LỜI GIỚI THIỆU
Một quốc gia sẽ không tồn tại và phát triển được nếu không tham gia vào hoạt động kinh
doanh. Câu nói “Phi thương bất phú” luôn luôn đúng trong mọi thời đại. Đặc biệt, trong
thời đại nền kinh tế theo xu hướng toàn cầu hóa như ngày nay thì việc tiếp cận với thị
trường thế giới là một điều hết sức cần thiết. Ngoại thương là chiếc cầu nối tổ chức quá
trình lưu thông hàng hóa giữa các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp nước
ngoài thông qua mua bán. Hoạt động xuất nhập khẩu là một trong những hoạt động quan
trọng có ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ nền kinh tế và mang lại nguồn lợi đáng kể cho
mỗi quốc gia đặc biệt là những quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Muốn hoạt động
xuất nhập khẩu diễn ra thuận lợi, mang lại hiệu quả cao thì việc giao nhận hàng hóa xuất
nhập khẩu phải được thực hiện một cách logic, khoa học và chuyên nghiệp.
Đề tài:”Qui trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu nguyên container bằng đường
biển.” phân tích,đánh giá qui trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu nguyên container bằng
đường biển, tìm ra những thuận lợi,khó khăn từ đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn
thiện hoạt động giao nhận hàng hóa nhập khẩu hiện nay.
XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN!
PHỤ LỤC.
1
CHƯƠNG I:GIỚI THIỆU NHÓM VÀ CẢNG “CÁI MÉP”
I.Thành viên nhóm…………………………………………………………………..........4
II.Giới thiệu cảng “Cái Mép”……………………………………………………………..5
CHƯƠNG II:QUI TRÌNH GIAO NHẬN HÀNG HÓA NHẬP KHẨU NGUYÊN
CONTAINER BẰNG ĐƯỜNG BIỂN.
I.Tổng quan hoạt động giao nhận
1.Khái niệm về dịch vụ vận tải…………………………………………………………....8
2.Tình hình giao nhận vận tải ở Việt Nam hiên nay……………………………………...9.
3.Hoạt động giao nhận là một phần của hoạt động logictis……………………………..10
II.Khái quát chung về vận tải đường biển
5.Trần Thị Thùy Trang
II.Giới thiệu Cảng Cái Mép
1.HỆ THỐNG GIAO THÔNG NỐI CẢNG - NĂNG LỰC THÔNG QUA .
4
1.1.Hệ thống giao thông nối cảng.
Đoạn đường 4 km nối cảng Tân Cảng - Cái Mép với đường Quốc lộ 51 hiện đang thi
công thuộc Ban quản lý dự án 85- Bộ GTVT. Trong thời gian chờ gia tải toàn bộ tuyến
đường, PMU 85 sẽ thường xuyên cải tạo mặt đường hiện hữu không ảnh hưởng đến việc
xe lưu thông trên đoạn đường này. Dự kiến đến tháng 10/2010 đường sẽ hoàn tất với 6
làn xe, đảm bảo lưu thông an toàn và nhanh chóng.
Các dự án phát triển giao thông: Quốc lộ 51 đang thi công mở rộng thành 6 làn đường dự
kiến sẽ hoàn thành vào cuối năm 2011; song song với Quốc lộ 51 là các dự án đường cao
tốc nối với sân bay quốc tế Long Thành và dự án đường sắt nối từ Biên Hóa xuống Vũng
Tàu. Hiện nay giao thông đường thủy nội địa giữ một vai trò quan trọng, với các cơ sở
kết nối tại TP.HCM và Bà Rịa Vũng Tàu bằng các luồng sông Gò Gia - ngã ba Đồng
Tranh - ngã ba Nhà Bè và đi vào cảng Cát Lái, Tân Cảng và các ICD liên kết (Transimex,
Tanamexco, Phúc Long và Phước Long).
1.2.Năng lực thông qua.
TCCT đón các tàu trọng tải: 110,000 DWT (tương đương 11.000TEUs). Năng lực thông
qua theo thiết kế 600.000 TEUs/ năm. 2.TRANG THIẾT BỊ - CÔNG NGHỆ
Với hơn 300 mét cầu chính với độ sâu trước bến là 15.8 m và 180 mét bến xà lan. Do đó
cảng có thể vừa giải phóng tàu mẹ, vừa giải phóng xà lan, đảm bảo vận chuyển hàng hóa
tới cảng đích nhanh chóng và an toàn.
Cảng đang ứng dụng chương trình quản lý TOPX - TOPO VN với tính năng ưu việt nhất
hiện nay cho việc lập kế hoạch, theo dõi, triển khai và đánh giá lưu trữ dữ liệu. Hệ thống
02
20
4 lớp cao, 3 hàng rộng
Xe nâng
03
30
5 lớp chồng
Đầu kéo
20
20
Ổ điện lạnh
312
Loại thiết bị
Cẩu khung RTG
6+1
Cẩu khung RTG
3+1
I.Tổng quan về hoạt động giao nhận.
1.KHÁI NIỆM VỀ DỊCH VỤ VẬN TẢI
Giao nhận vận tải là những hoạt động nằm trong khâu lưu thông phân phối, một
khâu quan trọng nối liền sản xuất với tiêu thụ, hai mặt chủ yếu của chu trình tái sản
xuất xã hội.
Giao nhận vận tải thực hiện chức năng đưa sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu
thụ, hoàn thành mặt thứ hai của lưu thông phân phối là phân phối vật chất, khi mặt thứ
nhất là thủ tục thương mại đã hình thành.
Giao nhận gắn liền và song hành với quá trình vận tải. Thông qua giao nhận các
tác nghiệp vận tải được tiến hành: tập kết hàng hoá, vận chuyển, xếp dỡ, lưu kho,
7
chuyển tải, đóng gói, thủ tục, chứng từ…Với nội hàm rộng như vậy, nên có rất nhiều
định nghĩa về giao nhận.
Theo quy tắc mẫu của Liên đoàn các hiệp hội giao nhận quốc tế (FIATA) về dịch
vụ giao nhận, “dịch vụ giao nhận được định nghĩa như là bất kỳ loại dịch vụ nào liên
quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa
cũng như các dịch vụ tư vấn có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả các vấn đề về hải
quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hóa”.
Như vậy về cơ bản, giao nhận hàng hóa là tập hợp những công việc có liên quan
đến quá trình vận tải nhằm thực hiện việc di chuyển hàng hóa từ nơi gửi hàng (người
gửi hàng) đến nơi nhận hàng (người nhận hàng).
2.TÌNH HÌNH GIAO NHẬN VẬN TẢI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY:
Trong những năm gần đây, ngành dịch vụ giao nhận, logistics tại Việt Nam đã và
đang phát triển rất nhanh chóng, từ một vài doanh nghiệp giao nhận quốc doanh của đầu
thập niên 90 đến nay đã có hơn 600 công ty được thành lập và hoạt động từ Nam, Trung,
Bắc. Theo thông tin từ Sở kế hoạch đầu tư TP.HCM thì trung bình mỗi tuần có một công
ty giao nhận, logistics được cấp phép hoạt động hoặc bổ sung chức năng logistics. Sự
việc mua sắm nguyên vật liệu cho tới việc lập, thực hiện kế hoạch sản xuất và giao hàng.
Mục tiêu của Logistics trong sản xuất kinh doanh là giảm thiểu các chi phí phát sinh,
đồng thời vẫn phải đạt được các mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra.
Ở Việt Nam, kinh tế phát triển chậm hơn các nước, nhất là so với các nước Âu -Mỹ.
Vì vậy mà khái niệm Logistics còn khá mới mẻ và ta mới triển khai được một phần của
Logistics.
Luật Thương mại năm 2005, điều 233 quy định: “Dịch vụ logistics là hoạt động
thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm
9
nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác,
tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có
liên quan tới hàng hoá theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”.
Để cụ thể hơn, Chính phủ ban hành Nghị định 140/2007/NĐ-CP ngày 05/09/2007
quy định chi tiết về phân loại dịch vụ Logistics. Theo đó, dịch vụ Logistics theo quy định
tại Điều 233 Luật Thương mại được phân loại như sau:
1. Các dịch vụ Logistics chủ yếu, bao gồm:
a) Dịch vụ bốc xếp hàng hoá, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container;
b) Dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hóa, bao gồm cả hoạt động kinh doanh kho bãi
container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị;
c) Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan và lập kế
hoạch bốc dỡ hàng hóa;
d) Dịch vụ bổ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản lý thông tin
liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hóa trong suốt cả chuỗi Logistics; hoạt động
xử lý lại hàng hóa bị khách hàng trả lại, hàng hóa tồn kho, hàng hóa quá hạn, lỗi mốt và
tái phân phối hàng hóa đó; hoạt động cho thuê và thuê mua container.
2. Các dịch vụ Logistics liên quan đến vận tải, bao gồm:
a) Dịch vụ vận tải hàng hải;
b) Dịch vụ vận tải thuỷ nội địa;
Vận tải đường biển có thể phục vụ chuyên chở tất cả các loại hàng hoá trong buôn
bán quốc tế.
•
Các tuyến đường vận tải trên biển hầu hết là những tuyến đường giao thông tự
nhiên.
11
•
Năng lực chuyên chở của vận tải đường biển rất lớn. Nhìn chung năng lực chuyên
chở của công cụ vận tải đường biển (tầu biển) không bị hạn chế như các công cụ
của các phương thức vận tải khác.
•
Ưu điểm nổi bật của vận tải đường biển là giá thành thấp.
Tuy nhiên, vận tải đường biển có một số nhược điểm:
•
Vận tải đường biển phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên.
•
Tốc độ của tầu biển còn thấp và việc tăng tốc độ khai thác của tầu biển còn bị hạn
chế
•
Vận tải đường biển tác động tới cán cân thanh toán quốc tế.
2.1Cơ sở vật chất của vận tải đường biển:
12
•
Các tuyến đường biển:
Là các tuyến đường nối hai hay nhiều cảng với nhau trên đó tầu biển hoạt động
chở khách hoặc hàng hoá
•
Cảng biển:
Là nơi ra vào neo đậu của tầu biển, là nơi phục vụ tàu và hàng hoá trên tầu và là
đầu mối giao thông quan trọng của một quốc gia có biển.
Phương tiện vận chuyển:
Phương tiện vận tải biển chủ yếu là tầu biển, tầu biển có hai loại: tầu buôn và tầu quân
sự.
Tầu buôn là những tầu biển được dùng vào mục đích kinh tế trong hàng hải. Tầu chở
hàng là một loại tầu buôn chiếm tỷ lệ cao nhất trong đội tầu buôn
3.VẬN ĐƠN ĐƯỜNG BIỂN (Ocean Bill of Lading – B/L ) :
Vận đơn đường biển là chứng từ chuyên chở hàng hoá bằng đường biển do người chuyên
chở hoặc đại diện của người chuyên chở phát hành cho người gửi hàng sau khi hàng hoá
đã được xếp lên tầu hoặc sau khi nhận hàng để xếp.
cước (booking note). Vậy vận đơn được cấp là bằng chứng duy nhất xác nhận hợp đồng
vận chuyển hàng hoá bằng đường biển đã được ký kết. Nội dung của vận đơn là cơ sở
pháp lý để giải quyết mọi tranh chấp xảy ra sau này giữa người phát hành và người cầm
giữ vận đơn.
3.2. Tác dụng của vận đơn
Vận đơn đường biển có những tác dụng chủ yếu sau đây:
14
Thứ nhất, vận đơn là cơ sở pháp lý điều chỉnh mối quan hệ giữa người xếp hàng, nhận
hàng và người chuyên chở.
Thứ hai, vận đơn là căn cứ để khai hải quan và làm thủ tục xuất nhập khẩu hàng hoá.
Thứ ba, vận đơn là căn cứ để nhận hàng và xác định số lượng hàng hoá người bán gửi
cho người mua và dựa vào đó để ghi sổ, thống kê, theo dõi xem người bán (người chuyên
chở) đã hoặc không hoàn thành trách nhiệm của mình như quy định trong hợp đồng mua
bán ngoại thương (vận đơn).
Thứ tư, vận đơn cùng các chứng từ khác của hàng hoá lập thành bộ chứng từ thanh toán
tiền hàng.
Thứ năm, vận đơn là chứng từ quan trọng trong bộ chứng từ khiếu nại người bảo hiểm,
hay những người khác có liên quan.
Thứ sáu, vận đơn còn được sử dụng làm chứng từ để cầm cố, mua bán, chuyển nhượng
hàng hoá ghi trên vận đơn...
3.3. Phân loại vận đơn
Vận đơn đường biển rất đa dạng, phong phú, được sử dụng vào những công việc khác
nhau tuỳ theo nội dung thể hiện trên vận đơn. Trong thực tiễn buôn bán quốc tế, có rất
nhiều căn cứ để phân loại vận đơn, cụ thể như sau:
•
•
Nếu căn cứ vào giá trị sử dụng và lưu thông ta có vận đơn gốc (original bill of
lading) và vận đơn copy (copy of lading).
Ngoài ra còn có Surrendered B/L Seaway bill, Congen bill... Tuy nhiên theo Bộ luật hàng
hải Việt nam vận đơn được ký phát dưới 3 dạng: vận đơn đích danh, vận đơn theo lệnh,
vận đơn xuất trình.
3.4. Nội dung của vận đơn
Vận đơn có nhiều loại do nhiều hãng tầu phát hành nên nội dung vận đơn cũng khác
nhau. Vận đơn được in thành mẫu, thường gồm 2 mặt, có nội dung chủ yếu như sau:
Mặt thứ nhất thường gồm những nội dung:
•
Số vận đơn (number of bill of lading)
•
Người gửi hàng (shipper)
•
Người nhận hàng (consignee)
•
Ðịa chỉ thông báo (notify address)
•
Kỹ mã hiệu (marks and numbers)
•
Cách đóng gói và mô tả hàng hoá (kind of packages and discriptions of goods)
•
Số kiện (number of packages)
•
Trọng lượng toàn bộ hay thểtích (total weight or mesurement)
•
Cước phí và chi chí (freight and charges)
•
Số bản vận đơn gốc (number of original bill of lading)
•
Thời gian và địa điểm cấp vận đơn (place and date of issue)
•
Phát hành D/O và lập giấy báo hàng đến gửi cho khách hàng (Consignee). Khi
khách hàng tới nhận D/O và chứng từ thì phải kiểm tra giấy giới thiệu của khách hàng,
yêu cầu xuất trình HB/L bản gốc nếu HB/L không phải là Telex Release hoặc Surrender,
thu các khoản phí giải quyết chứng từ (những phí này được ghi trong giấy báo hàng
đến):
Cước phí (Ocean Fee), Phí Ex-word (nếu có)
Phí D/O (Document charge)
Phí H/L ( Handling charge)
Phí THC (Terminal Handling charge)
18
2.TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC THỦ TỤC GIAO NHẬN HÀNG NHẬP KHẨU
BẰNG ĐƯỜNG BIỂN.
2.1 Nhận và kiểm tra bộ chứng từ
Sau khi nhận Fax hay điện thoại của công ty khách hàng thông báo có lô hàng mới
thì đại diện của công ty giao nhận sẽ đến nhận bộ chứng từ. Một số trường hợp công ty
khách hàng ở xa thì chứng từ sẽ gửi bằng đường bưu điện chuyển phát nhanh.
Bộ chứng từ hàng nhập khẩu gồm:
o Hợp đồng mua bán hàng hóa (Sale contract, Commercial Contract)
o Hóa đơn thương mại (Commercial Invoice)
o Phiếu đóng gói (Packing List)
o Vận đơn (Bill of Lading – B/L)
o Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (Certificate of Origin- C/O) (nếu có)
o Giấy chứng nhận bảo hiểm –(Certificate of Insurance) ( nếu có)
o Giấy phép nhập khẩu (nếu có)
o Chứng từ khác theo quy định của Pháp Luật có liên quan.
Đây là những chứng từ làm cơ sở cho việc lập bộ hồ sơ hải quan hàng nhập
Đồng thời, nhân viên giao nhận phải đóng các loại phí như D/O, phí THC và các
loại phí khác thì nhân viên hãng tàu sẽ giao lệnh giao hàng.
2.4.Làm thủ tục hải quan cho lô hàng tại cảng
Người làm thủ tục nhập khẩu hàng hóa phải làm những công việc sau:
Mở và nộp tờ khai hải quan; xuất trình chứng từ thuộc hồ sơ hải quan.
Đưa hàng hóa, phương tiện vận tải đến địa điểm được quy định cho việc kiểm tra
thực tế hàng hóa, phương tiện vận tải.
Nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.
Hoàn tất thủ tục hải quan.
Để chuẩn bị mở tờ khai thì cần sắp xếp hồ sơ khai báo Hải Quan: Bộ hồ sơ hàng
nhập khẩu phải nộp cho Hải Quan gồm:
o Phiếu tiếp nhận hồ sơ Hải Quan.
o TKHQĐT hàng nhập khẩu HQ/2009 – TKĐTNK :02 bản chính
o Giấy giới thiệu
:01 bản chính
20
o Hợp đồng nhập khẩu
:01 bản sao y
o Hóa đơn thương mại
:01 bản chính
o Bản kê chi tiết hàng hóa
Các giấy tờ khác tùy đặc điểm, tính chất của từng lô hàng.
2.5.Nhận hàng hóa tại cảng.
Thủ tục nhận hàng container-FCL
Nhân viên giao nhận xuất trình D/O (có xác nhận phương án làm hàng của đại lý
hãng tàu) cho Thương vụ cảng để đóng các loại phí liên quan như: phí nâng hạ container
(nếu hàng kéo nguyên container về kho doanh nghiệp), phí lưu bãi container (nếu có), phí
nguy hiểm (nếu là hàng nguy hiểm),... Sau khi thu phí xong nhân viên Thương vụ cảng
đóng dấu “ĐÃ THU TIỀN” lên D/O và nhân viên giao nhận mang D/O này sang bộ phận
phát hành phiếu EIR ( phiếu giao nhận container) đề nghị xuất phiếu EIR.
Hàng lấy nguyên container: nhân viên giao nhận mang D/O đến hãng tàu đóng dấu
“HÀNG GIAO THẲNG” lên D/O, nếu hãng tàu yêu cầu làm giấy mượn container thì
làm và đóng phí cước container cho hãng tàu. Sau đó đến Thương vụ cảng xuất trình và
đóng phí nâng hạ container, phí lưu bãi (nếu có), và nhân viên Thương vụ cảng đóng dấu
“ĐÃ THU TIẾN” lên D/O, nhân viên giao nhận mang D/O này sang bộ phận phát hành
phiếu EIR đề nghị xuất phiếu EIR.
21
2.6.Thanh lý cổng đối với hàng nguyên container
Xuất trình phiếu EIR, lệnh giao hàng (D/O), và tờ khai để thanh lý cổng, công chức
Hải Quan giám sát cổng ký và đóng dấu lên phiếu EIR cho phép mang hàng ra khỏi cảng.
Công chức Hải Quan trả lại tờ khai và phiếu EIR (công chức giữ lại lệnh giao hàng và
liên màu xanh của phiếu EIR).
2.7.Giao hàng cho khách hàng
Sau khi giao hàng đến kho riêng của công ty khách hàng, nhân viên giao nhận đại
diện cho công ty bàn giao toàn bộ chứng từ và các giấy tờ liên quan đến lô hàng cho công
ty khách hàng. Ký vào biên bản bàn giao hàng hóa và chứng từ.
Đến đây xem như hoàn tất quá trình giao nhận cho một lô hàng.
của Công ty sẽ phải lập biên bản hàng đổ vỡ, hư hỏng và mời đại diện hãng tàu, chủ tàu
ký xác nhận để có thể xác định trách nhiệm thuộc về người vận tải hay do người XK
đóng hàng không đúng qui cách.Biên bản này sẽ là cơ sở để chủ hàng NK khiếu nại bồi
thường các bên liên quan.
Cùng với quá trình rút hàng từ Conainer thì cán bộ giao nhận của Công ty phải mời
công thức Hải quan đến để giám sát quá trình dỡ hàng kiểm tra số seal, số container và
kiểm hóa hàng hóa. Thông thường hàng hóa được rút ra khỏi Container tại Cảng (theo
B/L) do vậy đại diện Hải qaun sẽ đến Cảng để giám sát qua trình dỡ hàng . Kết thúc quá
trình kiểm hóa, công chức Hải quan sẽ hoàn thành các thông tin ở mặt sau của tờ khai Hải
quan hàng NK như: kết quả kiểm hóa…Nếu hàng hóa thừa hay thiếu so với tờ khai thì
cán bộ giao nhận của Công ty phải lập biên bản hàng thừa thiếu. Nếu hàng thừa, số hàng
thừa phải được làm đầy đủ mọi thủ tục Hải quan như một lần NK, tính lại thuế cho lô
hàng, khi đó công chức Hải quan sẽ tính lại thuế cho lô hàng và điền đầy đủ vào mục “
phần tính lại thuế của cơ quan Hải quan”.Sau đó công chức Hải quan sẽ đóng dấu xác
nhận “ chứng thực xuất nhập” và thông quan cho hàng NK.
23
Ngoài ra có một số trường hợp được đề nghị đem cả Container về kho riêng để
kiểm hóa, khi đó Công ty phải mời công chức Hải quan áp tải hàng hóa đến địa điểm
kiểm hóa, mọi chi phí đi lại cho công chức Hải quan, Công ty hoặc chủ hàng sẽ phải chịu,
tùy theo thỏa thuận giữa Công ty và chủ hàng trong hợp đồng ủy thác. Tuy nhiên đối với
bất cứ loại hàng hóa nào thì Công ty cũng nên thương lượng với chủ hàng NK rút hàng
và kiểm hóa tại Cảng, bởi vì khi đó sẽ tiết kiệm được một khoản chi phí lớn, đó là chi phí
nâng hạ vận chuyển Container về kho riêng giao trả Container rỗng cho đại lý hãng tàu.
V.Những thuận lợi và khó khăn của việc giao nhận hàng hóa
nhập khẩu nguyên container bằng đường biển.
1.THUẬN LỢI:
Các sai sót về những thông tin giữa các chứng từ.
Chậm trễ trong việc liên lạc giữa nhân viên Cảng , Hải quan và các cơ quan.
Khi nhận bộ chứng từ không xem xét kiểm tra kỹ lưỡng.
Chậm trễ ở ngân hàng do các chứng từ không ăn khớp…
Việc khai báo hải quan là một trong những công việc chiếm nhiều thời gian của các công
ty. Đôi khi có những trở ngại về chứng từ, giấy tờ cần thiết cho việc khai báo hải quan
như:
Trong bộ chứng từ về hàng hóa mà người xuất khẩu gửi tới không có giấy chứng
nhận xuất xứ trong khi hàng hóa thuộc diện ưu đãi về thuế quan;
Có sự sai lệch thông tin giữa các chứng từ, hóa đơn;
Hồ sơ chưa hoàn chỉnh;
Chủ hàng khai giá thấp hơn so với giá thực tế gây khó khăn cho hải quan trong
việc thẩm địnhgiá và đưa ra các mức thuế;
Nội dung tên hàng không phù hợp;
Mã áp cho hàng không phù hợp ,không đúng theo quy định quốc tế.
Đối với việc vận chuyển nội địa:
Phương tiện vận chuyển còn thiếu nên việc cạnh tranh với các đối thủ khác trong
lĩnh vực này thường gặp nhiều bất lợi về giá cước cũng như điều động xe,đặc biệt
vào mùa cao diểm (từ tháng 10 đến khoảng tháng 4).Trong việc giao dịch và lựa
chọn một số hãng vận tải nội địa ,hầu hết các công ty chỉ chú trọng đến một vài cơ
sở chủ yếu để lựa chọn như: giá cước,dịch vụ…mà chưa xem xét đúng mức các
yếu tố mang lại lợi ích lâu dài,khó nhận thấy trước mắt như:mức độ an toàn trong
vận chuyển, sự linh hoạt trong việc giải quyết các vấn phát sinh về hàng hóa trong
25