Bài tiểu luận: Phân tích những yếu tố mới trong việc thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá, lấy
ví dụ thực tế.
M ỤC L ỤC
1
A. Lời mở đầu
"Toàn cầu hóa" xuất hiện lần đầu trong từ điển của nước Anh vài năm 1961 và
được sử dụng phổ biến từ khoảng cuối thập niên 1980 tới nay để chỉ một hiện
tượng, một xu hướng mang tính chủ đạo trong quan hệ quốc tế hiện đại.Toàn cầu
hóa có một quá trình phát triển lâu dài trải qua ba giai đoạn. Tuy nhiên, quá trình
toàn cầu hóa hiện nay cso những đặc trưng riêng, những nét khác biệt về chất so
với các thời kì trước trong lịch sử. Toàn cầu hóa trong thời kì hiện nay diễn ra trên
nền tảng các công cụ mới, nhân vật mới, thị trường mới, giá trị mới, và vận động
trên những khuôn khổ mới. Để hiểu rõ về vấn đề này nhóm xin chọn đề tài "
Phân tích những yếu tố mới trong việc thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá.
" với
mong muốn làm rõ hơn các đặc điểm mới của toàn cầu hóa thời kì hiện nay.
B. Nội dung
I. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
1.Cơ sở lý luận:
- Mác, Ăngghen đã chỉ ra nguyên nhân gây nên quốc tế hóa kinh tế, chính trị, văn hóa
của giai cấp tư sản chính là do sự phát triển của lực lượng sản xuất. Mác, Ăngghen chỉ ra
thực chất của quốc tế hóa, không gì khác, chính là quốc tế hóa tư bản, thực hành phương
thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở khắp mọi nơi trên thế giới. Thứ ba: Mác, Ăngghen bằng
việc nghiên cứu mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với và qui luật đấu tranh giai cấp đã
vạch ra xu thế cuối cùng của sự phát triển quốc tế hóa. Hạn chế trong quan điểm của Mác
kỳ quan trọng đến toàn bộ các quan hệ kinh tế quốc tê, nó đã biến các công nghệ có tính
quốc gia thành công nghê toàn cầu. các công nghệ sản xuất xe máy, ô tô, máy tính điện
tử, máy bay…đã ngày càng có tính toàn cầu sâu rộng. Tính toàn cầu này đã thể hiện ngay
từ khâu sản xuất đến khâu phân phối. Những công nghệ ngày khi ra đời đã có tính toàn
cầu như công nghệ vệ viễn thông đã hiện diện.
Chính khoa học – công nghệ sang tạo ra những ứng dụng rộng rãi cho nhiều quốc gia,
góp phần cho sự đẩy mạnh quá trình toàn cầu hoá. Nhờ có công nghệ phát triển, sự hợp
tác giữa các quốc gia, các tập đoàn có thể mợ rộng từ sản xuất đến phân phối dịch vụ trên
phạm vi toàn cầu, những quan hệ tuỳ thuộc lẫn nhau cùng có lợi phát triển.
- Các quan hệ kinh tế toàn cầu ngày càng phát triển
Một nền công nghệ toàn cầu xuất hiện là cơ sở cho các quan hệ kinh tế toàn cầu phát
triển. Đầu tiên là các quan hệ thương mại. Chi phí vận tải lien lạc càng giảm đi, thì khả
năng bán hang đi các thị trường xa càng tang lên, thương mại toàn cầu càng có khả năng
phát triển. Đồng thời quá trình phân công, chuyên môn hoá sản xuất càng có thể diễn ra
giữa các quốc gia và châu lục. Các quan hệ sản xuất, thương mại có tình toàn cầu, đã kéo
theo các dòng tiền tệ, vốn, dịch vụ…vận động trên phạm vi toàn cầu. Thương mại điện tử
xuất hiện với kim ngạch ngày càng tang và đang trở thành một loại hình buôn bán toàn
cầu không biên giới đầy triển vọng.
Nhu cầu nội tại của các nước ngày càng lớn hối thúc các nước vươn ra khỏi biên giới
quốc gia để tìm kiếm những quan hệ giao dịch mới, kỳ vọng nhiều lợi ích cho bản than.
3
Việc hợp tác, lien kết để phát huy các lợi thế so sánh và tận dụng nguồn lực từ nhiều vị trí
trên thế giới trở nên dễ dàng dưới sự hậu thuẫn của thành tựu khoa học công nghệ và
chuyển đổi tư duy khép kín sang tư duy mở là những tác nhân góp phần cho quá trình
toàn cầu hoá diễn trên thực tế.
- Nhiều vấn đề toàn cầu đòi hỏi sự phối hợp nhiều quốc gia
Về phương pháp luận, những vấn đề toàn cầu bao gồm: thứ nhất, các vấn đề có quan hệ
trực tiếp đến hoạt động sống của mọi người trên trái đất, không phân biệt địa vị giai cấp,
4
Thúc đẩy quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia trên cơ sở tôn trọng nguyên
tắc bình đẳng về quyền lợi giữa các dân tộc và nguyên tắc dân tộc tự quyết.
o Thực hiện hợp tác quốc tế thông qua giải quyết các vấn đề quốc tế trên các
lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá và nhân đạo trên cơ sở tôn trọng các quyền
con người và quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người, không phân biệt
chủng tộc, màu da, ngôn ngữ và tôn giáo.
o Xây dựng Liên Hợp Quốc làm trung tâm điều hoà các nỗ lực quốc tế vì các
mục tiêu chung.
Nguyên tắc hoạt động:
o Bình đẳng về chủ quyền quốc gia.
o Tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị quốc gia.
o Cấm đe doạ sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.
o Không can thiệp vào công việc nội bộ các nước.
o Tôn trọng các nghĩa vụ quốc tế và luật pháp quốc tế.
o Giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hoà bình.
Các mục tiêu và nguyên tắc hoạt động trên của LHQ mang tình bao quát,
phản ánh mối quan tâm toàn diện của các quốc gia. Các quan tâm ưu tiên
này thay đổi tùy theo sự chuyển biến cán cân lực lượng chính trị trong tổ
chức này. Thời gian đầu mới ra đời, cùng với sự tăng vọt về số lượng thành
viên, LHQ tập trung vào vấn đề phi thực dân hóa, quyền tự quyết dân tộc
và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Apacthai. Trong thời kỳ gần đây, LHQ
ngày càng quan tâm nhiều hơn tới các vấn đề kinh tế và phát triển.
Hoạtđộng của LHQ trong 65 năn qua cho thấy trọng tâm chính của LHQ là
duy trì hòa bình an ninh quốc tế và giúp đỡ sự nghiệp phát triển của các
quốc gia thành viên.
Liên Hợp Quốc ra đời có vai trò ngày càng to lớn không chỉ trong đời sống
kinh tế, mà còn trong các lĩnh vực khác như chính trị, quân sự,văn hóa, xã hội,
quan hệ giao dịch tài chính, đầu tư thương mại…; hạn chế các mặt tiêu cực
và đẩy nhanh quan hệ giữa các nước.
Trên thực tế, mức độ hiệu lực của sự tham gia này là không ngang bằng
giữa các nước, xong xu hướng chung là tính bình đẳng tham dự tăng lên,
tiếng nói của các nước nhỏ, nước nghéo ngày càng có trọng lực.
Thành tựu thực tiễn:
o Đóng góp lớn nhất của LHQ là đã góp phần ngăn ngừa không để xảy ra
một cuộc chiến tranh thế giới mới trong 62 năm qua. Một số cuộc khủng
hoảng quốc tế đã được giải quyết với sự trung gian hòa giải của LHQ. Theo
thống kê của LHQ, tổ chức này đã hỗ trợ các cuộc thương lượng đưa đến
giải pháp hòa bình cho hơn 170 cuộc xung đột ở các khu vực.
o LHQ đã soạn thảo và xây dựng được 15 công ước quốc tế về giải trừ quân
bị, đóng góp tích cực vào việc duy trì hòa bình và ổn định thế giới. Vì
những hoạt động kể trên, lực lượng gìn giữ hòa bình của LHQ đã được trao
tặng Giải thưởng Hòa bình Nobel vào năm 1988, sau đó Tổ chức LHQ và
ông Tổng Thư ký Kofi Annan được tặng Giải thưởng này vào năm 2001.
o Trong lĩnh vực phát triển, việc tạo môi trường kinh tế, thương mại, tài chính
quốc tế bình đẳng và quan tâm thích đáng đến lợi ích của các nước đang
phát triển là ưu tiên trong hoạt động của LHQ, trong đó có việc nhằm thúc
đẩy Vòng đàm phán Doha hiện nay về thương mại vì phát triển. Từ năm
1960, ĐHĐ LHQ đề ra các chiến lược phát triển cho từng thập kỷ nhằm
huy động hợp tác quốc tế cho các mục tiêu phát triển chung, nhất là ở các
nước đang phát triển; bên cạnh đó, các tổ chức LHQ đã có sự hỗ trợ trực
tiếp về vốn, tri thức cho các nỗ lực phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo
dục và y tế của các nước này. Tại diễn đàn này, các quốc gia đã ký kết hơn
500 điều ước quốc tế đa phương quan trọng trong nhiều lĩnh vực của giao
lưu quốc tế, trong đó có Công ước về Luật biển (năm 1982), đưa ra khuyến
nghị định hướng cho các chủ đề của luật pháp quốc tế và xây dựng chuẩn
mực cho các lĩnh vực chuyên môn khác nhau.
o Trong lĩnh vực bảo đảm, thúc đẩy quyền con người, các quốc gia thành
thương mại.
- Chức năng:
o Quản lý các hiệp định thương mại của WTO.
o Diễn đàn đàm phán thương mại.
o Xử lý các tranh chấp thương mại.
o Giám sát các chính sách thương mại quốc gia.
o Hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo cho các nước đang phát triển.
o Hợp tác với các tổ chức quốc tế khác.
- Sơ lược lịch sử: WTO được thành lập ngày 1/1/1995, kế tục và mở rộng phạm
vi điều tiết thương mại quốc tế của Hiêp định chung về Thuế quan và Thương
mại (GATT) => Sự chuyển đổi này là một bước tiến lớn, đánh dấu sự biến đổi
về chất của xu hướng toàn cầu hóa kinh tế. GATT ra đời sau Đại chiến thế giới
thứ 2 theo xu hướng thành lập một loạt cơ chế đa biên trong khuôn khổ của hệ
7
-
-
thống tiền tệ Bretton Woods để điều tiết các hoạt động hợp tác kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên, khi tốc độ và quy mô toàn cầu hóa ngày càng trở nên lớn mạnh thì
GATT tỏ ra không còn phù hợp, đòi hỏi sự ra đời của một thể chế khác, đáp
ứng đươch yêu cầu mới của tiến trình phát triển. WTO thay thế GATT tiến
hành đẩy mạnh tiến trình tự do hóa thương mại, đồng thời thiết lập một thị
trường bình đẳng cho tất cả các nước, hướng tới mục tiêu mọi nước đều có
quyền tham dự vào thị trường thế giới và không bị phân biệt đối xử. Đến nay,
đãcó 152 nước và lãnh thổ kinh tế độc lập là thành viên của Tổ chức Thương
mại Thế giới và hiện có hàng chục nước đang trong quá trình đàm phán tích
cực gia nhập tổ chức này.
-
rộng mức thuế ràng buộc. WTO cũng đã rất nỗ lực trong việc sử dụng nhiều
biện pháp khác nhằm tăng cường tính minh bạch và ổn địn.
o Ưu đãi hơn cho các nước đang phát triển: WTO là một thể chế TM tự do
nhưng điều này ko hoàn toàn chính xác đây là một hệ thống những qui
định nhằm đảm bảo cạnh tranh mở, bình đẳng và ko có sai phạm. Những
qui định liên quan đến nt không phân biệt đối xử nhằm mục tiêu đảm bảo
những điều kiện TM bình đẳng, cũng như những qui định về việc bán phá
giá và trợ cấp. WTO cũng có rất nhiều Hiệp định khác nhằm tăng cường
cạnh tranh bình đẳng, ví dụ trong lĩnh vực nông nghiệp, sở hữu trí tuệ và
dịch vụ, hiệp định về TT công mở rộng các qui định về cạnh tranh đối với
những TT có sự tham gia của hàng nghìn thực thể có tư cách “chính phủ”
tồn tại trong nhiều QG
o Thiết lập môi trường cạnh tranh bình đẳng cho thương mại giữa các nước
thành viên.
Sự ra đời của WTO đã góp phần tăng trưởng thương mại hàng hóa và dịch
vụ trên thế giới phục vụ cho sự phát triển ổn định, bền vững và bảo vệ môi
trường.
Hạn chế: Mức độ lợi ích thu được từ việc tham gia vào WTO đối với mỗi quốc
gia là không như nhau. Mỗi nước tham gia với thực lực, trình độ và điều kiện
rất chênh lệch nhau, khó bình đẳng với nhau vì lợi ích, khó có thể dạt được sự
đồng thuận theo đúng tinh thần của WTO. Tính chất mâu thuẫn này làm cho
việc thực hiện đúng mục tiêu và các nguyên tắc của WTO trỏe thành vấn đề
không dễ dàng => các tổ chức tài chính toàn cầu và khu vực như WB, IMF,
ADB, … có vị trí hết sức quan trọng trong hệ thống kinh tế thế giới. Chúng
vừa đóng vai trò “van an toàn”, điều hòa hệ thống tài chính toàn cầu, vừa là tác
nhân thúc đẩy phát triển kinh tế ở các nước. Trên thực tế, đây là những công cbộ máy có thế lực và tác động mạnh mẽ đến quá trình kinh tế quốc tế và quốc
gia. Hoạt động của các tổ chức chức này đã và đang khuyến khích sự hợp tác
cầu hóa đặt ra, đồng thời phân chia thế giới thành các mảng, khối, tạo ra sự phân
biệt đối xử mang tính khu vực trong cuộc cạnh tranh trên những cơ sở không
ngang bằng giữa các nhóm nước trong khu vực và ngoài khu vực. => Điều đó
chứng tỏ toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế cũng có những thang bậc về trình độ
dựa trên những cơ sở vật chất và thể chế, lịch sử, văn hóa xác định.
•
Ví dụ:
-
-
Năm 1944:
o Quỹ Tiền tệ quốc tế( IMF) được thành lập.
o Ngân hàng thế giới (WB)
Năm 1945: Sau Thế chiến thứ 2, các nước Khối Đồng Minh và nhân dân thế giới
có nguyện vọng giữ gìn hòa bình và ngăn chặn các cuộc chiến tranh thế giới mới.
Tại Hội nghị Yalta , nguyên thủ ba nước Liên Xô, Mỹ, Anh đã thống nhất thành
lập tổ chức quốc tế để giữ gìn hòa bình và an ninh thế giới. Trên cơ sở Hội nghị
Durbarton Oaks ở Washington, D.C., từ 25 tháng 4 đến 26 tháng 6 năm 1945, đại
diện của 50 quốc gia đã họp tại San Francisco, California, Hoa Kỳ để thông qua
Hiến chương Liên Hiệp Quốc. Ngày 24 tháng 10 năm 1945, Liên Hiệp Quốc (UN)
10
-
-
Có các loại công ty con dưới đây:
Công ty phụ thuộc: chủ đầu tư (thuộc công ty mẹ) sở hữu hơn 50% tổng tài sản
của công ty. Họ có quyền chỉ định hoặc bãi nhiệm các thành viên bộ máy tổ chức
và quản lý điều hành công ty.
Công ty lien kết: Chủ đầu tư tuy chiếm 105 tài sản của công ty, nhưng chưa đủ tỷ
lệ sở hữu để có quyền hạn như trường hợp công ty phụ thuộc.
Các chi nhánh: Công ty hoạt động ở nước ngoài với 100% tài sản thuộc sở hữu
của công ty mẹ.
11
- Các công ty xuyên quốc gia có đặc điểm chung là có quy mô lớn, sở hữu đa quốc gia và
kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh ở nhiều nước.
2.2.Tác động của công ty xuyên quốc gia đến quá trình toàn cầu hóa kinh tế
Trong thời kì mà xu thế phát triển lấy kinh tế làm trọng điểm như hiện nay thì vai trò của
các công ty xuyên quốc gia ngày càng được khẳng định. Các công ty xuyên quốc gia là
một thế lực kinh tế hùng mạnh , chiếm lĩnh và kiểm soát những mắt xích trọng yếu trong
sản xuất, lưu thong cũng như trong nghiên cứu và phát triển khoa học công nghệ nên các
công ty này càng chi phối mạnh mẽ vào đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của thế giới.
Hiện nay trên thế giới có khoảng 6000 công ty xuyên quốc gia. Các công ty xuyên
quốc gia(TNCs) đang kiểm soát 2/3 nền thương mại thế giới, ¾ nguồn đầu tư trực
tiếp ở nước ngoài và 9/10 kết quả nghiên cứu và chuyển giao công nghệ trên thế
giới.
Chính vì thế, TNCs là lực lượng chính thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa trên thế giới hiện
nay.
2.2.1.Các công ty xuyên quốc gia là lực lượng là lực lượng chủ yếu trong quá trình phân
công lao động quốc tế
trình phân công lao động quốc tế.
Đối với Việt Nam, hoạt động của các TNCs có vai trò quan trọng trong việc tọa ra công
ăn việc làm cho người lao động. Chỉ tính riêng từ đầu năm đến hết tháng 11/2013 tổng số
dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nước ta là 1175 dự án với số vốn đăng kí là
13779,2 triệu USD và được đầu tư chủ yếu vào các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
với 77,25 tổng số vốn đăng ký, ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước nóng, điều
hòa không khí chiếm 9,8% và các ngành khác chiếm 13%(Tổng cục thống kê). Với
lượng vốn đầu tư lớn và đang có xu hướng tăng thì vai trò của các TNCs đối với vấn đề
lao động của Việt Nam là rất lớn.
Hơn thế nữa, các dự án đầu tư các nghiên cứu khoa học đóng vai trò rất lớn cho việc
nâng cao chất lượng lao động của những nước nhận đầu tư như Việt Nam.
2.2.2.Thúc đẩy thương mại quốc tế
- Đây là vai trò nổi bật của các công ty xuyên quốc gia. Tỷ trong trao đổi của các công ty
xuyên quốc gia ngày càng lớn trong tổng giá trị thương mại quốc tế. Với lượng chi nhánh
lên tới hàng tram nghìn cắm sâu vào nền kinh tế thế giới, TNCs đa tạo ra mạng lưới bao
trùm trong lĩnh vực lưu thông. Vậy nên không có một mắt xích nào trong quá trình lưu
thông hàng hóa và tiền tệ là không có sự tham gia trực tiếp hoặc giám tiếp của các TNCs.
- Dưới sự tác động của TNCs thì bằng nhiều con đường khác nhau các sản phẩm đã được
luân chuyển vào quá trình thương mại quốc tế.
Ví dụ: trước đây, trong giai đoạn Việt Nam thực hiện chính sách kế hoạch hóa tập trung
quan lieu bao cấp thì các mặt hàng của Việt Nam sản xuất không có mặt ở bất cứ nước
nào khác trên thế giới và cũng không có hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam. Nhưng hiện
13
nay, hang hóa Việt Nam có mặt ở hầu hết các nước trên thế giới và hang hóa các nước
cũng có rất nhiều ở thị trường Việt Nam. Đặc biệt, hàng hóa truyền thống của các nước
đều được buôn bán trên toàn thế giới. Các phát minh, sáng chế… cũng đã trở thành mặt
hàng được đem ra trao đổi.
Việc thâm nhập của TNCs thì hầu như không còn quốc gia nào trên thế giới đóng kín nền
công nghệ thích hợp để bảo vệ giá trị đó.
Mặt khác, trong nền kinh tế trị thường như hiện nay, vấn đề cạnh tranh giữa các công ty
trở nên rất khốc liệt. vậy nên mỗi TNC không muốn bị đối thủ cạnh tranh của mình lất át
trên thị trường thì phải đầu tư nghiên cứu phát triển công nghệ. Chính vì thế, nên TNCs
có vai trò thúc đẩy phát triển công nghệ.
2.2.4.1.Vai trò của TNCs trong chuyển giao công nghệ
- TNCs cơ thể chuyển giao công nghệ thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp hoặc thực
hiện các dịch vụ hỗ trợ và tư vẫn công nghệ.
- TNCs sở hữu khoảng 80% công nghệ cao trên thế giới. Các TNCs thực hiện chuyển
giao thông qua các chi nhánh ở nước ngoài hoặc thông qua các hợp đồng chuyển giao.
- TNCs chuyển một phần trong công đoạn sản xuất ra nước ngoài đồng thời cũng mạng
theo những dây chuyền công nghệ phù hợp để vừa đảm bảo chất lượng sản phẩm vừa
tránh lãng phí công nghệ. Bởi ở các nước phát triển( nước sở hữu TNCs thì công nghệ
thường xuyên được phát triển sao cho nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm. nhưng
những công nghệ trước đó thì sẽ được phần nào chuyển sang các nước mà họ đầu tư bởi:
Lao động của các nước nhân đầu tư hầu hết là lao động phổ thong, trình độ kic
thuật không cao nên không thể vận hang những công nghệ quá hiện đại mà chỉ vận
hành được những công nghệ trước đó rồi từ từ phát triển them.
TNCs cũng đỡ mất qua nhiều chi phí khi thải bỏ công nghệ.
TNCs đóng vai trò lớn trong chuyển giao công nghệ.
2.2.4.2.Vai trò của TNCs trong phát triển công nghệ
- Việc phát triển công nghệ của TNCs thể hiện thong qua việc các TNCs lien tục không
ngừng nghiên cứu tạo ra công nghệ mới và phổ biến công nghê chuyển giao trong các
ngành khác nhau và tạo ra năng lực nội sinh của công nghệ để công nghệ phát triển trong
các môi trường khác nhau.
- TNCs có khả năng lớn trong việc tổ chức các hoạt động phát triển công nghệ và là chủ
thể chiếm tỷ trọng lớn nhất trong việc đưa ra các sáng chế và phát minh về công nghệ.
đồng thời TNCs đóng vai trò to lớn trong việc cung cấp các dịch vụ về đào tạo và phổ
- Đặc biệt, TNCs rất tích cực đầu tư vào các nước đang phát triển bởi các nước này thiếu
vốn, kĩ thuật kém nhưng lại có nguồn lao động dồi dào, giá thấp.
Để thu hút đầu tư từ các TNCs thì các nước đều đưa ra các chính sách ưu đãi như giảm
thuế thậm chí còn không đánh thế, hỗ trợ hết mức về đất đai, mặt bằng,…
- Mặt khác, sự có mặt của TNCs yêu cầu các doanh nghiệp trong nước phải đẩy mạnh
quá trình phát triển sản phẩm, tăng cường hợp tác trong và ngoài nước để tăng cường sức
16
cạnh tranh. Hơn thế nữa, các TNCs cũng tăng cường đầu tư về cả vốn, công nghệ để cạnh
tranh với TNCs khác và với công ty bản địa.
Ví dụ: Sự có mặt của các nhà máy của SamSung ở Việt Nam là gia tang sức cạnh tranh
với các công ty khác như Nokia, Canon… điều đó đặt ra yêu cầu đối với cả Nokia, Canon
và SamSung là phải tang cường đầu tư vốn, phát triển công nghệ để tăng sức cạnh tranh
với nhau trên thị trường Việt Nam và cả thị trường thế giới.
3. Vai trò ngày càng tăng của NGOs
- Khái niệm: là thuật ngữ dùng để chỉ một tổ chức, hiệp hội, ủy văn hóa xã hội, ủy hội từ
thiện, tập đoàn phi lợi nhuận hoặc các pháp nhân khác mà theo pháp luật không thuộc
khu vực Nhà nước và không hoạt động vì lợi nhuận. Nghĩa là khoản lợi nhuận nếu có,
không thể phân chia theo kiểu chia lợi nhuận. Tổ chức này không bao gồm các nghiệp
đoàn, đảng phái chính trị, hợp tác xã phân chia lợi nhuận, hay nhà thờ hoặc chùa.
- Vai trò:
•
tạo ra nguồn lực góp phần ổn định và phát triển xã hội.
Muốn phát triển xã hội cần phải tìm mọi biện pháp, cách thức để có thểhuy động mọi ngu
ồn lực trong nhân dân. Đây là nhu cầu tất yếu khách quan,phổ biến của bất cứ quốc gia
nào kể cả những quốc gia giàu có. Trong hoàncảnh nền kinh tế chưa phát triển nhà nước c
hưa đủ điều kiện về mọi mặt nhất
dẫn hội viên thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, theo mục tiêu mà nhà nước đề
ra.
Tổ chức hoạt động trong khuôn khổ luật pháp nhà nước, là nơi tiếp
nhận đồng thời phổ biến luật pháp phản ánh với nhà nước trong quá trình thực
hiện pháp luật thuộc lĩnh vực phi chính phủ hoạt động.
•
Giáo dục, rèn luyện ý thức và năng lực thực hành dân chủ cho công
dân đặc biệt là đối với các thành viên.
Tổ chức phi chính phủ có vai trò lớn lao trong việc phát huy tính tích
cực xã hội của quần chúng.Tính tích cực xã hội là những biểu hiện của sự
hoạt động có ích về mặt xã hội con người trong tất cả các lĩnh vực sinh hoạt
của xã hội như: Kinh tế, chính trị, xã hội và tinh thần. Tương ứng với từng
lĩnh vực đó có vai trò to lớn trong việc phát triển tính tích cực xã hội của từng
công dân. Tổ chức phi chính phủ là môi trường xã hội rèn luyện ý thức dân
chủ, năng lực thực hành dân chủ cho các công dân.
Các tổ chức phi chính phủ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời
sống kinh tế tôn giáo, môi trường... trên thế giới.
•
.Góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường.
Những hoạt động của các tổ chức phi chính phủ, đặc biệt là các hoạt
động của tổ chức thương mại, tổ chức liên minh HTX và các hội, hiệp nghề
nghiệp đã gián tiếp thúc đẩy sự thành công lớn mạnh của nền kinh tế thị trường.
•
Góp phần ổn định xã hội trên cơ sở pháp luật
4. Vai trò của các các nhân và các tổ chức dân sự.
- Khái niệm: là các tổ chức xã hội nằm ngoài nhà nước, trong đó người dân liên kết với
nhau trong những hoạt động vì một mục đích chung. XHDS ở Việt Nam bao gồm: Các tổ
chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, nhân đạo, từ thiện, hữu nghị; các tổ
chức cộng đồng theo dòng tộc, sở thích, câu lạc bộ; các tổ chức dịch vụ công và các quỹ
không phải do Nhà nước lập ra,… hoạt động phi lợi nhuận, tuân thủ các quy định của
pháp luật và tích cực phối hợp hoạt động với Nhà nước.
- Vai trò của tổ chức dân sự: sự phát triển của khoá học công nghệ, đặc biệt là công nghệ
thông tin, viễn thông đã và đang góp phần tích cực vào việc nâng cao trình độ dân trí, tạo
19
cơ sở nền tảng cho dân chủ phát triển. Với các phương tiện thông tin liên lạc, giao thông
vận tải nhanh chóng, hiện đại, mọi người dân, kể cả những người ở các vùng xa xôi hẻo
lánh cũng có thể tiếp cận đượcvới nền văn minh nhân loại, với những tri thức khoa học,
văn hoá thế giới, từ đó giúp nâng cao nhận thức, sự hiểu biết, vị thế và tiếng nói của con
người. Trong hai thập kỷ vừa qua, sự tham gia của người dân vào các tổ chức xã hội dân
sự ngày càng gia tăng. các tổ chức xã hội dân sự này, với tư cách là thành viên của xã hội,
ngày càng trở nên có năng lực hơn, hoạt động tích cực và chủ động hơn; ngày càng có
ảnh hưởng đến các hoạt động của chính phủ và khu vực tư nhân. Một trong những vai trò
quan trọng nhất của các tổ chức xã hội dân sự là huy dộng sự hỗ trợ cho những vấn đề
kinh tế - xã hội cụ thể, cung cấp thông tin và đảm nhiệm chức năng chứng nhận của bên
thứ ba. Các tổ chức xã hội dân sự này thường được đưa ra nhiều sáng kiến và lên tiếng
đại diện cho những lợi ích khồn được quan tâm của nhiều tâng lớp dân sư, xây dựng lòng
tin, tính hợp pháp và cung cấp những kiến thức cần thiết cho họ. Xã hội dân sự và các
phương tiện thông tin đại chúng đóng vai trò giám sát quan trọng, chẳng hạn trong việc
nân cao trách nhiệm và giảm thiểu nguy cơ tham nhũng trong các cơ quan công quyền.
Khi các công dân có thể tiếp cận với những nguồn thông tin độc lập, với các kênh hữu
hiệu để tham gia vào các hoạt động chính trị và được pháp luật bảo về thì họ có thể trở
3.
http://docs.4share.vn/docs/14721/Ban_chat_va_vai_tro_cua_cac_co
ng_ty_xuyen_quoc_gia.html
4.
PGS.TS. Phùng Xuân Nhạ(chủ biên), Các công ty xuyên quốc
gia:Lý thuyết và thực tiễn,Hà nội-11/2006
5.
http://www.doko.vn/luan-van/mot-so-vai-tro-cua-cac-cong-tyxuyen-quoc-gia-trong-qua-trinh-toan-cau-hoa-kinh-te-129878
6.
http://old.voer.edu.vn/module/kinh-te/cac-nhan-to-thuc-day-quatrinh-toan-cau-hoa-kinh-te.html
7.
http://docs.4share.vn/docs/14721/Ban_chat_va_vai_tro_cua_cac_co
ng_ty_xuyen_quoc_gia.html
8.
http://vi.wikipedia.org/wiki/McDonald%27s
9.
“ Kinh tế tri thức – xu hướng mới của xã hội thế kỉ XXI” GS.TS
Ngô Quý Tùng. Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia, Hà Nội năm 2000
10.
“ Dự báo phát triển khoa học và công nghệ trong thế kỉ XXI” Trung
tâm thông tin Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, 01-2000
11.
21