ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là tình trạng viêm nhiễm cấp tính đường
hô hấp do virus hoặc vi khuẩn, đây là bệnh lý phổ biến và nguyên nhân gây tử
vong hàng đầu cho trẻ em dưới 5 tuổi. Trên thế giới hằng năm có khoảng 15
triệu trẻ em dưới 5 tuổi chết, trong đó 5 triệu trẻ em chết vì nhiễm khuẩn hô
hấp cấp, tính ra cứ 8 giây có một trẻ chết vì nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, chủ
yếu thường gặp ở các nước đang phát triển. Trong các nguyên nhân gây tử
vong ở trẻ em thì nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính chiếm hàng đầu (37,6%), tiếp
đến là tiêu hoá (26,4%), bệnh máu (4,3%), tim mạch (4,2%) và thận (1,7%),
còn lại là các nguyên nhân khác, là một trong những vấn đề cần quan tâm đặc
biệt trong chăm sóc sức khoẻ cộng đồng. Tổ chức y tế thế giới đã nhận thức
được vai trò quan trọng của bệnh này, nên từ năm 1981 đã đưa chương trình
phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ em trên phạm vi toàn cầu.
Ở Việt Nam, với trẻ dưới 5 tuổi tình trạng nhiễm khuẩn hô hấp cấp
cũng không nằm ngoài khả năng ấy. Hằng năm, tỷ lệ trẻ nhiễm bệnh hô hấp
cấp vào nhập viện tại các bệnh viện là rất cao và tỷ lệ tử vong cũng rất lớn,
xếp hàng đầu trong các bệnh thường gặp ở trẻ em và một điểm đặc biệt của
bệnh này là thường mắc nhiều lần trong năm trên một trẻ, gây ảnh hưởng đến
sức khoẻ của trẻ và ảnh hưởng nhiều đến ngày công lao động của cha mẹ.
Theo số liệu điều tra chung của toàn quốc thì tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do
nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ( NKHHCT) chiếm 1/3 so với trẻ em vào khám
và chữa bệnh tại các bệnh viện. Ước tính hàng năm có khoảng 20.000 -
25.000 trẻ chết vì bệnh lý đường hô hấp.
Nhận thức được tầm quan trọng của nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ
em, Việt Nam là một trong những nước trên thế giới sớm triển khai chương
trình phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, từ năm 1984 đến nay chương
1
trình đã triển khai rộng khắp trên toàn quốc và hiệu quả của chương trình
mang lại cũng rất rõ rệt, tỷ lệ tử vong do nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính giảm
đáng kể. Tuy nhiên, tỷ lệ mắc vẫn còn cao và việc sử dụng kháng sinh chưa
rất nặng. Tỷ lệ mắc bệnh cũng rất cao, theo số liệu nghiên cứu của một số
nước thì tỷ lệ trẻ bị mắc bệnh NKHHCT đến khám và điều trị tại các cơ sở y
tế như sau: Theo số liệu của Wajula (1991) tỷ lệ đến khám vì NKHHCT ở
Irak là 39,3%, Brazil 41,1%, Anh 30,5%, Autralia 34,0% và Việt Nam 30-40
% theo Nguyễn Đình Hường.
Năm 1991 tại hội nghị Washington đã thông báo số lần mắc bệnh viêm
phổi trẻ em mỗi năm trên 100 trẻ ở Gadchiroli Ấn Độ là 13,0; Gambia 17,0;
Maragua Kenia là 18,0; Thái Lan là 7,0; Hoa Kỳ 3,6 . Số lần mắc NKHHCT
hàng năm ở Coxta Rica là 5,9 (trẻ dưới 1 tuổi) và 7,2 (trẻ từ 1-2 tuổi), ở
Nigeria là 7,5; Ấn Độ là 5,6 và 5,3; ở Seattle Hoa Kỳ là 4,5 và 5,0 [5].
Chúng ta thấy số lần mắc NKHHCT mọi thể (nhẹ, nặng) không chênh lệch
nhiều gữa các quốc gia, nhưng số lần mắc viêm phổi là thể bệnh nặng dễ đưa
đến tử vong thì giữa các nước nghèo, đang phát triển gấp 5 lần so với các
nước giàu [5].
Các số liệu trên chứng tỏ NKHHCT là bệnh phổ biến ở các nước đang phát
triển, bệnh có tỷ lệ tử vong cao. Vì vậy, đầu năm 1983 TCYTTG đã có
chương trình phòng chống NKHHC ở trẻ em trên phạm vi toàn cầu. Đặc biệt
3
là các nước đang phát triển, với mục tiêu là giảm tỷ lệ tử vong và sau đó giảm
tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ em dưói 5 tuổi.
Vào năm 1984, theo số liệu của Pio, Leowsky và Ten Dam báo cáo tại hội
nghị Sydney, hội nghị khu vực Nam Á đầu tiên về NKHH, số trường hợp mắc
bệnh viêm phổi mỗi năm trên 100.000 trẻ < 5 tuổi như sau: Tại Đông Quan
(Trung Quốc) là 74,6; tại bang Punjab (Ấn Độ) là 94,1; tại vùng Tari Basin,
Papua Niu Ghinê là 256% ở trẻ < 1 tuổi và 62 ở trẻ từ 1-4 tuổi [6].
Mặc dù NKHHC có tỷ lệ mắc cao, nhưng hơn 70 % các trường hợp chỉ là
NKHH trên (ho, sốt đơn thuần), tức là không viêm phổi. Chỉ còn khoảng 25-
30% trường hợp là viêm phổi theo phân loại của TCYTTG. Theo số liệu
thông báo tại hội nghị Washington (1999 chương trình NKHHC trẻ em).
Lê Văn Nhi 1995 7,8 lượt/ trẻ/ năm
Hoàng Việt Nên 1998 7,8 lượt/ trẻ/ năm
Theo nhiều nghiên cứu khác ở Việt Nam, NKHHC ở trẻ em là bệnh
đứng hàng đầu về tỷ lệ mắc và tử vong. Theo Nguyễn Đình Hường tỷ lệ
NKHHCT đến khám ở các cơ sở y tế là 30- 40 %. Theo báo cáo của viện bảo
vệ sức khoẻ trẻ em thì tỷ lệ mắc NKHHCT vào điều trị là 44%, và tử vong do
bệnh hô hấp là 37,6 % ( cao nhất) [6] .
Một điều tra 5 tỉnh phía nam cho biết trẻ mắc NKHHCT là 47 % . Tại
bệnh viện Nhi Đồng II, theo GS Tạ Thị Ánh Hoa và BS Đoàn Vân (1989), tỷ
lệ trẻ vào bệnh viện điều trị do bệnh hô hấp trong 3 năm (1983-1985) là
38,7% ; 29,5% ; và 27,9 %, so với vào viện do tiêu chảy là 16,6 % ; 15,6 %;
14,4% và do SDD nặng là 5% ; 5,4% ; 5,2%. Qua số liệu trên cho thấy
NKHHCT được xếp hàng số 1 [6].
5
1.3. TÓM TẮT GIẢI PHẨU SINH LÝ BỘ PHẬN HÔ HẤP TRẺ EM
1.3.1. Mũi
Niêm mạc mũi mỏng, mịn, lớp ngoài của niêm mạc gồm:
Các biểu mô hình trụ, giàu mạch máu và bạch huyết, tổ chức này là hàng
rào của niêm mạc mũi còn yếu do khả năng sát trùng và niêm dịch còn kém,
trẻ dễ bị viêm nhiễm mũi họng, sự hô hấp bằng đường mũi còn hạn chế vì
mũi và khoang hầu còn tương đối ngắn và nhỏ, lỗ mũi ống hẹp.
1.3.2. Họng - hầu
Ở trẻ dưới một tuổi, vòng bạch huyết thanh quản ít phát triển, hai hạt nhân
còn bé, cuối năm đầu mới nhìn thấy rõ nên trẻ nhỏ ít bị viêm hạt nhân mạnh
(amidan). Ngược lại vòng bạch huyết quanh hầu mũi lại phát triển mạnh dễ bị
viêm VA (amidan vòm), đến lúc lớn tuổi vòng bạch huyết này nhỏ dần.
Niêm mạc họng được phủ một lớp biểu mô rung hình trụ. Vòng bạch
huyết waldayer phát triển mạnh đến tuổi dậy thì. Ở trẻ nhỏ hơn một tuổi tổ
trên toàn bộ đường hô hấp bao gồm từ mũi, họng, thanh khí phế quản đến nhu
mô phổi.
1.6. NGUYÊN NHÂN GÂY NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP TÍNH Ở
TRẺ EM [22]
Tác nhân chủ yếu gây NKHHCT ở trẻ em là virus và vi khuẩn, trong đó
ghi nhận phần lớn là do virus vì:
- Phần lớn các virus có ái lực với đường hô hấp.
- Khả năng lây lan của virus dễ dàng.
- Tỷ lệ người lành mang virus cao.
- Khả năng miễn dịch đối với virus yếu và ngắn.
Các virus thường gặp gây NKHHCT ở trẻ em xếp thứ tự như sau [22],
[5], [23]:
7
- Respiratory SyncitralVirus.
- Virus cúm ( Influenzae virus).
- Virus á cúm. (Para influenzae virus)
- Virus sởi.
- Virus hạch (Adeno virus).
- Virus mũi (Rhino virus) .
- Virus ruột (Entero virus) .
- Corona virus.
- Virus H1N1 [4].
Virus gây NKHH chủ yếu là NKHHCT trên, nhất là trẻ nhỏ dưới 3 tuổi.
Virus là căn nguyên gây NKHHCT làm giảm sức đề kháng, gây tăng xuất tiết,
giảm thực bào, giảm hoạt động của lông mao, gây phù nề và viêm loét niêm
mạc nơi tổn thương tạo điều kiện thuận lợi để vi khuẩn bội nhiễm.
Vi khuẩn thường gây NKHHCT thứ phát sau virus. Các vi khuẩn gây
NKHHCT ở trẻ em dưới 5 tuổi theo thứ tự thường gặp là: Haemophilus
Influenzae và Streptococus Pneumoniae là chủ yếu. Ngoài ra có thể gặp
sóc kém, thiếu hiểu biết về chăm sóc, đông con, thu nhập thấp ….)
Nhà đông con, khoảng cách sinh dày, tập quán hoặc thói quen chăm sóc trẻ
lạc hậu, bà mẹ lớn tuổi, thu nhập thấp, học vấn thấp hoặc mù chữ. Ở những
nơi đời sống kinh tế xã hội thấp kém như ở các nước đang phát triển thì ở đó
cơ sở hạ tầng cũng giảm sút, gây tác động lớn vào cơ sở thượng tầng nhất là
chăm sóc sức khoẻ con người. Đặc biệt chăm sóc trẻ em bị giảm sút, sẽ là
nguy cơ cho bệnh tật, tử vong tăng trội ở trẻ em, trong đó đáng kể là viêm
phổi cấp.
9
1.8. CÁC DẤU HIỆU THƯỜNG GẶP KHI TRẺ MẮC NKHHCT
Những dấu hiệu khi trẻ mắc bệnh NKHHCT là: ho, sốt hoặc hạ thân nhiệt,
chảy mũi nước, thở nhanh, khó thở, thở khò khè, rút lõm lồng ngực, cánh mũi
phập phồng, tím tái, co giật, thở rít khi nằm yên, bỏ bú hoặc bú kém, ran ẩm,
ran nổ tuỳ vào bệnh nặng nhẹ, vào lứa tuổi và vị trí tổn thương. Qua
nghiên cứu của Trần Quỵ và cộng sự [24] cho thấy các dấu hiệu thường gặp
khi trẻ bị NKHHCT như sau:
- Ho: 83,7%.
- Sốt : 78%.
- Chảy mũi nước: 60,8%.
- Thở khò khè: 43,9%
- Thở nhanh : 38,5%.
- Thở rít : 15,5%
- Co rút lồng ngực 12,4%
- Cánh mũi phập phồng 12,1%
- Tím tái : 3,2% .
1.9. PHÂN LOẠI NKHHCT
1.9.1. Phân loại theo vị trí tổn thương
Lấy nắp thanh quản làm ranh giới, nếu tổn thương trên nắp thanh quản là
nhiễm khuẩn đường hô hấp trên và tổn thương dưới nắp thanh quản là nhiễm
1 tuổi.
- Sau đó là giảm tỷ lệ mắc viêm phổi nặng .
- Mục tiêu thứ 3 là tăng tỷ lệ sử dụng thuốc hợp lý trong điều trị
NKHHCT và tăng sự hiểu biết của các bà mẹ và cách phát hiện bệnh cũng như
chăm sóc khi trẻ mắc NKHHCT. Chiến lược hoạt động của chương trình để đạt
đựơc mục tiêu gồm 4 hoạt động sau: huấn luyện cho cán bộ y tế các tuyến về
11
khả năng xử trí NKHHCT theo phát đồ của TCYTTG, truyền thông giáo dục
sức khoẻ cho các bà mẹ để nhận biết các dấu hiệu của bệnh cũng như cách
chăm sóc trẻ tại nhà, cung cấp thuốc và trang thiết bị cho tuyến y tế cơ sở.
Đến năm 2000 chương trình NKHHCT ở trẻ em đã triển khai 97,9 % số
xã phường thuộc 61 tỉnh, thành trong cả nước bảo vệ khoảng 97,6 % trẻ em
dưới 5 tuổi .
Sau 20 năm thực hiện chương trình, hiệu quả của hoạt động rất cao, tỷ
lệ tử vong do viêm phổi đã giảm xuống rất thấp, trong 2 năm 1999-2000 tổng
số trẻ tử vong do viêm phổi chỉ còn dưới 1% so với tử vong chung. Hiện nay,
chương trình đã phủ khắp từ xã đến huyện của 64 tỉnh thành trong cả nước.
1.10.1. Nhận biết dấu hiệu và xử trí của bà mẹ khi trẻ mắc NKHHCT
Hiện nay, ở các nước đang phát triển vẫn còn nhiều bà mẹ không biết
nhận biết các dấu hiệu NKHHCT cũng như không biết chăm sóc trẻ, khi trẻ
mắc NKHHCT . Trên thực tế, dù cán bộ y tế có giỏi và được trang bị đầy đủ
thuốc men, phương tiện, nhưng nếu bà mẹ không biết phát hiện dấu hiệu của
bệnh mà chỉ đưa bệnh đến cơ sở y tế khi bệnh đã nặng, nguy kịch thì khả
năng cứu sống trẻ rất thấp. Cho nên trong nhiều năm qua, một trong các chiến
lược mà TCYTTG cũng như chương trình phòng chống NKHHC ở Việt Nam
đưa ra là: Nâng cao khả năng phát hiện dấu hiệu của bệnh NKHHCT cho bà
mẹ để bà mẹ đưa trẻ đến cơ sở y tế kịp thời và biết cách chăm sóc của bà mẹ
khi trẻ bị ốm.
Một tổng kết của TCYTTG về điều tra hoạt động của tuyến y tế cơ sở ở
13
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐÔI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Các bà mẹ có con dưới 5 tuổi đang sinh sống tại xã Bình Nguyên,
huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
Các bà mẹ có con dưới 5 tuổi không có mặt tại địa phương trong giai
đoạn điều tra, những bà mẹ bị bệnh nặng hay một lý do nào khác không thể
tham gia phỏng vấn.
2.1.3. Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện tại xã Bình nguyên
2.1.4. Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện vào ngày 2- 14
tháng 3 năm 2009
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu theo phương pháp cắt ngang .
2.2.2. Chọn mẫu
Chọn các bà mẹ và con dưới 5 tuổi của xã Bình Nguyên
2.2.3. Cỡ mẫu
Chọn tất cả 335 em dưới 5 tuổi của xã đều được đưa vào nghiên cứu
cùng với 335 bà mẹ có con dưới 5 tuổi được chọn để phỏng vấn.
2.2.4. Liệt kê biến số và định nghĩa các biến số
- Giới của trẻ.
- Tuổi của mẹ.
- Nghề nghiệp của mẹ: Là nghề tạo ra thu nhập chính của người mẹ,
người mẹ dành thời gian chủ yếu cho công việc đó.
Nghề nghiệp được thống kê gồm có:
14
- Trong nhà có người hút thuốc:
+ Hút thuốc 2 điếu/ ngày/người.
- Suy dinh dưỡng (SDD):
Dựa vào danh sách cân trẻ đầu năm 2009 của xã, phiếu theo dõi cân
nặng trẻ < 5 tuổi.( trẻ trên kênh A là không SDD; trẻ ở kênh B, kênh C, kênh
D là trẻ SDD
- Cai sữa sớm:
Là trẻ cai sữa sớm hơn 18 tháng, những trẻ < 18 tháng đang có bú sữa
mẹ thì được xem là bú đầy đủ.
- Nhà ở:
+ Chật, hẹp: Nhà tạm, kém thông thoáng, ẩm thấp.
+ Rộng rãi, thoáng mát: Nhà xây, sắp xếp vật dụng ngăn nắp, không
ẩm thấp.
- Hiện có mắc bệnh NKHHCT:
Là trong vòng 2 tuần qua trẻ có dấu hiệu ho hay khó thở hoặc/và sốt.
- Hiểu biết của bà mẹ
+ Về chương trình NKHHCT
+ Về bệnh NKHHCT, cách phòng bệnh
+ Phát hiện các dấu hiệu để đưa trẻ đến cơ sở y tế (tiếp cận cán bộ y tế),
gồm các dấu hiệu: Khó thở, thở nhanh, bú kém hơn, mệt hơn.
- Đánh giá kết quả về mức hiểu biết về NKHHCT của bà mẹ:
Trả lời đúng trên 80% câu hỏi đạt loại hiểu tốt.
Trả lời từ dưới 80% câu hỏi đạt loại hiểu chưa tốt.
- Đánh giá kết quả về mức hiểu biết về chăm sóc trẻ NKHHCT của bà mẹ:
Trả lời đúng trên 80% câu hỏi đạt loại hiểu tốt.
Trả lời từ dưới 80% câu hỏi đạt loại hiểu chưa tốt.
16
- Đánh giá về hiểu biết phòng bệnh của bà mẹ
Trả lời đúng trên 80% câu hỏi đạt loại hiểu tốt.
còn được áp dụng để nhận định các mối liên quan giữa hai
hiện tượng có nhiều số liệu: 17
(Qi – Li)
χ
2
= ∑
Li
Trong đó:
• Qi: Là tần số thực nghiệm (tần số quan sát)
• Li: Là tần số lý thuyết (tần số mong đợi)
So sánh χ
2
tính được với χ
2
α
trong bảng χ
2
Nếu χ
2
≥ χ
2
α
: sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê với α < 0,05.
Nếu χ
2
χ
2
c
= n ( [ad – bc ] – ½ n ) / efgh
2.2.8. Sai số và kiểm soát sai số
- Sai số đo thông tin: Hạn chế bằng cách tập huấn kỹ cho nhóm điều tra
- Sai số nhớ lại: Đối với mục có bệnh hay không có bệnh, hạn chế chỉ
hỏi các bà mẹ các dấu hiệu trong vòng 2 tuần gần đây.
- Sai số do người điều tra: Hạn chế bằng cách kiểm tra sai sót trong
từng bảng câu hỏi, điều tra lại những bảng câu hỏi không đạt yêu cầu.
18
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. TỶ LỆ NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP TÍNH
Bảng 3.1. Tỷ lệ NKHHCT của trẻ < 5 tuổi.
Thông tin Tần số Tỷ lệ %
NKHHCT 106 31,6
Không NKHHCT 229 68,4
Tổng cộng 335 100
Nhận xét:
NKHHCT với tỷ lệ 31,6%
3.2. HIỂU BIẾT VÀ CÁCH PHÒNG CHỐNG NKHHCT CỦA CÁC BÀ
MẸ CÓ TRẺ DƯỚI 5 TUỔI.
3.2.1. Truyền thông về NKHHCT tại địa phương
Bảng 3.2. Nguồn thông tin chính bà mẹ tiếp nhận được
Nguồn thông tin Tần số Tỷ lệ %
Cán bộ y tế 245 73,13
Cán bộ khác 18 5,37
Xem tivi, đài xã 38 11,34
Tự chữa 12 3,58
Tự chữa không khỏi,đi khám 21 6,27
Đưa trẻ đi khám từ đầu 302 90,15
Tổng số 335 100
Nhận xét:
Các bà mẹ đưa con đi khám ngay khi trẻ mới bắt đầu bị bệnh chiếm tỷ
lệ cao 90,15%, các bà mẹ tự chữa là 3,58% .
3.2.4. Biết cách đếm nhịp thở của các bà mẹ
Bảng 3.5. Tỷ lệ các bà mẹ biết cách đếm nhịp thở
Biết cách đếm
nhịp thở
Tần số (n) Tỷ lệ %
Có 121 36.12
Không 214 63,88
Tổng số 335 100
Nhận xét:
Bà mẹ chưa biết cách đếm nhịp thở khi trẻ bị NKHHCT khá cao, tỷ lệ
là 63,88%, bà mẹ biết đếm nhịp thở là 36,12%.
21
3.2.5. Biết dấu hiệu đưa trẻ đi khám lại ngay
Bảng 3.6. Tỷ lệ các bà mẹ biết dấu hiệu đưa rẻ đi khám lại ngay
Biết dấu hiệu
đưa trẻ đi khám lại
Tần số (n) Tỷ lệ %
Có 303 90,45
Không 32 9,55
Tổng số 335 100
Nhận xét:
Đa số các bà mẹ biết các dấu hiệu để đưa trẻ đi khám lại ngay chiếm tỷ
Sự hiểu biết về chăm sóc trẻ NKHHCT còn chưa cao, chiếm tỷ lệ
57,90%, so với bà mẹ chưa hiểu biết là 42,10%.
3.3. CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NKHHCT
3.3.1. Mức hiểu biết về bệnh NKHHCT của các bà mẹ
Bảng 3.10. Tỷ lệ NKHHCT của trẻ < 5 tuổi phân bố theo mức hiểu biết
về bệnh của các bà mẹ:
23
Mức hiểu biết bệnh
của bà mẹ
n Số bị bệnh % bị bệnh
Ý nghĩa
thống kê
Chưa tốt 94 39 45,74
2
χ
= 5,858
P < 0,05
Tốt 241 67 27,80
Tổng số 335 106
Nhận xét:
Các bà mẹ có mức hiểu biết chưa tốt, thì con họ có tỷ lệ mắc bệnh là
45,74% cao hơn con các bà mẹ có hiểu biết tốt 27,80%. ( P < 0,05 )
3.3.2. Mức hiểu biết về phòng bệnh NKHHCT của các bà mẹ
Bảng 3.11. Tỷ lệ NKHHCT ở trẻ < 5 tuổi phân bố theo mức hiểu biết
của bà mẹ về phòng bệnh:
Mức hiểu biết
phòng
bệnh của bà mẹ
n Số bị bệnh % bị bệnh
Nhóm bà mẹ có học vấn mù chữ và cấp I có con bị NKHHCT khá cao
là 58,33%, so với nhóm cấp II trở lên là 29,58%. ( p < 0,05).
3.4. MỘT SỐ YẾU TỐ KHÁC
3.4.1. Tuổi mẹ
Bảng 3.13. Tỷ lệ NKHHCT ở trẻ < 5 tuổi phân bố theo tuổi của bà mẹ
Tuổi của bà mẹ n Số bị bệnh % bị bệnh
Ý nghĩa
thống kê
< 30 204 65 31,86
2
χ
= 0,012
p > 0,05
> 30 131 41 31,3
Tổng số 335 106 31,60
Nhận xét:
Nhóm trẻ là con của những bà mẹ có tuổi nhỏ hơn hoặc bằng 30 có tỷ
lệ mắc bệnh (31,86%), cao hơn những đứa trẻ con của những bà mẹ có tuổi
đời trên 30 (31,3%), sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê.
25