
thành phản xạ ho bật ra làm cho dị vật không rơi vào khí quản và phổi
được.
Ở họng có hệ thống limphô bao gồm các amidan vòm họng (VA),
vòi nhĩ, đáy lưỡi, khẩu cái (amidan) và nhiều tổ chức limphô rải rác ở niêm
mạc họng, đó là hệ thống miễn dịch, có vai trò làm tăng khả năng miễn
dịch, có vai trò làm tăng khả năng miễn dịch cho cơ thể mỗi khi “va chạm”
với virut và vi khuẩn, biểu hiện bằng các đợt viêm mũi họng cấp tính tái
diễn nhiều lần ở trẻ. Đường thở trên ngoài chức năng hô hấp còn có chức



-6-


Một số ít trường hợp do nhiễm kí sinh trùng, hoặc do nấm Candida
Albicans gây nên.
Virut nguy hiểm gần đây đối với trẻ nhỏ đó là H5N1, gây nên hội
chứng hô hấp cấp tính nặng là một bệnh đường hô hấp gây tử vong cao, do
một loại virut thuộc chủng Coronavirus gây nên.
1.2.3.2. Các yếu tố thuận lợi cho sự phát triển của bệnh[2]
Do dinh dưỡng không tốt dẫn tới suy dinh dưỡng, sức đề kháng
giảm, trẻ dễ mắc các bệnh nhiễm trùng và nhiễm trùng lại là nguyên nhân
gây suy dinh dưỡng. Do đó dinh dưỡng không tốt và nhiễm trùng là một
vòng khép kín làm tăng tỉ lệ tử vong ở trẻ. Trẻ không được nuôi bằng sữa
mẹ có nguy cơ mắc bệnh cao hơn trẻ được nuôi bằng sữa mẹ.
Yếu tố tuổi và cân nặng: trẻ càng nhỏ càng dễ mắc bệnh. Trẻ đẻ non,
đẻ thiếu cân có nguy cơ mắc bệnh và khi mắc thường rất nặng, dễ dẫn đến
tử vong.
Yếu tố môi trường:
- Ô nhiễm không khí: không khí có nhiều khói bụi dễ gây bệnh, trong các
hộ gia đình, khói đun bếp củi, bếp than, khói thuốc lá cũng là nguy cơ làm
tăng nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ em.
- Chật chội, đông đúc: Do điều kiện sinh hoạt thiếu thốn, nhà ở chật trội, tối
tăm, điều kiện vệ sinh kém. Ở các vùng đông dân cư, các vùng đô thị,
trường học, nhà trẻ là những nơi dễ lây lan bệnh.
- Phơi nhiễm với lạnh và ẩm ướt cũng là một yếu tố nguy cơ làm tăng
nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ.
Thời tiết, khí hậu lạnh, đặc biệt là khi thời tiết thay đổi đột ngột làm
mất nhiệt trên da gây phản ứng co mạch, lần lượt là bàn chân, bàn tay, mặt,
toàn thân. Ở trẻ em, diện tích da so với cơ thể lớn hơn ở người lớn cho nên

Muốn xác định nhịp thở nhanh phải dựa vào đếm nhịp thở.
Có 2 nguyên tắc đếm nhịp thở của trẻ em:
- Đếm khi trẻ yên tĩnh.
-8-


- Đếm trọn trong 1 phút.
Cách đếm nhịp thở: dùng đồng hồ có kim giây hoặc đồng hồ cát.
Đếm nhịp thở lúc trẻ nằm yên hoặc đang ngủ. Quan sát lồng ngực và đếm
nhịp thở trong vòng 1 phút.
Ngưỡng nhịp thở nhanh theo tuổi:
- Trẻ dưới 2 tháng: nhịp thở 60 lần/phút trở lên.
- Trẻ từ 2 tháng đến 12 tháng: nhịp thở 50 lần/phút trở lên.
- Trẻ từ 12 tháng đến 60 tháng: nhịp thở 40 lần/phút trở lên.
Lưu ý: Đối với trẻ dưới 2 tháng tuổi khi đếm lần 1 mà nhịp thở
nhanh phải đếm lại lần 2 và lấy kết quả lần 2.
1.2.4.2.3. Thể bệnh nặng và rất nặng
* Đối với trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi:
Thể viêm phổi nặng khi trẻ có 2 triệu chứng ho, rút lõm lồng ngực.
Ngoài ra có thể có sốt, nhịp thở nhanh hoặc không.
Thể bệnh rất nặng: thể này có thể do nhiều nguyên nhân gây nên,
hoặc là hậu quả của nhiều bệnh, trong đó phần lớn là do nhiễm khuẩn
đường hô hấp gây nên. Nếu được phân loại ở thể bệnh này khi có một trong
các dấu hiệu sau: li bì khó đánh thức, co giật, không uống được, thở rít khi
nằm yên, suy dinh dưỡng nặng.
* Đối với trẻ dưới 2 tháng tuổi:
Thể viêm phổi nặng khi có 2 dấu hiệu chính ho, nhịp thở nhanh hoặc
rút lõm lồng ngực. Lứa tuổi này khác với trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi chỉ cần
nhịp thở nhanh đã phân loại là viêm phổi nặng.
Thể bệnh rất nặng khi có một trong các dấu hiệu sau: bú kém hoặc

Khi thấy trẻ ho, sốt cao trên 38,50 C, nhịp thở nhanh, rút lõm lồng
ngực, tím tái, cần chuyển trẻ tới ngay cơ sở y tế gần nhất.

- 10 -


1.2.6. Các biện pháp phòng bệnh [2]
Để góp phần giảm tỷ lệ tử vong và mắc bệnh nhiễm khuẩn đường hô
hấp, nhất là trẻ em, cần lưu ý hướng dẫn các biện pháp phòng bệnh sau:
1.2.6.1. Đảm bảo việc nuôi con bằng sữa mẹ
Cho trẻ bú sớm để tận dụng lượng kháng thể rất cao có từ nguồn sữa
non, giúp trẻ phòng chống 1 số nhiễm khuẩn ngay từ khi mới ra đời, do sức
đề kháng còn rất kém. Hướng dẫn tiếp tục cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6
tháng đầu, bú mẹ theo nhu cầu và bú kéo dài cho đến 18 hoặc 24 tháng
hoặc lâu hơn để trẻ tiếp nhận đầy đủ dinh dưỡng từ sữa mẹ giúp trẻ phát
triển tốt về thể chất, thông minh và có đầy đủ sức đề kháng chống lại bệnh
tật.
1.2.6.2. Đảm bảo cho trẻ ăn bổ sung hợp lý
Đúng nguyên tắc: cho ăn từ ít đến nhiều, từ loãng đến đặc để trẻ
thích nghi dần với thức ăn mới lạ.
Hợp lý về thời gian, hợp lý về chế độ: Phải thực hiện cho trẻ ăn đầy
đủ các thành phần như trong ô vuông thức ăn, thực hiện phương pháp tô
màu bát bột để trẻ được nuôi dưỡng một cách hợp lý, trẻ sẽ lớn nhanh khỏe
mạnh không ốm đau bệnh tật.
1.2.6.3. Đảm bảo vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường sạch sẽ
Không nên đun bếp gần phòng, hút thuốc lá trong phòng nuôi dưỡng
và chăm sóc trẻ. Nhà cửa thoáng mát, sạch sẽ.
1.2.6.4. Giữ ấm
Giữ ấm cho trẻ về mùa đông, khi thay đổi thời tiết để trẻ không bị
nhiễm lạnh. Về mùa hè nên giữ trẻ thoáng mát tránh ra nhiều mồ hôi sẽ

Nội Bài và nằm sát sân bay quốc tế Nội Bài.
*Về đặc điểm khí hậu: Mai Đình mang những đặc điểm của khí hậu nhiệt
đới gió mùa ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa, độ ẩm
và lượng mưa khá lớn.
- 12 -


* Về tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường:
- Kinh tế: Xã có nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp trồng lúa, hoa
màu. Bên cạnh đó là buôn bán hàng hóa, du lịch dịch vụ, chăn nuôi. Trong
năm 2011 xã đã có những chuyển biến về kinh tế: tổng giá trị sản xuất ước
đạt 432 tỷ đồng tăng 11,1% so với năm trước. Thu nhập bính quân đầu
người đạt 24 triệu/người/năm.
- Văn hóa – xã hội: công tác văn hóa – xã hội của xã luôn được quan tâm
chỉ đạo, xã tổ chức tốt các hoạt động tuyên truyền chào mừng và phục vụ
các sự kiện lớn của đất nước và địa phương như: phục vụ và chào mừng
thành công Đại hội Đảng toàn quốc, bầu cử Đại biểu quốc hội và đại biểu
HĐND các cấp nhiệm kì 2011 – 2016. Tổ chức và duy trì thường xuyên
các phong trào văn hóa văn nghệ thể dục thể thao, làm tốt công tác tuyên
truyền nâng cao nhận thức của nhân dân trong xây dựng nông thôn mới,
quản lý tốt các dịch vụ văn hóa, lễ hội trên địa bàn; Công tác giáo dục –
đào tạo với chất lượng giáo dục từng bước được nâng cao, xã đã hoàn
thành chương trình phổ cập giáo dục trung học, tỉ lệ học sinh học hết trung
học cơ sở được học tiếp lên trung học phổ thông, bổ túc, học nghề đạt
98,5%, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 46%; công tác y tế, chăm sóc sức
khỏe cho nhân dân được quan tâm. Thực hiện có hiệu quả vai trò chăm sóc
sức khỏe ban đầu cho nhân dân và phòng chống dịch bệnh; xã đã chăm lo
chu đáo cho các đối tượng chính sách, người có công, các gia đình hộ
nghèo, các gia đình và cá nhân có hoàn cảnh khó khăn. Thường xuyên quan
tâm hỗ trợ các hộ nghèo và đào tạo nghề cho trên 400 lao động.

NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Trẻ em dưới 5 tuổi tại Xã Mai Đình – Huyện Sóc
Sơn – Thành phố Hà Nội và Bà mẹ có con dưới 5 tuổi trong diện điều tra.
- Địa điểm nghiên cứu: chọn 4 thôn ngẫu nhiên (Song Mai Đoài, Đạc Tài,
Nội Phật, Mai Nội ) trong 14 thôn của xã Mai Đình.
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 03 năm 2011
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp chọn mẫu
Lập danh sách trẻ dưới 5 tuổi trong 4 thôn nghiên cứu, thông qua sổ
theo dõi của trạm y tế, tổng số có 409 trẻ. Tôi đã tiến hành điều tra dựa theo
danh sách trên, kết quả thu được 386 trẻ vào diện nghiên cứu (chiếm 94,3%
theo danh sách), những trường hợp còn lại không điều tra được do vắng
mặt, hoặc sai lệch thông tin theo danh sách.
2.2.2. Chỉ số nghiên cứu
* Chỉ số thông tin chung về tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của các hộ
gia đình.
- Tỷ lệ các bà mẹ phân theo trình độ học vấn.
- Tỷ lệ các bà mẹ phân theo nhóm tuổi.
- Tỷ lệ các bà mẹ phân theo nhóm nghề nghiệp.
* Chỉ số về NKHHC của trẻ dưới 5 tuổi:
- Tỷ lệ NKHHC chung ở trẻ em dưới 5 tuổi.
- Tỷ lệ NKHH trên cấp ở trẻ em dưới 5 tuổi.
- Tỷ lệ NKHH dưới cấp ở trẻ em dưới 5 tuổi.
- Tỷ lệ NKHHC trẻ em theo các nhóm tuổi: cách tính tuổi theo quy ước
của WHO (1983) [12].
- Tỷ lệ NKHHC trẻ em theo giới.
- 15 -



Trẻ mắc NKHHC

245

63,5

Trẻ không mắc

141

36,5

NKHH trên cấp

198

51,3

NKHH dưới cấp

47

12,2

NKHHC

12.2

36.5
Không mắc


dưới cấp

Giới tính

n

%

n

%

n

%

Nam

214

129

60,2

103

48,1

26


47

12,2

Từ kết quả trên cho thấy tỷ lệ trẻ nam và nữ mắc NKHHC gần tương
đương nhau, không có sự khác biệt về NKHH trên cấp và NKHH dưới cấp
giữa trẻ nam và trẻ nữ
Bảng 3: Phân bố tỷ lệ mắc NKHHC ở trẻ dưới 5 tuổi theo nhóm
tuổi
Tình trạng bệnh
n

NKHHC

NKHH

NKHH

Chung

trên cấp

dưới cấp

Nhóm tuổi

n

%


46,1

23

30,3

12

15,8

12 – 35 tháng

125

95

76,0

79

63,2

16

12,8

35 – 60 tháng

168



Từ kết quả bảng 3 và các biểu đồ cho thấy trẻ trong độ tuổi từ 12
tháng tuổi đến 35 tháng tuổi mắc NKHH trên cấp chiếm tỷ lệ cao nhất
(63,2%), trẻ mắc NKHH dưới cấp chiếm tỷ lệ cao nhất (15,8%) là trẻ trong
độ tuổi từ 2 tháng đến dưới 12 tháng tuổi. Trẻ trong độ tuổi dưới 2 tháng
mắc NKHH trên cấp chiếm tỷ lệ ít nhất (29,4%) và trẻ trong độ tuổi từ 35

- 19 -


tháng đến 60 tháng tuổi mắc NKHH dưới cấp là chiếm tỷ lệ ít nhất
(10,1%).
3.2. Phân bố tỷ lệ NKHHC theo các yếu tố liên quan
Bảng 4: Phân bố tỷ lệ NKHHC ở trẻ dưới 5 tuổi theo trình độ học
vấn của mẹ
Tình trạng bệnh
n

NKHHC

NKHH

NKHH

Chung

trên cấp

dưới cấp


62

45

72,6

32

51,6

13

21,0

THCS

155

102

65,8

84

54,2

18

11,6


12,2

Tỷ lệ %

Mù chữ, biết đọc, biết viết.

80
70
60
50
40
30
20
10
0

75

72.6
65.8
55.2

54.2

51.6

49

45.8

THPT và trên THPT ( 55,2).
Bảng 5: Phân bố tỷ lệ mắc NKHHC ở trẻ dưới 5 tuổi theo nghề
nghiệp của mẹ
Tình trạng bệnh
n
Nghề nghiệp

NKHHC

NKHH trên

NKHH

Chung

cấp

dưới cấp

n

%

n

%

n

%


12,0

Giáo viên, CBCC

64

38

59,4

31

48,4

7

10,9

Tổng

386

245

63,5

198

51,3

Cai sữa

n

%

n

%

n

%

Dưới 12 tháng

106

86

81,1

58

54,7

28

26,4


21

21,6

chủng

nhưng không

289

168

58,1

142

49,1

26

9,0

đúng lịch
Đủ và đúng lịch

- 21 -


Qua kết quả từ bảng trên cho thấy: trẻ cai sữa dưới 12 tháng chiếm tỷ
lệ mắc NKHHC cao (81,1%), trẻ được cai sữa trên 18 tháng tỷ lệ mắc bệnh

n

%

Nhà ẩm thấp

97

71

73,2

55

56,7

16

16,5

Nhà thoáng mát

289

174

60,2

143


115

50,0

25

10,9

Có hút thuốc

288

196

68,1

158

54,9

38

13,2

Không có hút thuốc

98

49


116

55,0

97

46,0

19

9,0

không có.

Từ bảng kết quả trên cho thấy: tỷ lệ trẻ mắc NKHHC sống trong nhà
ẩm thấp (73,2%) cao hơn tỷ lệ trẻ sống trong nhà thoáng mát (60,2%), trẻ
sống trong gia đình có đun bếp trong nhà có tỷ lệ mắc NKHHC (67,3%)
cao hơn tỷ lệ trẻ mắc NKHHC sống trong gia đình không đun bếp trong
nhà. Tỷ lệ trẻ mắc NKHHC trong gia đình có hút thuốc (68,1%) cao hơn tỷ
lệ trẻ sống trong gia đình không có hút thuốc (50,0%). Trẻ sống trong gia
đình có chuồng nuôi gia súc gần nhà có tỷ lệ mắc NKHHC (73,7%) cao

- 22 -


hơn so với tỷ lệ trẻ sống trong gia đình có chuồng gia súc xa nhà và không
có chuồng nuôi gia súc (55,0%).
Bảng 8: Phân bố tỷ lệ NKHHC ở trẻ dưới 5 tuổi theo tuổi của mẹ
Tình trạng bệnh
N

68,8

8

50,0

3

18,8

Từ 20 đến 35 tuổi

284

178

62,7

148

52,1

30

10,6

Trên 35 tuổi

86


nhau. Tuy nhiên vẫn thấy rằng tỷ lệ trẻ mắc NKHHC là con của các bà mẹ
dưới 20 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (68,8%) và thấp nhất là con các bà mẹ
trong độ tuổi từ 20 đến 35 tuổi (62,7%).
Bảng 9: Thái độ của bà mẹ với NKHHC ở trẻ dưới 5 tuổi
Thái độ

Rất

Đồng ý

đồng ý

Không

Phản

Không

đồng ý

đối

biết

Nội dung

N

Trẻ mắc NKHHC có thể


n

%

n

%

n

%

phát hiện tại nhà
Có thể phòng NKHHC cho
trẻ
NKHHC được phát hiện
sớm sẽ tránh được bệnh
nặng và tử vong.
- 23 -


Từ bảng kết quả trên cho thấy các bà mẹ có thái độ tốt (đồng ý)
chiếm tỷ lệ cao khoảng từ 69,2% đến 73,8%, tỷ lệ các bà mẹ không biết
chiếm khoảng từ
5,6% đến 7,3%.
Bảng 10: Hiểu biết của bà mẹ về dấu hiệu NKHHC thường gặp
Thái độ

Rất



%

n

%

Ho

62 16,1 306

79,3 11 2,8

2

0,5

5

1,3

Hắt hơi, sổ mũi

68 17,6 298

77,2 10 2,6

3

0,8


1,6

118

30,6

Rút lõm lồng ngực

2

85

22,0 3

1

0,3

295

76,4

0,5

0,8

Qua kết quả trên cho thấy: Đối với các dấu hiệu ho, hắt hơi sổ mũi tỷ
lệ các bà mẹ đồng ý chiếm tỷ lệ cao 77,2% và 79,3%, các bà mẹ không biết
chiếm tỷ lệ rất nhỏ (1,3%). Đối với dấu hiệu thở nhanh, thở rít các bà mẹ co


đối

biết

n

%

n

%

n

%

n

%

Ngủ li bì, khó đánh thức

13

3,4 255

66,1

15


Thở rít khi nằm yên

20

5,2 230

59,6

8

2,1

9

2,3

119

30,8

Không uống được, bỏ bú

23

6,0 223

57,8

20

và tím tái)
Từ bảng kết quả trên cho thấy: tỷ lệ các bà mẹ có thái độ đồng ý đối
với các dấu hiệu của bệnh nặng cần đưa trẻ tới cơ sở y tế chiếm tỷ lệ cao
nhất từ khoảng 57,8% đến 74,1%, số các bà mẹ không biết chiếm tỷ lệ từ
17,9% đến 30,8%.

- 25 -



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status