Vận dụng phương pháp dạy học khám phá hướng dẫn trẻ mẫu giáo (5 6 tuổi) tìm hiểu môi trường xung quanh - Pdf 31

Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục mầm non là bậc học nền tảng, chiếm vị trí quan trọng trong
hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo dục mầm non có nhiệm vụ xây dựng cơ sở
ban đầu, đặt nền móng cho việc hình thành nhân cách con người. Trẻ em là
hạnh phúc của gia đình, là tương lai của cả dân tộc, việc bảo vệ chăm sóc giáo
dục trẻ là trách nhiệm của mọi người của toàn xã hội và của cả nhân loại.
Giáo dục mầm non thực hiện việc chăm sóc - giáo dục trẻ ngay từ những năm
tháng đầu đời, giúp trẻ phát triển toàn diện các mặt: đức, trí, thể, mĩ và lao
động. Việc chăm sóc - giáo dục trẻ em từ những năm đầu tiên của cuộc sống
là một việc hết sức cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng trọng sự nghiệp
chăm lo đào tạo và bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những người chủ tương lai
của đất nước.
Trẻ mẫu giáo lớn đang ở những bước phát triển mạnh về nhận thức, tư
duy, về ngôn ngữ, và tình cảm. Trong khi đó thế giới khách quan xung quanh
bao la, rộng lớn, có biết bao điều mới lạ, hấp dẫn khiến trẻ tò mò muốn biết,
muốn được khám phá. Vì vậy, hướng dẫn trẻ tìm hiểu, khám phá môi trường
xung quanh là việc làm hết sức cần thiết. Việc cho trẻ làm quen với môi
trường xung quanh mang lại nguồn biểu tượng vô cùng phong phú, đa dạng,
sinh động, đầy hấp dẫn với trẻ thơ. Trẻ làm quen với môi trường xung quanh
sẽ cung cấp cho trẻ vốn hiểu biết về những gì xung quanh mình, từ môi
trường tự nhiên như: cỏ cây, hoa lá, chim muông... đến môi trường xã hội:
công việc của mỗi người trong xã hội, mối quan hệ con người với nhau… Và
trẻ hiểu biết về chính bản thân mình. Khi cho trẻ tham gia các hoạt động
khám phá khoa học về môi trường xung quanh trẻ rất hào hứng, sôi nổi. Vậy
làm thế nào để trẻ có thể phát huy được sự say mê, hứng thú đó? Để làm được


trẻ những nét phẩm chất tự tin, biết lắng nghe tôn trọng ý kiến của người
khác, biết phối hợp hành động, giúp đỡ bảo vệ nhau, trẻ sẽ có niềm tin vào
nguồn tri thức mà mình có được. Thực tế ở một số trường mầm non cho thấy,
đa số các giáo viên sử dụng phương pháp dạy học khám phá còn theo lối thụ
động. Cô chưa phải là người tổ chức, định hướng cho hoạt động, trẻ chưa thực
sự là chủ thể của hoạt động học tập để tự chiếm lĩnh kiến thức, hình thức tổ
chức đơn điệu, không chú ý lắm đến đặc điểm và khả năng phát triển của từng
cá nhân, chưa tận dụng kinh nghiệm đã có của trẻ trong bài dạy.

2

Phạm Thị Hạnh

K34 - GDMN


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Là giáo viên mầm non trong tương lai tôi luôn suy nghĩ làm thế nào để
trẻ được tự khám phá, tìm kiếm, phát hiện tri thức mới, tự tìm ra kết quả và
hiểu rõ hơn bản chất của các sự vật hiện tượng của trẻ khi cho trẻ làm quen
với môi trường xung quanh một cách chủ động và sáng tạo.
Chính vì lí do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: "Vận dụng phương
pháp dạy học khám phá hướng dẫn trẻ mẫu giáo lớn tìm hiểu môi trường
xung quanh".
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất quy trình vận dụng phương pháp dạy học khám phá để hướng
dẫn trẻ mẫu giáo lớn tìm hiểu môi trường xung quanh nhằm nâng cao hiệu

Nếu đề xuất quy trình sử dụng phương pháp dạy học khám phá phù hợp
thì sẽ nâng cao được hiệu quả việc hướng dẫn trẻ mẫu giáo lớn tìm hiểu
MTXQ.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp đàm thoại
- Phương pháp xử lý kết quả nghiên cứu bằng thống kê toán học.
7. Cấu trúc đề tài
Mở đầu
Nội dung
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
1.1. Cơ sở lí luận
1.2. Cơ sở thực tiễn
Chương 2: Vận dụng phương pháp dạy học khám phá hướng dẫn trẻ 56 tuổi tìm hiểu MTXQ
2.1. Các nguyên tắc vận dụng phương pháp dạy học khám phá hướng
dẫn trẻ 5-6 tuổi tìm hiểu MTXQ
2.2. Quy trình sử dụng phương pháp dạy học khám phá để hướng dẫn
trẻ 5-6 tuổi tìm hiểu MTXQ
2.3. Thiết kế một số bài dạy vận dụng phương pháp khám phá để hướng
dẫn trẻ 5-6 tuổi tìm hiểu MTXQ
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Kết luận
Tài liệu tham khảo

4

Phạm Thị Hạnh


Tới lứa tuổi mẫu giáo lớn, sự tập trung chú ý bền vững hơn: thời gian
chơi, tiết học được kéo dài hơn.

5

Phạm Thị Hạnh

K34 - GDMN


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Ghi nhớ của trẻ có tính chủ định nhiều hơn do sử dụng một số phương
thức như nhắc lại hay liên hệ lại các sự kiện với nhau do người lớn gợi ý cho.
Tuy nhiên cuối tuổi mẫu giáo lớn quá trình tâm lý không chủ định vẫn chiếm
ưu thế trong hoạt động tâm lý của trẻ, ngay cả trong hoạt động trí tuệ.
Ở độ tuổi này việc đặt ra các mục đích hành động và lập kế hoạch để
thực hiện hành động được thể hiện rất rõ. Ở tuổi này bên cạnh trò chơi đóng
vai theo chủ đề còn xuất hiện khá nhiều trò chơi có luật, hành động tâm lý bên
trong được biến đổi rõ rệt, từ quá trình tâm lý không chủ định chuyển sang
quá trình tâm lý chủ định như: tri giác có chủ định, chú ý có chủ định, ghi nhớ
có chủ định…
Sự xuất hiện của tự ý thức và tính chủ định trong tâm lý của trẻ mẫu
giáo lớn là điều quan trọng vì vậy trong sinh hoạt hàng ngày cần rèn luyện
cho trẻ thói quen vệ sinh cá nhân, những hành vi văn hóa, vệ sinh nơi công
cộng và một số thói quen giữ gìn sức khỏe. Bên cạnh đó tính chủ định trong
hoạt động tâm lý của trẻ phát triển, người lớn cần đặt ra cho trẻ mục đích,
nhiệm vụ, quan sát, ghi nhớ và hoàn thành công việc do người lớn yêu cầu,

giữ vai trò quan trọng. Trước hết cần cung cấp vốn từ cho trẻ, giúp trẻ hiểu
được ý nghĩa của từ khuyến khích trẻ hoạt động lời nói một cách tích cực.
Giáo viên cần tạo điều kiện để trẻ diễn đạt rõ ràng, mạch lạc ý kiến, nguyện
vọng của mình đồng thời cần uốn nắn kịp thời ngôn ngữ mạch lạc của trẻ.
1.1.1.2. Đặc điểm thể chất
Ở giai đoạn này, xương của trẻ đã dần cứng cáp hơn khi trẻ lên 3 tuổi,
song do quá trình canxi hóa chưa hoàn chỉnh nên xương của trẻ 5 tuổi có tính
đàn hồi và tương đối mềm. Đáng nói hơn là có sự phát triển của cơ bắp.
Nhờ có sự phát triển của hệ thần kinh, hệ hô hấp, hệ tuần hoàn và hệ
xương, trẻ có thể thực hiện thành thạo các động tác đòi hỏi sự phối hợp của
các bộ phận trên cơ thể như: múa hát kết hợp, thể dục nhịp điệu…
Thời kì này, những động tác của trẻ trở nên chính xác hơn: bé trai hiếu
động còn bé gái biết làm duyên và khá điệu đà. Đồng thời bé có thể làm vệ
sinh cá nhân thành thạo hơn.
Đôi tay của trẻ trở nên linh hoạt hơn. Trẻ có thể thực hiện động tác
hoàn chỉnh và tinh tế.
Như vậy, đây là thời kì cơ thể của trẻ phát triển mạnh mẽ. Để phát triển
thể chất cho trẻ, giúp trẻ hoàn thiện về hình dáng cũng như củng cố, phát triển
các chức năng quan trọng của cơ thể thì cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa gia
đình và nhà trường. Sự kết hợp này thông qua một số hoạt động như: thể dục
buổi sáng, dạo chơi, đi trên đường cao thấp…

7

Phạm Thị Hạnh

K34 - GDMN


Khóa luận tốt nghiệp

8

Phạm Thị Hạnh

K34 - GDMN


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Tư duy trực quan sơ đồ phát triển cao sẽ dẫn đứa trẻ đến ngưỡng của tư
duy trìu tượng. Độ tuổi mẫu giáo lớn còn xuất hiện kiểu tư duy logic điều này
giúp trẻ hiểu rằng có thể biểu thị một sự vật hay một hiện tượng nào đó bằng
từ ngữ hay kí hiệu khác khi giải những bài toán tư duy độc lập.
Cuối tuổi mẫu giáo trẻ lĩnh hội được các chuẩn về màu sắc, về âm
thanh. Nhờ đó trẻ em tách biệt được trong số các biến dạng muôn màu muôn
vẻ những dạng cơ bản của các thuộc tính được dùng làm chuẩn và bắt đầu so
sánh thuộc tính vô cùng đa dạng xung quanh với các chuẩn. Nhờ đó mà tư
duy của trẻ chuyển dần sang một giai đoạn cao hơn.
Ta thấy rằng tư duy hình tượng cần thiết cho mọi hoạt động sáng tạo.
Do vậy chúng ta cần phát triển tư duy hình tượng cho trẻ mẫu gíáo lớn thông
qua các trò chơi, qua các tiết học, trong sinh hoạt hàng ngày hay tham quan
giáo viên cần gợi mở, khuyến khích để trẻ quan sát, tập phân tích, so sánh,
khái quát…Tổ chức cho trẻ trực tiếp quan sát, tự mình phân tích, so sánh,
khái quát và đánh giá từ đó phát triển các thao tác của trí tuệ, các quá trình
của tư duy. Bên cạnh đó cần quan tâm tới tư duy trừu tượng của trẻ, chỉ cần
sử dụng để giới thiệu với trẻ một số khái niệm thật đơn giản cần thiết cho việc
làm quen với môi trường xung quanh. Cần tránh cho trẻ quá sớm đi vào tư
duy logic theo kiểu người lớn, khôn trước tuổi, điều đó sẽ làm mất tính ngây

học phát hiện”, “dạy học tự phát hiện” (Nguyễn Tuyết Nga), “dạy học khám
phá” (GS.TS. Trần Bá Hoành). Tuy nhiên, các tác giả đều có chung một quan
điểm về bản chất của dạy học khám phá, cũng như nhấn mạnh việc trẻ tự
mình phát hiện ra tri thức mới thông qua điều tra, khảo sát, tìm tòi, làm thực
nghiệm dưới sự tổ chức, hướng dẫn, điều khiển của giáo viên.
Theo J.Richarred Sumann người xây dựng nên chương trình dạy học
khám phá từng nói: “Khám phá là cách mọi người học khi đơn độc”.
Với Dewey, khám phá là: “Sự tìm hiểu một cách chủ động, kiên trì và
kỹ lưỡng về một niềm tin hoặc một dạng kiến thức nào đó từ những nền tảng
hỗ trợ cho nó và những kết luận gần hơn với ý kiến đó”.
Thuật ngữ dạy học khám phá được xuất hiện và sử dụng với tư cách là
một phương pháp dạy học tích cực, năng động và sáng tạo.
Theo Ferriere JoromeBruner dạy học khám phá là “lối tiếp cận dạy học
mà qua đó học sinh tương tác với môi trường của họ bằng cách khảo sát, sử
dụng các đối tượng, giải đáp những thắc mắc bằng tranh luận hay biểu diễn
thí nghiệm”.

10

Phạm Thị Hạnh

K34 - GDMN


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Tác giả Nguyễn Tuyết Nga cho rằng “dạy học khám phá là một trong
những phương pháp dạy học lấy trẻ làm trung tâm, là con đường nhằm tích


K34 - GDMN


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Dạy học khám phá là quá trình giáo viên tổ chức cho trẻ tìm tòi, phát hiện,
khám phá ra tri thức mới, cách thức hành động mới nhằm phát huy năng lực
giải quyết vấn đề và tự học cho trẻ. Qua đó, trẻ học kĩ năng và thái độ học tập
tích cực. Trong đó, người học đóng vai trò là người phát hiện còn người dạy
đóng vai trò là chuyên gia tổ chức.
1.1.2.2. Bản chất
Xét về bản chất, quá trình dạy học là một quá trình “nhận thức độc đáo
của học sinh”.
Vai trò của giáo viên trong dạy học khám phá.
+ Định hướng sự phát triển tư duy cho trẻ, lựa chọn nội dung của vấn
đề và đảm bảo tính vừa sức với trẻ.
+ Tổ chức cho trẻ trao đổi theo nhóm trên lớp.
+ Hướng dẫn trẻ sử dụng phương tiện trực quan hỗ trợ cần thiết và tạo
ra môi trường học tập để trẻ giải quyết vấn đề.
Trong dạy học khám phá, trẻ tiếp thu các tri thức khoa học thông qua
con đường nhận thức:
+ Từ tri thức của bản thân thông qua hoạt động hợp tác với bạn đã hình
thành tri thức có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học.
+ Giáo viên nhận xét ý kiến của trẻ và chốt lại ý chính để trẻ làm cơ sở
tự kiểm tra, tự điều chỉnh tri thức của bản thân.
Hoạt động khám phá tri thức mới là quá trình nhận thức độc đáo của
người học, họ có khả năng tự điều chỉnh nhận thức góp phần tăng cường tính

tưởng, làm thực nghiệm, quan sát các hiện tượng xảy ra bằng tất cả các giác
quan; có thể ghi chép lại những gì xảy ra mà mình làm, mình quan sát được
và giải thích bằng các luận cứ khác nhau. Có thể nói, nhận thức của trẻ trong
dạy học khám phá có nhiều điểm chung với con đường phát minh của nhiều
nhà khoa học, tính sáng tạo, không theo khuôn mẫu cho sẵn, vận dụng kinh
nghiệm, trí tuệ cao độ…
Trong dạy học khám phá trẻ tự phát hiện tri thức, trẻ được tạo điều kiện
được trao đổi, hợp tác thảo luận với nhau để cùng nhau tìm ra chân lý. Nhờ đó
tri thức của trẻ tìm ra sẽ giảm phần chủ quan, tăng thêm tính khách quan khoa
học và rèn cho trẻ những nét phẩm chất tự tin, biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến
của người khác, biết phối hợp hành động, giúp đỡ bảo vệ nhau.

13

Phạm Thị Hạnh

K34 - GDMN


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Nhờ việc tự học, tự khám phá ra tri thức, trẻ không những tìm ra được
chân lý mà còn học được cách tìm ra chân lý đó - cách học, cách làm, cách
giải quyết vấn đề và tìm ra ý nghĩa của việc học.
Dạy học khám phá có mục đích là làm cho trẻ tăng cường, hoạt động
tự lực, tăng cường hành vi khám phá, phát hiện trong quá trình lĩnh hội tri
thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo; làm cho người học thích ứng với cuộc sống,
áp dụng kiến thức, kĩ năng đã học ở nhà trường vào cuộc sống.

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Tác giả Jonh Foster coi kinh nghiệm là một trong những yếu tố thiết
yếu của dạy học khám phá.
Dạy học khám phá ngày càng mở rộng vốn tri thức - kinh nghiệm đã có
ở trẻ. Theo Jonh Foster, đa số các trường hợp, cơ sở hoạt động của trẻ là sự tò
mò, hiếu kỳ và khao khát tìm ra cái mới. Khi tìm ra được cái mới thì cái mới
này lại có khả năng mở rộng và sửa chữa những ý niệm đã có trước đó. Trẻ sẽ
tiếp nhận thông tin và sử dụng nó để xếp lại “nguồn vốn” của mình và làm rõ
cái trẻ đã biết, thử thách kiểm nghiệm tính chính xác và tính hiệu lực của kinh
nghiệm đã tích lũy được.
Như vậy, tri thức cũ và tri thức mới, kinh nghiệm cũ và kinh nghiệm
mới luôn bổ sung, hỗ trợ, “thử thách” lẫn nhau để cuối cùng tri thức, kinh
nghiệm của trẻ ngày càng phong phú và hoàn thiện hơn.
d. Về tính quy nạp
Trong dạy học khám phá, trẻ học các khái niệm, quy tắc thông qua
những trường hợp đặc biệt mà nó cho phép khái quát từ những ví dụ đặc biệt,
cùng một loại và phân biệt cái đặc thù với cái không đặc thù.
Theo quy tắc này, trẻ có thể mắc sai lầm dẫn đến quy nạp sai, điều này
phụ thuộc vào tính chất của môn học, tri thức, kinh nghiệm cũ của học sinh.
e. Phép “thử và sai” hay học tập qua sai lầm
Robert Glasser đã đưa ra trong quá trình phát hiện ra cái mới, học sinh
rất dễ mắc sai lầm.
Tác giả Roger Mucchielli cũng khẳng định: “Sai lầm trong tình huống
cá nhân phải phát kiến là bổ ích cho việc học tập vì nó giúp học sinh thấy rằng
có một số biến cố khác nào đó liên quan đang ở trong trạng thái chưa được
phân tích đầy đủ và ngoài ra, sai lầm còn giảm bớt một trong số những con
đường và như vậy là hướng tới việc tìm kiếm một con đường khác”.
Như vậy, sai lầm đã tham gia vào sự thích nghi động thái, trong quá
trình thích nghi đó, câu trả lời đúng sẽ được tìm ra bởi sự tò mò.

cá nhân trẻ tự thể hiện mình theo trình tự thao tác sau:
- Tự đặt mình vào tình huống để đưa ra cách xử lí tình huống, giải
quyết vấn đề.
- Tự thể hiện mình bằng văn bản, ghi lại kết quả xử lí của mình.
- Tự trình bày, giới thiệu, bảo vệ sản phẩm của mình.
- Tỏ rõ thái độ của mình trước chủ kiến của bạn.
- Tự ghi lại ý kiến của các bạn.
- Khai thác những gì đã hợp tác điều chỉnh sản phẩm ban đầu của mình
thành một sản phẩm tiến bộ hơn.

16

Phạm Thị Hạnh

K34 - GDMN


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Thời 3: Hợp tác với giáo viên, tự kiểm tra, tự điều chỉnh.
Trong lúc học giáo viên, trẻ cũng cần giữ vai trò chủ thể tích cực, chủ
động học tập theo trình tự sau:
- Tự xử lí tình huống, giải quyết vấn đề theo sự hướng dẫn của
giáo viên.
- Chủ động hỏi giáo viên nhất là cách học, cách làm.
- Tự ghi lại ý kiến kết luận của giáo viên.
- Học cách ứng xử của giáo viên, tự kiểm tra, tự đánh giá, tự điều chỉnh
sản phẩm ban đầu của mình.


Bước 4: Rút ra kết luận khoa học
Giáo viên đóng vai trò là người trọng tài khoa học, tổng kết những cách
giải quyết, cuộc tranh luận của trẻ và kết luận về tri thức khoa học, cách giải
quyết vấn đề mà trẻ phát hiện ra.
Tác giả Nguyễn Thị Vân Hương, Nguyễn Thị Hồng Quý đã đưa ra quy
trình tổ chức dạy học khám phá gồm năm bước cơ bản như sau:
Bước 1: Xác định rõ vấn đề
Ở bước này, giáo viên giúp từng trẻ nắm rõ vấn đề cần khám phá cũng
như mục đích của việc khám phá đó (điều gì tôi biết? điều gì tôi muốn biết?
điều gì tôi đã học được?)
Bước2: Nêu các giả thuyết (ý kiến)
Sau khi nắm rõ mục đích cũng như vấn đề cần khám phá, từng trẻ việc
cá nhân hoặc cùng làm việc theo nhóm đề xuất các giải pháp để giải quyết vấn
đề. Ở bước này, trẻ đưa ra càng nhiều đề xuất càng tốt.
Bước 3: Thu lượm các dữ liệu
Trẻ sẽ tìm kiếm các dữ liệu, các thông tin để chứng tỏ rằng đề xuất
mình đưa ra là mang tính khả thi. Từ đó, trẻ lựa chọn các đề xuất hợp lí, loại
bỏ những đề xuất bất khả thi.
Bước 4: Đánh giá các giả thuyết (ý kiến)
Từ các giải pháp riêng của mỗi trẻ, trẻ trao đổi, tranh luận với các thành
viên trong nhóm để tìm ra giải pháp chung của nhóm cho vấn đề khám phá.
Bước 5: Khái quát hóa
Mỗi nhóm trình bày tóm tắt nội dung của vấn đề đã được phát hiện,
trên cơ sở đó có sự tranh luận giữa các nhóm về kết quả khám phá, dưới sự
chỉ đạo của giáo viên. Trong quá trình này, giáo viên đóng vai trò như một
trọng tài, lựa chọn những phán đoán, kết luận đúng của các nhóm để hình
thành kiến thức mới.

18

đề xuất và thực hiện các cách thức khám phá khoa học để thu thập thông tin,
vẽ, lập biểu đồ các kết luận và khái quát hóa.
Sử dụng thành thạo ngôn ngữ mạch lạc để thể hiện kết quả khám phá,
trao đổi, giải thích các sự vật và hiện tượng xung quanh.

19

Phạm Thị Hạnh

K34 - GDMN


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Về thái độ:
Biết phát hiện và yêu quý cái hay, cái đẹp, cái mới trong môi trường
xung quanh.
Có thái độ bảo vệ, chăm sóc các con vật, cây cối trong môi trường gần
gũi xung quanh.
Biết quý trọng các sản phẩm của người lao động.
Có thói quen tốt trong vệ sinh.
Có các hành vi văn hóa, văn minh trong sinh hoạt nơi công cộng, trong
việc bảo vệ môi trường, trong tham gia giao thông.
Có kĩ năng làm việc trong nhóm bạn bè, có thái độ hợp tác, chia sẻ,
thỏa thuận với các bạn trong học tập, vui chơi và lao động.
1.1.3.2. Nội dung chương trình cho trẻ làm quen với MTXQ
Nội dung chương trình cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh
bao gồm các chủ đề: “Chủ đề trường mầm non; chủ đề gia đình; chủ đề bản

đình trẻ có bao nhiêu người, những người trong gia đình làm nghề gì? Ngôi
nhà gia đình ở đâu (nông thôn, thành thị), cảnh quan của ngôi nhà, cấu trúc và
nguyên vật liệu cấu tạo nên ngôi nhà; nhu cầu để gia đình tồn tại và phát
triển... Để từ đó thúc đẩy trẻ hành động vì gia đình của mình, giúp trẻ hiểu
mọi thứ xung quanh trở nên sinh động, hài hòa khi có sự tác động của trẻ. Từ
đó, giúp trẻ thấy được gia đình rất quan trọng đối với trẻ, trẻ sẽ có cách ứng
xử hài hòa với mọi người trong gia đình, với thiên nhiên trong phạm vi nhỏ
hẹp của gia đình trẻ.
* Chủ đề bản thân
Thông qua chủ đề này trẻ sẽ được tìm hiểu, khám phá có cơ hội hiểu rõ
về bản thân của mình, biết được tên gọi, đứng ở vị trí nào, cấu tạo ngoài, số
lượng chức năng các bộ phận và các giác quan trên cơ thể, biết bản thân trẻ
cần những gì để có thể lớn lên và khỏe mạnh để từ đó trẻ có cách ứng xử cho
phù hợp với môi trường tự nhiên và xã hội. Không những thế trẻ còn khám
phá được trẻ là một bộ phận của môi trường và cần được bảo vệ che chở.
* Chủ đề nghề nghiệp
Qua chủ đề này trẻ sẽ được khám phá dấu hiệu đặc trưng về: tên gọi,
nơi làm việc, trang phục, công việc, dụng cụ lao động, sản phẩm , thái độ làm
việc, ý nghĩa của nhiều nghề nghiệp phổ biến. Trẻ biết tại sao lại xuất hiện các

21

Phạm Thị Hạnh

K34 - GDMN


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Phạm Thị Hạnh

K34 - GDMN


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

và môi trường hoạt động của chúng. Qua đó trẻ biết khi đến trường trẻ biết
mình đi bằng phương tiện giao thông nào và trẻ có ý thức tham gia chấp hành
đúng luật lệ giao thông.
* Chủ đề quê hương, đất nước, Bác Hồ, trường Tiểu học
Trẻ khám phá được địa danh nơi gia đình trẻ sống và những người láng
giềng của trẻ mối quan hệ giữa trẻ với họ. Trẻ tìm hiểu về thành phố của
mình, tên gọi, các danh lam thắng cảnh của địa phương với những nét đặc
trưng. Trẻ tìm hiểu về Bác Hồ với những công việc, nơi ở của Bác. Đặc biệt
trẻ được tham quan tìm hiểu về trường tiểu học nơi trẻ sắp được vào học với
những đồ dùng hấp dẫn trẻ, trẻ háo hức hơn. Qua đó giáo dục tình cảm thân
thiện cho trẻ, sự yêu mến ngôi trường mà trẻ sắp được học.
* Chủ đề nước và hiện tượng tự nhiên
Chủ đề này trẻ sẽ được khám phá một số đặc điểm và tính chất của nước,
trẻ biết nước có ở xung quanh trẻ, lợi ích của nước đối với đời sống con
người. Trẻ biết các hiện tượng tự nhiên như: bầu trời ban ngày và ban đêm,
mưa, gió, cầu vồng; biết dấu hiệu các mùa như: mùa xuân ấm áp, mùa hè
nóng bức, mùa thu dịu mát hơn, mùa đông lạnh hơn ngày ngắn hơn đêm. Qua
đó, trẻ sẽ có sự thích ứng với sự thay đổi của các hiện tượng tự nhiên ăn mặc
đúng cách, phù hợp, giữ gìn vệ sinh và bảo vệ nguồn nước.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học để hướng dẫn trẻ

Số GV

Số GV

%

%

%

1

Đàm thoại

80

100

0

0

0

0

2

Trò chơi


Quan sát

76

95

4

5

0

0

5

Thảo luận nhóm

56

70

20

25

4

5


0

8

Thí nghiệm

16

20

56

70

8

10

9

Phương pháp khác

0

0

0

0


Chưa bao giờ

50
40

35
30

30
25

20

20
10
10

5

5

5

0
PPĐT PPTC PPGGTT PPQS PPTLN DHNVĐ DHKP PPTN

24

Phạm Thị Hạnh


STT Các phương tiện, thiết bị Thường xuyên
dạy học
Số GV %

Thỉnh thoảng

Chưa bao giờ

Số GV

Số GV

%

%

1

Tranh ảnh

76

95

4

5

0


0

0

4

Đồ dùng tự làm

68

85

12

15

0

0

5

Vật thật

32

40

48


0

0

0

0

25

Phạm Thị Hạnh

K34 - GDMN


Trích đoạn Đối tượng, phạm vi và thời gian thực nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status