Nghiên cứu Qui trình thủ tục giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu tại Công ty FOCUS SHIPPING - Pdf 10

1 | P a g e

MỤC LỤC
TRANG
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài 4
2. Mục tiêu của đề tài 5
3. Phương pháp nghiên cứu 6
4. Kết cấu nội dung luận văn 6
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIAO NHẬN HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU.
1.1. Khái niệm chung về giao nhận. 7
1.1.1. Nghiệp vụ giao nhận 7
1.1.2. Phân loại giao nhận 7
1.1.3. Người giao nhận 8
1.2. Nội dung cơ bản của nghiệp vụ giao nhận 9
1.2.1. Nghiệp vụ giao nhận truyền thống 9
1.2.2. Nghiệp vụ giao nhận quốc tế – Dòch vụ giao nhận 10
1.3. Vai trò và trách nhiệm của người giao nhận trong mậu dòch quốc tế 12
1.3.1. Vai trò của người giao nhận 12
1.3.2. Quyền hạn, nghóa vụ và trách nhiệm của người giao nhận 14
1.4. Cơ quan giao nhận quốc tế ở Việt Nam 18
CHƯƠNG 2:
GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT VỀ CÔNG TY FOCUS SHIPPING CORP.
2.1. Lòch sử hình thành và quá trình phát triển của công ty 20
2.11. Lòch sử hình thành 20
2.1.2. Quá trình phát triển 21
2.2. Chức năng và nhiệm vụ của công ty 22
2.2.1. Chức năng 22
2.2.2. Nhiệm vụ 23
2 | P a g e

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU VÀ SƠ ĐỒ

Danh mục bảng số liệu:

Bảng 2.1: Tình hình tài sản và nguồn vốn của công ty 2009-2010 (tr.27)
Bảng 2.2: Kết quả hoạt động kinh doanh của FSC hai năm 2009-20010 (tr.28)
Bảng 3.1: Sản lượng hàng hóa xuất khẩu đường biển 2 năm 2009-2010 (tr.51)
Bảng 3.2: Sản lượng hàng Air 2 năm 2009-2010 của công ty.(tr.54)

Danh mục sơ đồ:

Sơ đồsố 1.1: Cơ cấu tổ chức của công ty FOCUS SHIPPING CORP (tr.24)
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ tổng quát quy trình giao nhận hàng xuất khẩu đường biển (tr.33)
Sơ đồ 3.2: Sơ đồ đóng hàng tại kho riêng của khách hàng (tr.40)
Sơ đồ 3.3: Sơ đồ các bước đóng hàng xuất tại cảng Cát Lái(tr.41)
Sơ đồ 3.4: Quy trình làm thủ tục Hải Quan tại Cát Lái (tr. 44)
Sơ đồ số 3.5: Quy trình làm chứng từ đối với hàngxuất khẩu(tr. 48)
Sơ đồ 3.6: Quy trình thủ tục cho hàng xuất khẩu đường hàng không tại sân bay TÂN
SƠN NHẤT (tr.52)
Sơ đồ 3.7: Sơ đồ tổng quát quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu (tr.55)
Sơ đồ 3.8: Sơ đồ quy trình thủ tục hải quan hàng nhập tại cảng CÁT LÁI (tr.60)
Sơ đồ 3.9: Sơ đồ quy trình nhận hàng lẻ tại cảng CÁT LÁI (tr.67)
Sơ đồ 3.10: Sơ đồ các bước lấy nguyên cont’, rút hàng tại cảng Cát Lái (tr.69)
Sơ đồ 3.11: Sơ đồ các bước lấy hàng tại sân bay TÂN SƠN NHẤT (tr.72)

4 | P a g e


Trước xu thế chung đó, công ty FOCUS SHIPPING CORP (sau đây viết tắt là
FSC) ra đời nhằm mở rộng phát triển hơn nữa ngành xuất nhập khẩu. Nhưng, thương
trường như chiến trường, tuy không ồn ã tiếng súng nhưng luôn tiềm ẩn những nguy cơ
và thử thách khó lường, buộc những công ty mới gia nhập ngành như FSC cần phải tạo
sự khác biệt bằng những bước đi riêng vững chắc, đem lại niềm tin cho khách hàng và
khẳng đònh được vò trí của mình.
Trong quá trình tìm hiểu các lónh vực hoạt động của công ty FSC và nhận thấy
được sức hấp dẫn của ngành vận tải, tầm quan trọng của vấn đề xuất nhập khẩu này,
tôi chọn đề tài:
“NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH THỦ TỤC GIAO NHẬN HÀNG HÓA XUẤT
NHẬP KHẨU TẠI CÔNG TY FOCUS SHIPPING CORP”.

2. Mục tiêu của đề tài:
Là sinh viên ngành kinh tế vận tải biển, nhận thấy việc kinh doanh xuất nhập
khẩu là một ngành khó nhưng hấp dẫn và mang lại lợi nhuận cao không chỉ cho bản
thân doanh nghiệp mà còn mang ngoại tệ về cho đất nước.
Môi trường kinh doanh luôn thay đổi, do đó việc thay đổi để thích nghi với môi
trường kinh doanh là điều quan trọng. Dù là ngành gì, ở bất cứ hoạt động nào thì cũng
có ưu nhược điểm, vẫn có những khâu cần phải chú ý và đổi mới. Hơn thế nữa, bản
thân được làm việc tại công ty và tiếp xúc trực tiếp với ngành nghề nên muốn biết
thêm chi tiết về công việc giao nhận để qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu về quy
trình sẽ rút ra những điều cần chú ý khi tiếp xúc trực tiếp với công việc.
Bản thân cũng muốn thông qua bài luận văn này ứng dụng những lý thuyết từ
sách vở và thông qua thực tế để củng cố hoàn thiện hơn kiến thức được học tại trường.
Từ đóù giúp cho mình có được kiến thức vững chắc hơn nữa cho công việc sau này. 6 | P a g e

3. Phương pháp nghiên cứu:


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIAO NHẬN HÀNG HÓA
XUẤT NHẬP KHẨU.
1.1. Khái niệm chung về giao nhận:
1.1.1. Nghiệp vụ giao nhận:
Đặc điểm nổi bật của mậu dòch quốc tế là người bán và người mua thường ở
cách xa nhau. Việc di chuyển hàng hóa là do người vận tải đảm nhận. Đây là khâu
nghiệp vụ quan trọng, thiếu nó thì coi như hợp đồng mua bán không thể thực hiện được.
Để cho quá trình vận tải được Bắt đầu- Tiếp tục- Kết thúc, tức là hàng hóa đến tay
người mua, ta cần phải thực hiện một loạt các công việc khác liên quan đến quá trình
vận chuyển như đưa hàng ra cảng, làm thủ tục gửi hàng, tổ chức xếp/dỡ, giao hàng cho
người nhận hàng ở nơi đến… Tất cả các công việc này được gọi chung là “Nghiệp vụ
giao nhận- Forwarding”.
Có nhiều khái niệm về giao nhận:
 “Giao nhận là một hoạt động kinh tế có liên quan đến hoạt động về vận
tải nhằm đưa hàng đến đích an toàn”.
 “Giao nhận là dòch vụ hải quan”.
 “Giao nhận là dòch vụ có liên quan đến vận tải, nhưng không phải là vận
tải”.
 “Giao nhận là một tập hợp các nghiệp vụ có liên quan đến quá trình vận
tải, nhằm mục đích chuyên chở hàng hóa từ nơi gửi hàng đến nơi nhận
hàng”.
1.1.2. Phân loại giao nhận:
 Căn cứ vào phạm vi hoạt động
 Giao nhận quốc tế
 Giao nhận nội đòa
 Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh
8 | P a g e

 Giao nhận thuần túy là hoạt động chỉ bao gồm thuần túy việc gửi

 Biết kết hợp giữa nhiều phương thức vận tải khác nhau.
 Biết vận dụng tối đa dung tích, trọng tải của các công cụ vận tải nhờ vào
dòch vụ gom hàng.
 Biết kết hợp giữa vận tải-giao nhận- xuất nhập khẩu và liên hệ tốt với
các tổ chức có liên quan đến quá trình vận chuyển hàng hóa như Hải
Quan, Đại lý tàu, Bảo hiểm, Ga, Cảng…
Người giao nhận còn tạo điều kiện cho người kinh doanh xuất nhập khẩu hoạt
động có hiệu quả nhờ vào dòch vụ giao nhận của mình.
 Nhà xuất nhập khẩu có thể sử dụng kho bãi của người giao nhận hay của
người giao nhận đi thuê từ đó giảm được chi phí xây dựng kho bãi.
 Nhà xuất nhập khẩu giảm được các chi phí quản lý hành chính bộ máy tổ
chức đơn giản, có điều kiện tập trung vào kinh doanh xuất nhập khẩu.
1.2. Nội dung cơ bản của nghiệp vụ giao nhận:
1.2.1. Nghiệp vụ giao nhận truyền thống:
Chủ yếu là các khâu nghiệp vụ do chủ hàng trực tiếp thực hiện theo nghóa vụ
của mình được qui đònh trong hợp đồng, bao gồm:
 Tổ chức chuyên chở hàng hóa từ nơi sản xuất đến các điểm đầu mối vận
tải và ngược lại.
 Tố chức xếp/dỡ hàng hóa lên xuống các phương tiện vận tải tại các điểm
đầu mối vận tải.
 Lập các chứng từ có liên quan đến giao nhận vận chuyển nhằm bảo vệ
quyền lợi của chủ hàng.
 Theo dõi và giải quyết những khiếu nại về hàng hóa trong quá trình giao
nhận vận tải, đồng thời thanh toán các chi phí có liên quan đến giao nhận.
10 | P a g e

Là tròn 4 bước cơ bản này, thực chất đó là việc tổ chức chuyên chở hàng hóa từ
người gửi hàng đến người nhận hàng.
“Thực chất của việc chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu từ người gửi
hàng đến người nhận hàng là nghiệp vụ giao nhận”.

chợ, hàng triển lãm, ngoại giao, quá cảnh, công trình, hàng tư nhân đóng
trong container, hàng bao kiện rời…
 Làm đầu mối vận tải đa phương thức. Kết hợp sử dụng nhiều phương tiện
vận tải để đưa hàng đi bất cứ nơi nào theo yêu cầu của chủ hàng.
 Thực hiện mọi dòch vụ có liên quan đến giao nhận, vận tải như lưu cước
tàu chợ, thuê tàu chuyến, thuê các phương tiện vận tải khác, mua bảo
hiểm cho hàng hóa xuất nhập khẩu, bảo quản hàng, tái chế, đóng gói, thu
gom hoặc chia lẻ hàng. Thuê hoặc cho thuê vỏ container, giao hàng đến
tận cơ sở sản xuất hoặc đòa điểm tiêu thụ…
 Làm tư vấn cho các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu về mọi vấn đề liên
quan đến giao nhận vận tải và bảo hiểm… nhận ủy thác xuất nhập khẩu
và thu gom hàng xuất nhập khẩu.
*****************************************************************
Trên cơ sở hợp đồng giao nhận hàng hóa – điều 16: “Hợp đồng giao nhận hàng
hóa là hợp đồng được ký kết giữa người làm dòch vụ giao nhận hàng hóa với khách
hàng để thực hiện dòch vụ giao nhận hàng hóa qui đònh tại điều 163 của luật này.”
*****************************************************************

1.3. Vai trò và trách nhiệm của người giao nhận trong mậu dòch quốc tế:
1.3.1. Vai trò của người giao nhận:
12 | P a g e

Cách đây khoảng gần 600 năm (1522), hãng giao nhận đầu tiên trên thế giới
được thành lập lại Badiley (Thụy Só) với tên gọi E.VANSAI. Hãng này kinh doanh cả
vận tải, giao nhận và thu phí giao nhận rất cao (khoảng 1/3 giá trò của hàng hóa).
Cùng với sự phát triển của vận tải và buôn bán quốc tế, giao nhận được tách ra
khỏi vận tải và buôn bán, dần trở thành một ngành kinh tế độc lập. Đặc điểm chính
của các tổ chức giao nhận thời kỳ này là:
 Hầu hết là các tổ chức cá nhân,
 Đa số các hãng kinh doanh tổng hợp,

động phục vụ cả hàng xuất khẩu và dành chỗ chở hàng trong vận tải quốc tế hoặc lưu
cước với các hãng tàu theo sự ủy thác của người xuất khẩu hoặc người nhập khẩu tùy
thuộc vào qui đònh của hợp đồng mua bán.
 Làm đại lý (Agent)
Trước đây, người giao nhận không đảm nhận vai trò của người chuyên chở. Anh
ta chỉ hoạt động như một cầu nối giữa người gửi hàng và người chuyên chở như một
đại lý của người chuyên chở hoặc của người gửi hàng.
 Lo liệu chuyển tải và tiếp gửi hàng hóa (Transhipment and on
carriage)
Khi hàng hóa phải chuyển tải hoặc quá cảnh qua một nước thứ ba, người giao
nhận sẽ làm thủ tục quá cảnh, hoặc tổ chức chuyển tải hàng hóa từ phương tiện vận tải
này sang phương tiện vận tải khác, hoặc giao hàng đến tay người nhận.
 Lưu kho hàng hóa (Warehousing)
Trong trường hợp phải lưu kho hàng hóa trước khi xuất khẩu hoặc sau khi nhập
khẩu, người giao nhận sẽ thu xếp việc đó bằng phương tiện của mình hoặc thuê người
khác và phân phối hàng hóa nếu có yêu cầu.
 Người gom hàng (Cargo Consolidator)
14 | P a g e

Dòch vụ này đã xuất hiện rất sớm ở Châu Âu chủ yếu phục vụ cho đường sắt.
Đặc biệt trong vận tải hàng hóa bằng container, dòch vụ gom hàng càng không thể
thiếu được nhằm biến hàng lẻ (LCL-Less Container Load) thành hàng nguyên
container (FCL-Full Container Load). Khi là người gom hàng, người giao nhận đóng
vai trò là người chuyên chở hoặc chỉ là đại lý.
 Người chuyên chở (Carrier)
Trong nhiều trường hợp, người giao nhận đóng vai trò là ngươi chuyên chở, tức
là trực tiếp ký hợp đồng vận tải với chủ hàng và chòu trách nhiệm chuyên chở hàng
hóa từ nơi gửi hàng đến nơi nhận hàng. Người giao nhận đóng vai trò là người chuyên
chở theo hợp đồng(Contracting Carrier), nếu anh ta ký hợp đồng mà không trực tiếp
chuyên chở. Trường hợp người giao nhận trực tiếp chuyên chở thì anh ta là người

những mất mát, hư hỏng phát sinh trong những trường hợp sau đây:
- Do lỗi của khách hàng hoặc của người được khách hàng ủy quyền;
- Đã làm đúng theo những chỉ dẫn của khách hàng hoặc của người được
khách hàng ủy quyền;
- Khách hàng đóng gói và ký mã hiệu không phù hợp;
- Do khách hàng hoặc người được khách hàng ủy quyền thực hiện việc
xếp/dỡ hàng hóa;
- Do khuyết tật của hàng hòa;
- Do có đình công;
- Các trường hợp bất khả kháng.
2. Người làm dòch vụ giao nhận hàng hóa không chòu trách nhiệm về việc
mất khoản lợi đáng lẽ khách hàng được hưởng, về sự chậm trễ hoặc giao
hàng sai đòa chỉ mà không phải do lỗi của mình, trừ trường hợp pháp luật có
qui đònh khác.
Điều 170 – Giới hạn trách nhiệm
16 | P a g e

 Trách nhiệm của người làm dòch vụ giao nhận hàng hóa trong mọi trường
hợp không vượt quá giá trò hàng hóa, trừ khi các bên có thỏa thuận khác
trong hợp đồng;
 Người làm dòch vụ giao nhận hàng hóa không được miễn trách nhiệm nếu
không chứng minh được việc mất mát, hư hỏng hoặc chậm giao hàng không
phải do lỗi của mình gây ra;
 Tiền bồi thường được tính trên cơ sở giá trò hàng hóa ghi trên hóa đơn và
các khoản tiền khác có chứng từ hợp lệ. Nếu trong hóa đơn không ghi giá trò
hàng hóa thì tiền bồi thường được tính theo giá trò của loại hàng đó tại nơi và
thời điểm mà hàng được giao cho khách hàng theo thò trường; nếu không có
giá thò trường thì tính theo giá thông thường của hàng cùng loại và cùng chất
lượng;
 Người làm dòch vụ giao nhận hàng hóa không phải chòu trách nhiệm

Là người nhận ủy thác, với tư cách là một bên ký hợp đồng độc lập đảm nhận
trách nhiệm với danh nghóa của mình thực hiện các dòch vụ do khách hàng yêu cầu, do
vậy:
 Người giao nhận phải chòu trách nhiệm về những hành vi sơ suất của
người chuyên chở, của người giao nhận khác mà anh ta sử dụng để thực hiện
hợp đồng. Nói chung người giao nhận thương lượng giá dòch vụ với khách
hàng chứ không phải là nhận hoa hồng (commission).
 Là người nhận ủy thác, trách nhiệm đối với bên thứ ba, quyền hạn về giới
hạn trách nhiệm và quyền thực hiện bắt giữ hàng cũng giống như khi anh ta
đóng vai trò là đại lý.
 Khi đảm nhận vai trò là người vận tải chính trong cung cấp các dòch vụ
gom hàng, dòch vụ vận tải đa phương thức hoặc tự vận chuyển hàng hóa
bằng các phương tiện vận tải khác nhau thì điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn
18 | P a g e

nói chung không áp dụng mà áp dụng Công ước Quốc Tế hoặc Qui tắc do
Phòng Thương mại Quốc tế ban hành.
 Khi là người gom hàng (Consolidator) cấp FBL (Fiata B/L), anh ta phải
chòu trách nhiệm về những mất mát, hư hỏng hàng hóa, ngay cả khi hàng
còn nằm trong sự trông giữ của người chuyên chở thực sự (Effective Carrier).
Theo điều khoản của FBL: “Khi đã biết rõ chặng đường xảy ra tổn thất thì
trách nhiệm của người giao nhận sẽ được quyết đònh theo Công ước Quốc tế
hoặc luật quốc gia. Tuy nhiên, nếu không biết rõ chặng đường đó, thì trách
nhiệm của người giao nhận được giới hạn trong 2 SDR (Special Drawing
Right) cho một kg (cả bì) hàng bò mất hay không. Anh ta cũng phải chòu
trách nhiệm về việc giao hàng chậm với mức bồi thường giới hạn gấp đôi
tiền cước hoặc giá trò của lô hàng bò giao chậm, mức nào cao nhất thì áp
dụng.
1.4. Cơ quan giao nhận quốc tế ở Việt Nam:
Vào những năm 60 các nghiệp vụ giao nhận quốc tế ở Việt Nam mang tính chất


Việt Nam đã thành lập hiệp hội giao nhận (VIFFAS) đại diện quyền lợi của các
công ty giao nhận nói trên.

(Nguồn: Sách của PGS.TS. Hoàng Văn Châu, VẬN TẢI-GIAO NHẬN
HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU, nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật
)
CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT VỀ CÔNG TY
FOCUS SHIPPING CORP.
20 | P a g e

2.1. Lòch sử hình thành và quá trình phát triển của công ty:
2.1.1. Lòch sử hình thành:
Công ty được thành lập theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Công ty cổ
phần số: 4103006544 ngày 27/04/2007 của Sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hồ Chí
Minh. Đăng ký thay đổi lần thứ 1 vào ngày 10 tháng 03 năm 2008.
Tên công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN HÀNG HẢI TIÊU ĐIỂM
Tên giao dòch bằng tiếng nước ngoài: FOCUS SHIPPING CORPORATION.
Tên viết tắt: FOCUSSHIP CORP.
Danh sách cổ đông sáng lập:
Công ty gồm có 5 cổ đông như sau:
1. Đặng Thò Minh Tâm.
2. Nguyễn Xuân Hữu
3. Nguyễn Thò Thanh Diệp
4. Trần Thò Thu Trang
5. Từ Minh Hòa.
Với tổng số vốn góp là: 5.000.000.000VNĐ (Năm tỉ Việt Nam đồng)(100%)

trong làng doanh nghiệp. Sau một khoảng thời gian hoạt động, công ty đã ngày càng
khẳng đònh tên tuổi của mình, có thể làm chủ các kỹ thuật đại lý tàu biển, giao nhận
hàng hóa xuất nhập khẩu, làm thủ tục hải quan cho hàng hóa xuất nhập
22 | P a g e

khẩu.v.v Công ty luôn trung thành với phương châm: “luôn tận tâm phục vụ khách
hàng, luôn kòp thời và nhanh chóng cũng như luôn nâng cao hiệu quả dòch vụ, tiết
kiệm chi phí tối đa cho khách hàng”.
Công ty đã cung cấp dòch vụ hàng hải và tiếp vận cho rất nhiều khách hàng
trong và ngoài nước, cụ thể là: AAFI CO., LTD; A.N.C CO., LTD; INTERLINK
HOCHIMINH CITY; SEA & AIR FREIGHT INTERNATIONAL(SAFI);
VINAFREIGHT; VIETRANS INTERNATIONAL FREIGHT FORWARDERS; T & M
FORWARDING LTD; VNC LTD…. Và rất nhiều khách hàng tiềm năng khác.
Công ty FSC luôn phấn đấu không ngừng để có thể cung cấp dòch vụ tốt nhất cho
khách hàng, với mong muốn là giúp cho khách hàng đạt được lợi thế cạnh tranh và lợi
nhuận cao nhất trong công việc kinh doanh của mình.

2.2. Chức năng, nhiệm vụ của công ty:
2.2.1 Chức năng:
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế của cả nước, là nơi mà giao dòch
hàng hải sớm phát triển, có nhiều điều kiện thuận lợi, có vò trí quan trọng trong giao
lưu đối nội và đối ngoại nên việc hình thành những công ty giao nhận nhằm thỏa mãn
nhu cầu trao đổi hàng hóa trong và ngoài nước là hết sức cần thiết. Chính vì vậy, công
ty FSC được thành lập với các chức năng:
- Kinh doanh vận tải hàng bằng ô tô, đường thủy nội đòa, đường biển và
đường hàng không;
- Đại lý giao nhận hàng hóa đường biển và hàng không trong và ngoài
nước;
- Cung cấp các dòch vụ khai báo Hải Quan, đóng gói bao bì và các dòch vụ
liên quan.

Sơ đồsố 2.1: Cơ cấu tổ chức của công ty FOCUS SHIPPING CORP

Công ty tổ chức bộ máy quản lý kinh doanh theo nguyên tắc trực tuyến, đảm
bảo việc thực hiện nguyên tắc thống nhất chỉ huy, một nguyên tắc quan trọng của quản
trò. Trong công ty, các thông tin được truyền đi nhanh chóng, kòp thời và chính xác,
trách nhiệm được phân đònh rõ ràng, luôn có sự thống nhất và tập trung cao độ.
2.3.2. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các bộ phận:
 Hội đồng quản trò:
Là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết đònh
mọi vấn đề có liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty, trừ những vấn đề
thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông.
 Giám đốc:
Quyết đònh và chòu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến công việc kinh
doanh hằng ngày của công ty. Tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và
phương án đầu tư của công ty. Giám đốc có quyền phân công, bổ nhiệm cán bộ
cấp dưới (trừ các chức danh do Hội đồng quản trò bổ nhiệm); quyết đònh lương,
phụ cấp (nếu có), khen thưởng hoặc kỷ luật đối với tất cả nhân viên của công ty.
25 | P a g e

 Bộ phận kinh doanh:
Chòu sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc, theo dõi tình hình kinh doanh, dòch
vụ của công ty, tìm nguồn hàng và trả lời khách hàng về những thắc mắc của họ.
Bộ phận kinh doanh có thể được xem là bộ phận trọng yếu trong việc giữ uy tín,
tạo được sự tín nhiệm trong mối quan hệ làm ăn lâu dài với khách hàng vì mọi
nhu cầu của khách hàng luôn đòi hỏi phải được đáp ứng một cách nhanh chóng,
an toàn, giảm thiểu giá thành vận tải. Thường xuyên cập nhật các thông tin mới
nhất về thò trường trong và ngoài nước nhằm đưa ra phương án chiến lược cạnh
tranh phù hợp để phục vụ khách hàng một cách tốt nhất.
 Bộ phận dòch vụ khách hàng:
Có nhiệm vụ hỏi giá các hãng tàu (trường hợp không có hợp đồng của đại lý


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status