LỜI MỞ ĐẦU
Sau gần 35 năm Đổi Mới, Việt Nam đã và đang đạt được những thành tựu nhất định
và đáng ghi nhận về mọi mặt, từ chính trị, ngoại giao đến kinh tế, đời sống văn hóa xã hội.
Ngày 11 tháng 1 năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức
Thương mại thế giới – WTO. Có thể nói, kể từ thời điểm sau 2 năm gia nhập WTO, hoạt
động ngoại thương nói chung, đặc biệt hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam
nói riêng có nhiều thuận lợi để phát triển. Năm 2007 – 2008, tốc độ xuất khẩu tăng nhanh
hơn 2 lần so với tốc độ tăng GDP; tổng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu cao gấp 1,6 lần
so với tổng giá trị GDP.
Những thành tựu kể trên có được một phần không chỉ nhờ những thuận lợi khách
quan như những ưu đãi thuế quan, hàng rào phi thuế quan được dỡ bỏ, sự cạnh tranh bình
đẳng khi Việt Nam tham gia vào WTO, chúng còn xuất phát từ tư duy nhạy bén, đổi mới
của các thành phần kinh tế trước vận mệnh mới của đất nước. Tuy nhiên, mọi khâu sản
xuất, từ bước tìm kiếm thị trường, khách hàng cho đến việc xuất khẩu hay nhập khẩu, thực
tế đã cho thấy bản thân các doanh nghiệp không thể chủ động trực tiếp vận chuyển, giao
nhận hàng hóa xuất nhập khẩu đến các khách hàng của mình ở các quốc gia khác nhau trên
thế giới, vốn có đặc thù cách xa nhau về khoảng cách địa lý, đặc biệt là phải qua đường
biển dài ngày. Chính vì tính chuyên môn hóa ngày càng cao của một nền kinh tế hội nhập,
các công ty vận tải và giao nhận ở Việt Nam đã ra đời.Hiện nay, nước ta có hơn 1000 công
ty tham gia vào ngành này, và cơ hội phát triển còn vô cùng tiềm năng, chưa được khai
thác hết. 1 điều đáng lưu ý là 95% kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam được thông
qua đường biển.
Cuộc cách mạng container hóa vào cuối thập kỉ 60 của thế kỉ XX trên thế giới đã rút
ngắn thời gian truân chuyển và chuyên chở hàng hóa tại các cảng biển, đảm bảo an toàn và
tránh thất thoát cho hàng hóa, giúp hàng hóa được phân phối và tiếp cận với khách hàng
trên khắp thế giới nhanh chóng và tiện lợi hơn rất nhiều. Chính vì tính ưu việt đó, ngày
nay, vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu trong container bằng đường biển đã trở thành
phương thức vận tải phổ biến và được ưa chuộng. Vì lý do đó, tác giả xin phép chọn đề tài:
“TỔ CHỨC NGHIỆP VỤ GIAO NHẬN HÀNG XUẤT KHẨU NGUYÊN CONTAINER
1
BẰNG ĐƯỜNG BIỂNTẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN ASIA TRANS
nghiệp vụ và nâng cao tay nghề trong quá trình làm việc.
Hiện nay, công ty đang từng bước mở rộng mạng lưới của mình thông qua việc liên
kết với các đại lý ở nước ngoài như: hệ thống Agent Intercargo (Hoa Kỳ), hệ thống Cargo
Partner Logistics với hơn 37 quốc gia trên thế giới, Pilot Trans Global (Ấn Độ)… để thực
hiện các nghiệp vụ giao nhận quốc tế một cách chuyên nghiệp.
Công ty còn đẩy mạnh hoạt động môi giới thương mại giữa các doanh nghiệp nước
ngoài với các doanh nghiệp trong nước để đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu, từ đó gia
tăng thêm khách hàng giao nhận, vận tải với công ty.
Tuy chỉ mới thành lập được hơn 2 năm, nhưng công ty đã đạt được những thành quả
nhất định về kinh doanh, có những bước đi ban đầu bền vững.
II. CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ KINH DOANH
Nhìn chung, các công ty forwarder đều tích hợp các giải pháp vận tải để đáp ứng nhu
cầu ngày càng đa dạng của khách hàng trong thị trường logistics. Công ty ATL hoạt động
như 1 nhà General Forwarder, kể cả thuê ngoài, tích hợp 5 loại hình sau:
+ Air Forwarder: chuyên về dịch vụ giao nhận quốc tế bằng đường hàng không.
+ Air & Sea Forwarder: chuyên về dịch vụ giao nhận quốc tế bằng đường hàng không
và đường biển.
+ Consolidator: chuyên thực hiện, tích hợp các giải pháp cho các lô hàng lẻ (LCL) cả
đường hàng không và đường biển.
+ Trucking Forwarder: chuyên thực hiện giải pháp giao nhận vận tải nội địa, giao
nhận tận nhà, tận xưởng (door-to-door).
+ Broker: là các công ty forwarder chuyên thực hiện nghiệp vụ khai hải quan
(customs).
Bảng 1.1: TÓM TẮT SƠ LƯỢC VỀ CÔNG TY ATL
Tên công ty Cty TNHH một thành viên giao nhận vận tải Á Châu
Tên đối ngoại ASIA TRANSPORT LOGISTICS COMPANY LIMITED
Tên viết tắt ATL Co., Ltd
Website www.atltrans.com
Điện thoại +84.8.3820 9905
Fax +84.8.3820 9906
4
Giám đốc
Ms. Ruby
Phòng
kinh doanh
Ms. Vanny
Cước xuất khẩu Cước nhập khẩu
Phòng chứng từ
Ms. Thanh
Chứng từ
Chứng từ
hàng xuất
Ms. Kelly
Chứng từ
hàng nhập
Ms. Miki
Phòng kế toán
Ms. Hanh
Sơ đồ 1.1: Giới thiệu tóm tắt tổ chức công ty ATL
(Nguồn: Phòng chứng từ công ty ATL)
2. Chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban
+ Phòng kinh doanh: có nhiệm vụ tìm kiếm khách hàng có nhu cầu giao nhận vận tải
về cho công ty, tìm giá cước các hãng tàu, hãng hàng không cạnh tranh để cung cấp cho
khách hàng, tìm kiếm, liên lạc, xây dựng và duy trì quan hệ với các đại lý, hãng tàu, lên kế
hoạch kinh doanh cho công ty.
+ Phòng chứng từ: có nhiệm vụ lập các chứng từ cần thiết cho các lô hàng giao nhận
vận tải của khách hàng như vận đơn, khai báo hải quan, theo dõi các đơn hàng từ lúc kí kết
hợp đồng vận chuyển với khách hàng cho đến lúc hàng đã được giao cho người nhận;
chăm sóc, giải đáp và tư vấn thắc mắc cho khách hàng.
+ Phòng kế toán: có nhiệm vụ theo dõi chi phí, doanh thu, lợi nhuận của công ty, lên
thời điểm 2010, công ty phụ trách phần lớn các lô hàng xuất nhập khẩu ở thị trường châu Á
là chủ yếu. Các tuyến vận tải quốc tế ở thị trường châu Á rất cạnh tranh nên công ty ATL
chỉ có thể “mark-up” giá cước (làm giá) cho tuyến vận tải này ở mức chỉ từ 30 – 50 USD
để thu hút khách hàng. Các chi phí cũng có sự gia tăng đáng kể, đặc biệt là chi phí bảo trì
và chi phí sử dụng cho các thiết bị đầu tư ban đầu của công ty ATL.Đây có thể xem là một
6
điểm yếu của công ty khi đầu tư vào các thiết bị chưa thật sự tiết kiệm. Đặc biệt, chi phí
lương nhân viên gia tăng đột biến 71.557,13 USD, tăng gấp 2,46 lần so với cùng kỳ năm
2009 (29.050,9 USD). Điều này được giải thích vì lí do giám đốc công ty ATL trong năm
2009 quyết định không nhận lương thời gian đầu công ty mới thành lập. Tuy nhiên, cuối
năm 2009, lợi nhuận ròng của công ty đạt 24.605,24 USD nên giám đốc công ty ATL quyết
định nhận lương trong năm 2010, làm chí phí lương tăng nhanh chóng. Vì nguyên nhân đó,
trong năm 2010, công ty ATL lỗ và lợi nhuận ròng đạt mức âm là:-23.531,33 USD.
2. Tình hình kinh doanh giao nhận hàng xuất bằng container đường biển
Hiện nay, công ty ATL đang cung cấp các dịch vụ chủ yếu và chủ lực của mình là:
xuất nhập khẩu bằng vận tải biển (container), xuất nhập khẩu bằng đường hàng không.
Biểu đồ dưới đây cho thấy, công ty ATL đang có thế mạnh trong vận tải xuất nhập
khẩu bằng đường biển với tỷ trọng là 39,12% cho hàng xuất và 35,36% cho hàng nhập.
Trong khi đó, vận tải xuất nhập khẩu bằng đường hàng không chiếm tỷ trọng thấp hơn với
3,37% cho hàng xuất và 22,15% cho hàng nhập. Như vậy, tỷ trọng hàng xuất bằng đường
biển gấp hơn 10 lần hàng xuất bằng đường không, và con số đối với hàng nhập là 1,6 lần.
Điều này phù hợp với xu thế giao nhận vận tải hiện nay vì vận tải hàng hóa bằng
đường biển là phương thức vận tải tiết kiệm nhất, vì thông thường, chi phí thấp hơn 5 lần
so với vận tải bằng đường hàng không.Nắm bắt được xu hướng này cũng như nhu cầu của
thị trường, công ty ATL không ngừng mở rộng các tuyến đường vận tải biển bằng cách
thỏa thuận giá cước tốt nhất với các hãng tàu.
7
Biểu đồ 1.2: Tỷ trọng dịch vụ của cty ATL trong 3 năm từ quý II – 2009
đến quý II – 2011
(Nguồn: Phòng chứng từ)
Ra cảng lấy container rỗng đưa về kho đóng hàng và
trở ra cảng
Phòng chứng từ
Yêu cầu chứng từ hàng hóa để làm tờ khai từ khách
hàng
Phòng chứng từ
Lên tờ khai hải quan điện tử và gửi cho hải quan Phòng chứng từ
Thông quan hàng hóa khi hàng đưa ra cảng Phòng chứng từ
Làm HB/L gửi cho khách hàng kiểm tra Phòng chứng từ
Làm CO nộp phòng thương mại Phòng chứng từ
Gửi chi tiết làm MB/L cho người chuyên chở Phòng chứng từ
Người chuyên chở gửi MB/L và ATL kiểm tra MB/L Người chuyên chở
Gửi Pre-alert cho đại lý nước hàng đến Phòng chứng từ
Giai
đoạn
04
Theo dõi lô hàng (tracking cargo) sau khi tàu đi Phòng kinh doanh
Xác nhận việc đại lý nhận hàng ở cảng đến Phòng kinh doanh
Thông báo khách hàng khi hàng đến tay người nhận Phòng kinh doanh
Giai
đoạn
05
Gửi debit note (giấy báo nợ) cho khách hàng kiểm tra
và xác nhận
Phòng chứng từ
Xuất hóa đơn và yêu cầu khách hàng thanh toán Phòng kế toán
Làm Shipping Request cho bộ phận kế toán để tính lợi
nhuận
Phòng kế toán
Để rõ ràng, tác giả xin dẫn chứng quy trình thực hiện trong một trường hợp cụ thể,