1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được
công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào khác.
Huế, tháng 5 năm 2012
Tác giả luận văn
Nguyễn Bá Phúc Nguyên
2
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
- EPA (Environmental Protection Agency) : Cơ quan bảo vệ môi trường
- FEV
1
(Forced Expiratory Volume : Thể tích thở ra tối đa trong giây
in one second) đầu tiên
- GINA (Global Initiative for Asthma) : Sáng kiến hen toàn cầu
- HTLTĐ : Hút thuốc lá thụ động
- IMCI (Integrated Management of : Xử trí lồng ghép các bệnh
Childhood Illness) thường gặp ở trẻ em
- NKHHCT : Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
- PaCO
2
: Áp lực CO
2
máu động mạch
- PaO
2
: Áp lực O
2
máu động mạch
KẾT LUẬN 40
KIẾN NGHỊ 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
4
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thông điệp của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2009: “Cảnh báo về tác hại
của thuốc lá đối với sức khoẻ”. Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới, hàng
năm có khoảng 4.900.000 người chết bởi các nguyên nhân do thuốc lá gây
nên [50]. Mỗi năm có khoảng 400.000 người Việt Nam chết vì các bệnh liên
quan đến hút thuốc. Tại Việt Nam, tình trạng hút thuốc còn khá phổ biến
trong cộng đồng, nhất là ở nông thôn [15].
Tác hại của việc hút thuốc lá đến sức khỏe đã được biết đến từ nhiều
thập kỷ trước đây. Khói thuốc lá cũng ảnh hưởng đến sức khỏe của những
người không hút thuốc, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em [24].
Hút thuốc lá thụ động là tình trạng người không hút thuốc lá phải tiếp
xúc (hít, ngửi) với hơi, khói thuốc lá do người khác hút có trong môi trường.
Các nghiên cứu gần đây tại Việt Nam cho thấy tỉ lệ trẻ em phơi nhiễm với
khói thuốc lá thụ động khá cao. Báo cáo kết quả Điều tra Y tế quốc gia năm
2002 cho thấy có tới 71,7% trẻ em dưới 5 tuổi phơi nhiễm với khói thuốc thụ
động tại gia đình [3]. Khói thuốc lá được chứng minh là gây ra các hậu quả
nghiêm trọng đối với sức khỏe trẻ em. Từ năm 2008 - 2010, nhóm nghiên cứu
của Đại học Y Hà Nội, Đại học Y tế Cộng đồng Hà Nội và Dự án
HealthBridge đã khẳng định: trẻ em dưới 6 tuổi trong gia đình có người hút
thuốc mắc các bệnh về đường hô hấp nhiều hơn 40% so với trẻ em sống trong
các gia đình không có người hút thuốc [8]. Như vậy, hút thuốc lá thụ động
gây ra nhiều bệnh tật đường hô hấp cho trẻ em trong đó phải kể tới là hen phế
quản và nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính.
5
bằng tẩu, điếu hút, nhai hoặc hít. Vào nửa sau thế kỷ XIX, khi các máy sản
xuất thuốc lá tự động được chế tạo thì việc sản xuất thuốc lá điếu đã trở nên
dễ dàng và nhanh chóng hơn (những chiếc máy đầu tiên sản xuất trung bình
200 điếu/phút, ngày nay là khoảng 9.000 điếu/phút). Do vậy việc sử dụng
thuốc lá dưới dạng điếu dần trở nên thông dụng. Từ đó xuất hiện các công ty
thuốc lá lớn với hoạt động quảng cáo rầm rộ và việc tiêu thụ thuốc lá cũng
tăng dần lên từ cuối thế kỷ XIX qua đến thế kỷ XX.
1.1.2.Tình hình sử dụng thuốc lá
1.1.2.1. Tình hình sử dụng thuốc lá trên thế giới
Hiện nay, có hơn 1,25 tỷ người hút thuốc lá trên toàn thế giới, chiếm
1/3 dân số thế giới ( ≥ 15 tuổi).
7
Nạn dịch hút thuốc lá chuyển từ các quốc gia công nghiệp hóa sang các
quốc gia đang phát triển. Theo số liệu về số người hút thuốc tại mỗi vùng
được Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) thu thập qua hơn 80 nghiên cứu độc
lập trong bảng các nhóm nước thì 82% người hút thuốc ở các nước đang phát
triển, 18% ở các nước phát triển [5], [46].
Thuốc lá giết chết một nửa số người sử dụng nó. Một nửa số này chết ở
lứa tuổi trung niên. Trung bình một ngày trên thế giới có 10.000 người chết
do sử dụng thuốc lá [16].
Năm 1994, Hội nghị toàn thế giới lần thứ 9 họp tại Paris về vấn đề
kiểm soát thuốc lá, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã lấy ngày 31 tháng 5
hàng năm làm “Ngày Thế giới không thuốc lá” [5], [16].
1.1.2.2. Tình hình sử dụng thuốc lá ở Việt Nam
Việt Nam mỗi năm tiêu thụ khoảng 1.700 triệu gói thuốc lá, trung bình
mỗi người hút từ 24 – 25 gói/năm (chưa tính thuốc lá lậu không kiểm soát
được) [5].
Theo một điều tra năm 1995, kết quả cho thấy tỉ lệ hút thuốc lá là
35,7% trong đó 73,5% nam giới hút thuốc lá và 4% là nữ hút thuốc lá. Nếu cứ
duy trì mức tiêu thụ như hiện nay thì trên 7 triệu người Việt Nam đang sống
liên quan tới sử dụng thuốc lá. Thuốc lá gây ra gần 90% tổng số người chết vì
ung thư phổi và hút thuốc lá còn gây ra ung thư ở nhiều nơi khác như họng,
thanh quản, thực quản, tuyến tụy, tử cung, cổ tử cung, thận, bàng quang, ruột
và trực tràng [5].
9
- Thuốc lá và các bệnh về phổi: Hút thuốc lá là nguyên nhân được biết
đến nhiều nhất, không những gây ung thư phổi mà nó còn gây ra những bệnh
phổi khác như là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen phế quản, nhiễm khuẩn hô
hấp [5].
- Hút thuốc lá và bệnh tim mạch: Từ năm 1940 người ta đã thấy có mối
liên hệ giữa hút thuốc lá và nguy cơ bị bệnh tim mạch, hút thuốc lá làm tăng
nguy cơ mắc các bệnh như xơ vữa động mạch, bệnh mạch vành, đột quỵ, rối
loạn nhịp tim, đột tử… lên gấp 2-3 lần [5].
1.1.4. Hút thuốc lá thụ động
- Mỗi năm có khoảng 400.000 người Việt Nam chết vì các bệnh liên
quan đến hút thuốc. Nhưng họ không phải là những người duy nhất gánh chịu
hậu quả từ thói quen của chính mình, khói thuốc lá cũng ảnh hưởng đến sức
khỏe của những người không hút thuốc, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em.
- Hút thuốc lá thụ động (HTLTĐ) là việc người không hút thuốc hít
phải khói thuốc từ người hút thuốc hoặc từ tàn thuốc hay điếu thuốc đang
cháy. Người hút thuốc hấp thu khoảng 15% khói thuốc lá, còn lại thải ra môi
trường xung quanh và những người khác phải hít thở khói thuốc độc hại đó.
- Mọi người đều có thể bị phơi nhiễm khói thuốc thụ động tại những
nơi có người hút thuốc như gia đình, nơi làm việc, hoặc tại những nơi công
cộng như xe buýt, nhà hàng…
- Thường xuyên hít phải khói thuốc thụ động làm tăng nguy cơ mắc các
bệnh tim lên 10%, mắc bệnh phổi lên 25% và tăng nguy cơ đột quỵ lên 82%.
- Tổ chức Y tế Thế giới ước tính có khoảng gần 700 triệu trẻ em, hay
một nửa số trẻ em trên thế giới phải hít thở khói thuốc thụ động, đặc biệt là tại
nhà [15].
Hen hiện nay đã trở thành một vấn đề toàn cầu. Tỷ lệ hiện mắc ở trẻ em
thay đổi từ 0 – 18% tùy theo vùng dân cư. Hen có mặt ở mọi quốc gia dù ở
trình độ phát triển nào, có vẻ trội hơn ở những nước đã phát triển. Sự gia tăng
tỷ lệ hiện mắc của bệnh hen được quy cho môi trường. Tỷ lệ hiện mắc và tỷ lệ
tử vong của hen đều đã tăng lên trong ba thập kỷ qua.
12
Các yếu tố nguy cơ làm dễ mắc bệnh hen bao gồm: Sự nghèo khó, tuổi
mẹ dưới 20 khi sinh trẻ, cân nặng lúc sinh < 2500g, phơi nhiễm với khói
thuốc lá, phơi nhiễm với dị ứng nguyên và nhiễm khuẩn hô hấp thời kỳ thơ ấu
[13].
1.2.2. Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) là nhóm bệnh rất phổ biển ở
trẻ em, đặc biệt là trẻ em dưới 5 tuổi. Đây là nhóm bệnh có tỷ lệ mắc cao, tần
suất xuất hiện nhiều lần trong năm và là một trong những nguyên nhân hàng
đầu gây tử vong cho trẻ dưới 5 tuổi trên toàn thế giới. Theo WHO, hàng năm
có khoảng 14 triệu trẻ em dưới 5 tuổi chết thì có tới 4 triệu trẻ em chết vì
NKHHCT [48]. Tỷ lệ NKHHCT còn rất cao ở các nước trên thế giới: ở nước
đang phát triển tỷ lệ hiện mắc là 51% ở nông thôn và 63% ở thành thị; ở Nam
châu Á tỷ lệ đó là 55% ở nông thôn và 70% ở thành thị; ở các nước Đông
Nam Á và Tây Thái Bình Dương tỷ lệ đó là 63% ở nông thôn và 74% ở thành
thị [48]. NKHHCT không những có tỷ lệ mắc cao mà còn bị mắc nhiều lần
trong năm. Trung bình một trẻ sẽ mắc các bệnh NKHHCT từ 3-6 lần trong
một năm [17]. Ở nước ta, một trong 3 nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ
dưới 5 tuổi là NKHHCT và 3/4 tử vong do NKHHCT là do viêm phổi.
Các yếu tố nguy cơ làm trẻ dễ mắc các bệnh NKHHCT bao gồm: trẻ
sinh ra nhẹ cân, trẻ không được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ, tiếp xúc với khói
bụi đun nấu trong nhà, phơi nhiễm với khói thuốc lá thụ động, nhiễm lạnh và
nhà ở chật chội…
1.2.3. Hen phế quản, nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính và hút thuốc lá thụ
động
14
vì các bệnh đường hô hấp dưới ở trẻ dưới 1 tuổi. Trẻ được chăm sóc ở các nơi
giữ trẻ ban ngày có tần suất mắc bệnh đường hô hấp tăng nhưng vẫn thấp hơn
trẻ được chăm sóc ở nhà bởi các bà mẹ hút thuốc nhiều [6].
Báo cáo của Hội ngoại khoa tổng quát gần đây đã kết luận “Các dữ liệu
hiện có chứng minh được rằng mẹ hút thuốc làm giảm sút chức năng hô hấp ở
trẻ nhỏ”. Những trẻ có chức năng phổi giảm sút có nhiều nguy cơ mắc các
bệnh đường hô hấp dưới trong những năm đầu đời sống. Tác động của khói
thuốc lá đối với chức năng hô hấp của những trẻ lớn hơn rất đa dạng. Một số
trẻ có sự giảm lưu lượng thở ra. Một số khác có giảm FEV
1
đặc biệt khi trẻ có
hen kèm theo [6].
Trẻ hít khói thuốc lá thụ động bị tăng gấp đôi nguy cơ mắc NKHHCT,
tăng nguy cơ viêm tai giữa và viêm đường hô hấp dưới (viêm phế quản, viêm
tiểu phế quản, viêm phổi), độ nặng của bệnh cũng gia tăng. Trẻ dưới 1 tuổi, là
con của những người hút thuốc lá sẽ bị viêm phế quản hoặc viêm phổi cao
gấp đôi những người không hút thuốc. Thêm vào đó, con của những người
hút thuốc bị nặng hơn và thường phải nằm viện lâu hơn 20% thời gian so với
con người không hút thuốc.
Theo tác giả Hà Văn Thiệu, Nguyễn Hữu Kỳ thì trẻ có phơi nhiễm với
khói thuốc lá thụ động làm tăng tỷ lệ NKHHCT so với trẻ không phơi nhiễm
khói thuốc lá [20].
Trẻ nhỏ mà bố mẹ hút thuốc mắc bệnh NKHHCT gấp 2 lần trẻ nhỏ mà
bố mẹ không hút thuốc. Tác giả Lecder theo dõi hơn 1.500 trẻ em ở London
(1976) cho biết số mắc viêm phổi hằng năm của trẻ em nếu bố mẹ không hút
thuốc là 6,2%, nếu có 1 người hút tỷ lệ tăng lên 9,7%, nếu cả hai đều hút tỷ lệ
lên đến 15,4%.
15
1.3. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC LIÊN QUAN
trẻ em có cha mẹ không hút thuốc là 47,1% với p = 0,016.
- Britton J. (2010) [24], nghiên cứu tác hại của hút thuốc lá thụ động
với sức khỏe trẻ em, nhận thấy: mẹ hút thuốc làm tăng nguy cơ viêm đường
hô hấp dưới tới 60% trong khi bất kì ai trong nhà hút thuốc thì tỷ lệ này là
50%; mẹ hút thuốc làm tăng nguy cơ xuất hiện khò khè ở trẻ em từ 65% đến
77% tùy thuộc vào độ tuổi của trẻ.
17
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1. Định nghĩa được sử dụng trong nghiên cứu:
Trẻ được coi là hút thuốc lá thụ động nếu như trong gia đình có ít nhất
một người hút thuốc lá tại nhà (trong khuôn viên nhà kể cả sân, vườn) tính tới
thời điểm điều tra.
2.1.2. Nhóm nghiên cứu
- Tất cả các trẻ từ 2 tháng tuổi đến 15 tuổi nhập viện với chẩn đoán hen phế
quản và/hoặc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính được điều trị tại Phòng Nhi Hô
hấp – Khoa Nhi, Bệnh viện Trung ương Huế.
- Tiêu chuẩn chọn:
+ Dựa trên tiêu chuẩn chẩn đoán hen phế quản ở trẻ em theo TCYTTG.
+ Trẻ được chẩn đoán nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính và được phân loại
theo TCYTTG.
- Tiêu chuẩn loại trừ:
+ Hen phế quản, NKHHCT kèm theo các bệnh khác như: bệnh tim bẩm
sinh, dị tật lồng ngực, dị tật bẩm sinh như sứt môi, hở hàm ếch, bệnh bại não,
bệnh Landon Down, suy dinh dưỡng, tiêu chảy kéo dài…
+ Các trẻ có cha mẹ không hợp tác trong quá trình điều tra.
2.1.3. Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
- Phân loại dựa vào tác nhân: Do virus hoặc vi khuẩn
18
được
Nói chuyện
Trẻ nhỏ: khóc yếu,
ngắn, bú kém
Ngồi để thở
Khi nghỉ ngơi
Trẻ nhỏ: Bỏ bú
Gập người ra
trước để thở
Nói Thành câu Từng cụm từ Từng từ Li bì
Kích thích Có thể có Thường có Thường có Li bì, lơ mơ
Tần số thở
(TST)
Tăng Tăng
Thường
> 30 l/ph
Chậm
Tần số thở bình thường ở một trẻ lúc thức:
< 2 tháng : < 60 l/ph 1 – 5 tuổi : < 40 l/ph
2 – 12 tháng : < 50 l/ph 6 – 8 tuổi : < 30 l/ph
Cơ hô hấp
phụ, rút lõm
hõm ức
Thường không Thường có Thường có
Chuyển
động ngực
bụng
Sò sè
Vừa, cuối kì
thở ra
khí thường)
> 95% 91 – 95% < 90%
*Ở đây chúng ta không đánh giá các chỉ số cận lâm sàng
20
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
2.2.2. Địa điểm, thời gian nghiên cứu
Tại Phòng Nhi hô hấp – Khoa Nhi, Bệnh viện Trung ương Huế từ tháng
9 năm 2011 đến tháng 4 năm 2012.
2.2.3. Thu thập số liệu
2.2.3.1. Biến số nghiên cứu
- Yếu tố dịch tễ học: Tuổi, giới, địa chỉ, chẩn đoán vào viện, tình hình hút
thuốc lá thụ động.
- Lâm sàng:
+ Quan sát toàn trạng trẻ.
+ Các dấu hiệu sống: Mạch, nhiệt độ, nhịp thở.
+ Quan sát các dấu hiệu: dấu rút lõm lồng ngực, rút lõm hõm ức, lồng
ngực căng phồng.
+ Ghi nhận các triệu chứng của cơ quan hô hấp.
+ Nghe tiếng sò sè, thông khí phổi, ran.
2.2.3.2. Tiêu chuẩn đánh giá các dấu hiệu lâm sàng
- Đánh giá toàn trạng
+ Nhìn trẻ tỉnh táo hay vật vã, kích thích, li bì khó đánh thức
+ Trẻ có co giật trong lần bệnh này không.
+ Trẻ có nôn tất cả mọi thứ không.
+ Trẻ uống hoặc bú được không.
21
- Lấy nhiệt độ
Dùng nhiệt kế thủy ngân có vạch phân độ tương ứng 0,1
2 – 8 tuổi : < 110 lần/phút.
- Tìm dấu hiệu rút lõm lồng ngực:
Xác định dấu hiệu RLLN khi trẻ nằm yên, không quấy khóc. Yêu cầu
bà mẹ đặt trẻ ở tư thế nằm và nhẹ nhàng vén áo trẻ lên để nhìn rõ lồng ngực
trẻ. Nhìn vào phần dưới lồng ngực, có dấu hiệu RLLN khi trẻ thở vào thấy
22
phần dưới lồng ngực lõm vào (bình thường toàn bộ lồng ngực phình lên khi
trẻ thở vào). Trong trường hợp có dấu RLLN thì dấu hiệu này phải rõ ràng và
thường xuyên khi trẻ nằm yên.
- Sò sè: Là tiếng dịu êm như tiếng nhạc, nghe được ở kì thở ra bằng tai
thường.
- Tìm dấu hiệu co kéo hõm trên xương ức và các khoảng gian sườn.
- Ghi nhận các dấu hiệu : ho, sốt, chảy mũi nước.
- Ghi nhận triệu chứng khàn tiếng hay mất tiếng.
- Ghi nhận triệu chứng ho: ho khan, ho có đàm, ho ông ổng.
- Khám phổi: Nghe và đánh giá rì rào phế nang, tìm các ran phế quản hoặc
phế nang: ran rít, ran ngáy, ran ẩm to, vừa, nhỏ hạt.
2.2.3.3. Các bước tiến hành
Bước 1: Lập phiếu nghiên cứu: Phiếu nghiên cứu gồm các phần sau (Phụ lục)
- Phần hành chính
+ Họ tên trẻ, tuổi, giới, địa chỉ
+ Ngày vào viện – số vào viện
+ Chẩn đoán
- Phần điều tra:
+ Xác định trẻ có hút thuốc lá thụ động không.
+ Xác định tiền sử bị hen hoặc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trước đây.
+ Phân loại cơn hen cấp ở trẻ theo mức độ nặng (bảng 2.1)
+ Phân loại NKHHCT theo TCYTTG (2000) ở trẻ dựa vào tần số thở
và dấu rút lõm lồng ngực.
+ Xác định số lần vào viện vì hen và NKHHCT ở trẻ trong 6 tháng gần
2 – <12 tháng 13 16,7 159 52,6
12 tháng – 5 tuổi 50 64,1 138 45,7
6 – 10 tuổi 11 14,1 5 1,7
11 – 15 tuổi 4 5,1 0 0
Tổng 78 100 302 100
Giá trị TB 43,37 ± 40,03 17,45 ± 16,57
Nhận xét:
- Đa số trẻ hen vào viện ở độ tuổi từ 12 tháng – 5 tuổi chiếm 64,1%.
Tuổi trung bình của trẻ hen là 43,37 ± 40,03 tháng. Trẻ nhỏ nhất là 7 tháng,
trẻ lớn nhất được chẩn đoán là 180 tháng (15 tuổi).
- Trẻ NKHHCT vào viện hầu hết là ≤ 5 tuổi chiếm 98,3%; nhóm 2 - <
12 tháng tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất (52,6%); còn 11 – 15 tuổi thì không có trẻ
nào. Tuổi trung bình của các trẻ NKHHCT là 17,45 ± 16,57 tháng. Trẻ nhỏ
tuổi nhất là 2 tháng, trẻ lớn nhất là 96 tháng ( 8 tuổi).
25
3.1.2. Giới
Biểu đồ 3.1: Phân bố về giới trong nhóm bệnh nghiên cứu
Nhận xét: Tỷ lệ trẻ nam vào viện cao hơn trẻ nữ ( trẻ hen là 53,8% so với
46,2%; còn trẻ NKHHCT là 59,3% so với 40,7%).
3.1.3. Địa dư
Biểu đồ 3.2: Phân bố về địa dư trong nhóm bệnh nghiên cứu
Nhận xét: Đa số trẻ trong nhóm nghiên cứu sống ở nông thôn.
Thành phố/ nông thôn: 47,4/52,6 % (hen); 41,1/58,9 % (NKHHCT).
3.2. TÌNH HÌNH HÚT THUỐC LÁ THỤ ĐỘNG