báo cáo thực tập giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu tại công ty việt xô - Pdf 22

ĐỒ ÁN MÔN HỌC : BÁO CÁO THỰC TẬP NGHIỆP VỤ
LỜI MỞ ĐẦU
Từ khi mở của hội nhập kinh tế Việt Nam đã có những phát triển vượt
bậc. Các hoạt động đầu tư, buôn bán giao dịch với nước ngoài ngày càng gia
tăng mạnh mẽ có những đóng góp to lớn vào công cuộc làm đổi thay đất
nước. Đặc biệt trong lĩnh vực xuất nhập khẩu hàng hóa & dịch vụ. Giao
nhận là một hoạt động thiết yếu trong lĩnh vực này. Do đó, nắm vững các
quy trình nghiệp vụ là yêu cầu quan trọng & cấp thiết đối với những người
thực hiện công tác giao nhận, nhất là đối với các sinh viên ngoại thương sắp
ra trường bên cạnh kiến thức chuyên môn được học ở trường lớp thì cần phải
bổ sung kiến thức và kinh nghiệm thực tế. Qua thời gian thực tập tại công ty
cổ phần Việt Xô trong đợt thực tập nghiệp vụ em đã thu lượm được rất nhiều
kiến thức & kinh nghiệm bổ ích và xin được trình bày trong bản báo cáo
này.
Báo cáo gồm ba phần chính:
Phần I: Giới thiệu tổng quan về công ty cp Việt Xô
Phần II: Lý thuyết cơ bản về lĩnh vực thực tập
Phần III: Nội dung thực tập tại công ty cp Việt Xô
Lê Văn Việt – Lớp : KTN47DH Trang 1
ĐỒ ÁN MÔN HỌC : BÁO CÁO THỰC TẬP NGHIỆP VỤ
PHẦN I. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CP VIỆT XÔ
I. Quá trình thành lập:
- Trụ sở chính của công ty cp Việt Xô nằm tại Số 1 Bến Bính- Hồng
Bàng – Hải Phòng.
- Điện thoại: 031.38222676
- Fax: 031. 3842246
- Công ty cp Việt Xô được bắt đầu xây dựng năm 1968 và hoàn thành
vào năm 1976 với tên gọi xí nghiệp chế biến rau quả đông lạnh. Sau 26 năm
hoạt động đến 2002 công ty chính thức đổi tên hành công ty cổ phần Việt
Xô với việc mở rộng lĩnh vực hoạt động.
- GPĐKD được cấp lần đầu vào năm 2002.

- Kinh doanh vận tải và dịch vụ giao nhận trong nước và quốc tế;
đóng gói gom hàng, ……
Lê Văn Việt – Lớp : KTN47DH Trang 3
ĐỒ ÁN MÔN HỌC : BÁO CÁO THỰC TẬP NGHIỆP VỤ
IV. Mô hình cơ cấu tổ chức:
Lê Văn Việt – Lớp : KTN47DH Trang 4
Ban giám đốc
Hội đồng quản trị
Xưởng 2 Xưởng 3 Xưởng 4
Phòng
hành
chính
tổng
hợp
Phòng
hành
Kế
hoạch
nghiệp
vụ thị
trường
Phòng
Kế
toán
Phòng
Sản
xuất
Phòng
Dịch
vụ

nhàng, cân đối.
Lê Văn Việt – Lớp : KTN47DH Trang 5
ĐỒ ÁN MÔN HỌC : BÁO CÁO THỰC TẬP NGHIỆP VỤ
Người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá vừa là một nhà VTĐPT, vừa là
nhà tổ chức, nhà kiến trúc của vận tải. Họ phải lựa chọn phương tiện, người
vận tải thích hợp, tuyến đường thích hợp có hiệu quả kinh tế nhất và đứng ra
trực tiếp vận tải hay tổ chức thu xếp quá trình vận tải của toàn chặng với
nhiều loại phương tiện vận tải khác nhau như: tàu thuỷ, ô tô, máy bay vận
chuyển qua nhiều nước và chịu trách nhiệm trực tiếp với chủ hàng. Vì vậy,
chủ hàng chỉ cần ký một hợp đồng vận tải với người giao nhận nhưng hàng
hoá được vận chuyển an toàn, kịp thời với giá cước hợp lý từ kho nhà xuất
khẩu tới kho nhà nhập khẩu (door to door service), tiết kiệm được thời gian,
giảm chi phí vận chuyển và nâng cao được tính cạnh tranh của hàng hoá trên
thị trường quốc tế.
Trước đây, người giao nhận chỉ làm đại lý (agent) thực hiện một số công
việc do các nhà XNK ủy thác như xếp dỡ, lưu kho hàng hoá, làm thủ tục
giấy tờ, lo liệu vận tải nội địa, thủ tục thanh toán tiền hàng
Song cùng với sự phát triển thương mại quốc tế và tién bộ kỹ thuật trong
ngành vận tải mà dịch vụ giao nhận cũng đựoc mở rộng hơn. Ngày nay,
người giao nhận đóng vai trò rất quan trọng trong thương mại và vận tải
quốc tế. Người giao nhận không chỉ làm các thủ tục hải quan hoặc thuê tàu
mà còn cung cấp dịch vụ trọn gói về toàn bộ quá trình vận tải và phân phối
hàng hoá. Người giao nhận đã làm những chức năng sau đây:
- Môi giới Hải quan: người giao nhận thay mặt người xuất khẩu, nhập
khẩu để khai báo, làm thủ tục hải quan hay môi giới hải quan.
- Làm đại lý: người giao nhận nhận uỷ thác từ chủ hàng hoặc từ người
chuyên chở để thực hiện các công việc khác nhau như nhận hàng, giao hàng,
lập chứng từ làm thủ tục hải quan, lưu kho…trên cơ sở hợp đồng uỷ thác.
Lê Văn Việt – Lớp : KTN47DH Trang 6
ĐỒ ÁN MÔN HỌC : BÁO CÁO THỰC TẬP NGHIỆP VỤ

(contracting carrier) nếu anh ta ký hợp đồng mà không chuyên chở. Nếu anh
ta trực tiếp chuyên chở thì anh ta là người chuyên chở thực tế (performing
carrier). Dù là người chuyên chở gì thì vẫn chịu trách nhiệm về hàng hoá.
Trong trường hợp này, người giao nhận phải chịu trách nhiệm về hàng hoá
trong suốt hành trình không những về hành vi lỗi lầm của mình mà cả những
người mà anh ta sử dụng và có thể phát hành vận đơn.
- Người kinh doanh VTĐPT (Multimodal Transport Operator - MTO)
Trong trường hợp người giao nhận cung cấp dịch vụ vận tải đi suốt
hoặc còn gọi là vận tải từ cửa đến cửa thì người giao nhận đã đóng vai trò là
người kinh doanh VTĐPT (MTO). MTO thực chất là người chuyên chở,
thường là chuyên chở theo hợp đồng và phải chịu trách nhiệm đối với hàng
hoá.
3. Địa vị pháp lý của người giao nhận:
Do thiếu luật lệ quốc tế về lĩnh vực giao nhận, địa vị pháp lý của người
giao nhận ở từng nước khác nhau.
- Tại các nước có luật tập tục ( Common Law – Luật bất thành văn) phổ
biến thuộc khối liên hiệp Anh, địa vị pháp lý của người giao nhận thường
dựa trên khái niệm Đại lý, đặc biệt là đại lý ủy thác. Người giao nhận thường
là đại lý của người ủy thác (người gửi hàng hay người nhận hàng) trong
việc thu xếp vận chuyển hàng hóa. Do đó người giao nhận: trung thực với
Lê Văn Việt – Lớp : KTN47DH Trang 8
ĐỒ ÁN MÔN HỌC : BÁO CÁO THỰC TẬP NGHIỆP VỤ
người ủy thác, phải tuân theo các chỉ dẫn hợp lý và có tính khả năng tính
toán cho toàn bộ quá trình giao dịch.
Với vai trò là đại lý, người giao nhận được hưỏng quyền bảo vệ và giới
hạn trách nhiệm…
Tuy nhiên, khi không còn là người đại lý mà đóng vai trò là người ủy
thác thì người giao nhận sẽ không còn quyền đó nữa mà lúc này phạm vi
trách nhiệm của anh ta sẽ tăng lên. Lúc này người giao nhận đã trở thành
một bên chính thức của hợp đồng và phải hoàn toàn chịu trách nhiệm thực

thứ 3 gây nên nếu người giao nhận chứng tỏ được là họ đã thực sự chăm chỉ,
cần mẫn trong việc lựa chọn và chỉ định bên thứ 3.
Nhiều nước coi điều kiện kinh doanh chuẩn là phương tiện để nâng cao
tiêu chuẩn và nghiệp vụ của mình, và làm căn cứ ký hợp đồng hoặc đính
kèm với hợp đồng ký với khách hàng.
Việt Nam hiện nay, các ĐKKDC về cơ bản cũng dựa trên cơ sở của
FIATA và các nước thuộc khối ASEAN.
* Quyền hạn và nghĩa vụ của người giao nhận:
- Chăm sóc chu đáo đối với hàng hóa mà người giao nhận được ủy thác
để tổ chức vận chuyển, đồng thời người giao nhận phải thực hiện mọi sự chỉ
dẫn về những vấn đề có liên quan đến hàng hóa
Lê Văn Việt – Lớp : KTN47DH Trang 10
ĐỒ ÁN MÔN HỌC : BÁO CÁO THỰC TẬP NGHIỆP VỤ
- Nếu người giao nhận là một đại lý thì người giao nhận phải chịu trách
nhiệm về những lỗi lầm, sai sót của bản thân và những người làm công cho
mình.
- Người giao nhận không chịu trách nhiệm về những tổn thất do lỗi lầm
hay sai sót của bên thứ 3 , như người chở, hợp đồng con, …
- Trường hợp người giao nhận là bên chính (giao ủy thác ) thì ngoài các
trách nhiệm như là một đại lý nói trên thì người giao nhận còn phải chịu
trách nhiệm về những hành vi sơ suất do bên thứ 3 gây lên mà người giao
nhận đã sử dụng để thực hiện hợp đồng.
- Trong hợp đông vận tải đa phương thức thì người giao nhận đóng vai
trò là một bên chính khi thu gom hàng lẻ để gửi ra nước ngoài, hay là người
tự tổ chức vận chuyển, trong trường hợp này người giao nhận đóng vai trò
như 1 đại lý hay người ủy thác.
- Trong các quy định của luật liên quan đến gửi hàng vận chuyển của
Việt Nam có một số điểm mà luật quy định khá rõ ràng, chẳng hạn như
người giao nhận không phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại, tổn thất,
gồm:

ra.
+ Có dung tích không ít hơn 1m3 .
2. Tiêu chuẩn hóa container
Để phương thức chuyên chở container được phát triển và áp dụng rộng rãi
đòi hỏi tiến hành nhiều tiêu chuẩn hoá bản thân container. Nội dung tiêu
chuẩn hóa container gồm có:
- Hình thức bên ngoài.
- Trọng lượng container.
- Kết cấu móc, cửa, khoá container……
Hiện tại nhiều tổ chức thế giới nghiên cứu tiêu chuẩn hóa container, song tổ
chức ISO vẫn đóng vai trò quan trọng nhất. Năm 1967, tai Moscow, đại diện
Lê Văn Việt – Lớp : KTN47DH Trang 12
ĐỒ ÁN MÔN HỌC : BÁO CÁO THỰC TẬP NGHIỆP VỤ
tổ chức tiêu chuẩn hóa của 16 nước là hội viên ISO đã chấp nhận tiêu chuẩn
hoá container của ủy ban kỹ thuật thuộc ISO.
Sau đây là tham số kỹ thuật của 7 loại container thuộc xêri1 theo tiêu chuẩn
của ISO:Theo quy ước, container loại 1C có chiều dài 19,1 feet, trọng lượng
tối đa là 20 tấn, dung tích chứa hàng 30,5 m3 được lấy làm đơn vị chuẩn để
quy đổi cho tất cả các loại container khác. Loại container này ký hiệu là
TEU (Tweenty feet Equivalent Unit).

hiệu
Chiều rộng Chiều rộng Chiều dài
Trọng
lượng
tối đa
(Tàu)
Trọng
lượng
tịnh

+ Phân loại theo công dụng của container
Theo CODE R688 - 21968 của ISO, phân loại theo mục đích sử dụng,
container được chia thành 5 nhóm chủ yếu sau:
Nhóm 1: Container chở hàng bách hóa.
Nhóm này bao gồm các container kín có cửa ở một đầu, container kín có cửa
ở một đầu và các bên, có cửa ở trên nóc, mở cạnh, mở trên nóc - mở bên cạnh,
mở trên nóc - mở bên cạnh - mở ở đầu; những container có hai nửa (half-heigh
container), những container có lỗ thông hơi…
Nhóm 2: Container chở hàng rời (Dry Bulk/Bulker freight container)
Là loại container dùng để chở hàng rời (ví dụ như thóc hạt, xà phòng bột, các
loại hạt nhỏ….). Đôi khi loại container này có thể được sử dụng để chuyên
chở hàng hóa có miệng trên mái để xếp hàng và có cửa container để dỡ hàng
ra. Tiện lợi của kiểu container này là tiết kiệm sức lao động khi xếp hàng vào
và dỡ hàng ra, nhưng nó cũng có điểm bất lợi là trọng lượng vỏ nặng, số cửa
và nắp có thể gây khó khăn trong việc giữ an toàn và kín nước cho container
vì nếu nắp nhồi hàng vào nhỏ quá thì sẽ gây khó khăn trong việc xếp hàng có
thứ tự.
Nhóm 3: Container bảo ôn/nóng/lạnh (Thermal
insulated/Heated/Refrigerated/Reefer container)
Lê Văn Việt – Lớp : KTN47DH Trang 14
ĐỒ ÁN MÔN HỌC : BÁO CÁO THỰC TẬP NGHIỆP VỤ
Loại container này có sườn, sàn mái và cửa ốp chất cách nhiệt để hạn chế sự
di chuyển nhiệt độ giữa bên trong và bên ngoài container, nhiều container loại
này có thiết bị làm lạnh hoặc làm nóng được đặt ở một đầu hay bên thành của
container hay việc làm lạnh dựa vào những chiếc máy kẹp được gắn phía
trước container hoặc bởi hệ thống làm lạnh trực tiếp của tàu hay bãi container.
Nhiều container lại dựa vào sự làm lạnh hỗn hợp (khống chế nhiệt độ). Đây là
loại container dùng để chứa hàng mau hỏng (hàng rau quả ….) và các loại
container hàng hóa bị ảnh hưởng do sự thay đổi nhiệt độ. Tuy nhiên, vì chỉ có
lớp cách điện và nếu có thể tăng thêm đồng thời lớp cách điện và máy làm

III. Các phương pháp giao hàng bằng container.
1.Phương pháp nhận nguyên, giao nguyên cont (FCL):
Hàng nguyên (Full Container Load - FCL) là lô hàng của một người gửi
hàng, có khối lượng tương đối lớn, đòi hỏi phải xếp trong một hoặc nhiều
container. Nhận nguyên, giao nguyên tức là người chuyên chở nhận nguyên từ
người gửi hàng (shipper) ở nơi đi và giao nguyên cho người nhận (consignee)
ở nơi đến.
Quy trình nhận nguyên, giao nguyên diễn ra như sau:
- Chủ hàng giao nguyên container đã đóng hàng và niêm phong kẹp chì
cho người chuyên chở tại bãi container ( CY) của cảng đi;
- Người chuyên chở bằng chi phí của mình xếp container lên tàu và vận
chuyển đến cảng đến;
Lê Văn Việt – Lớp : KTN47DH Trang 16
ĐỒ ÁN MÔN HỌC : BÁO CÁO THỰC TẬP NGHIỆP VỤ
- Người chuyên chở bằng chi phí của mình dỡ container khỏi tàu và đưa về
CY;
- Người chuyên chở giao container trong tình trạng nguyên niêm phong
cho người nhận tại CY của cảng đến.
Từ quy trình trên có thể thấy, theo phương pháp này, địa điểm giao nhận
hàng hoá là CY nên người ta còn gọi là giao hàng từ bãi đến bãi (CY/CY).
Theo phương pháp này, chi phí đóng hàng vào và dỡ hàng ra khỏi container
đều thuộc chủ hàng (người gửi hoặc người nhận).
2.Phương pháp nhận lẻ, giao lẻ (LCL)
Hàng lẻ (Less Container Load - LCL) là lô hàng của một người gửi hàng
có khối lượng nhỏ, không đủ đóng trong 1 container. Nhận lẻ, giao lẻ tức là
người chuyên chở nhận lẻ từ người gửi hàng và giao lẻ cho người nhận.
phương pháp này diễn ra theo quy trình như sau:
- Người gửi hàng giao hàng lẻ của mình cho người chuyên chở tại trạm
giao nhận đóng gói hàng lẻ (CFS) của nơi đi;
- Người chuyên chở bằng chi phí của mình đóng gói hàng lẻ của nhiều chủ

xuất trình House B/L.
3.Phương pháp nhận lẻ, giao nguyên (LCL/FCL)
Phương pháp này được sử dụng khi có nhiều chủ hàng cần gửi hàng cho 1
người nhận tại nơi đến. Quy trình của phương pháp này diễn ra như sau:
Lê Văn Việt – Lớp : KTN47DH Trang 18
ĐỒ ÁN MÔN HỌC : BÁO CÁO THỰC TẬP NGHIỆP VỤ
- Chủ hàng giao lô hàng lẻ cho người chuyên chở hoặc người gom hàng
tại CFS quy định và lấy House B/L hoặc OB/L trong đó có ghi chữ
“part of container”;
- Sau khi kiểm tra hải quan, người chuyên chở hoặc người gom hàng
đóng hàng vào container tại CFS;
- Người chuyên chở xếp container lên tàu và vận chuyển đến nơi đến;
- Người chuyên chở dỡ container khỏi tàu và đưa về CY hoặc CFS của
cảng đến và giao cho người nhận
4. Phương pháp nhận nguyên, giao lẻ (FCL/LCL)
Phương pháp này ngược lại với phương pháp nhận lẻ giao nguyên tức là
người chuyên chở khi nhận thì nhận nguyên container từ chủ hàng và có thể
cấp nhiều B/L tương ứng với số lượng người nhận. Tại nơi đến người
chuyên chở sẽ giao lẻ cho từng người nhận tại CFS
Từ thực tiễn giao nhận hàng hoá vận chuyển bằng container giữa người
vận tải và chủ hàng, cũng đồng thời giữa người bán và người mua ( người
vận tải thay mặt người mua nhận hàng) ta thấy, điểm tới hạn trong mua bán
hàng hoá đóng trong container là CFS hoặc CY chứ không phải là lan can
tàu. Hơn nữa, khi mua bán hàng container vận chuyển bằng đường biển thì
lan can tàu đã mất hết ý nghĩa làm ranh giới phân chia trách nhiệm và rủi ro
giữa người bán và người mua, do vậy không thể sử dụng các điều kiện
thương mại quốc tế như FOB, CIF hay CFR mà phải dùng điều kiện tương
ứng như FCA, CIP hay CPT.
IV. Các chứng từ liên quan đến xuất nhập khẩu:
1. Chứng từ hải quan:

Là chứng từ do tổ chức có thẩm quyền ( Bộ thương mại, phòng thương
mại và công nghiệp) cấp để xác nhận nơi sản xuất ra hoặc khai thác hảng
hoá.
Chứng từ này cần thiết cho cơ quan hải quan cũng như các doanh nghiệp
nhập khẩu để thực hiện chế độ ưu đãi khi tính thuế tuỳ thuộc vào chính sách
của nhà nước.
Tuỳ theo yêu cầu của việc thực hiện chế độ ưu đãi khi tính thuế mậu dịch
và quan thuế mà người ta đề ra các mẫu(form) thích hợp như:
 Form A dùng để thực hiện chế độ ưu đãi phổ cập( GSP- generalized
system of preferences)
Lê Văn Việt – Lớp : KTN47DH Trang 20
ĐỒ ÁN MÔN HỌC : BÁO CÁO THỰC TẬP NGHIỆP VỤ
 Form B dùng cho các sản phẩm mà bên mua yêu cầu cung cấp C/O
 Form C đùng để thực hiện bản " Thoả thuận ưu đãi thương mại"
(PTA- Preferential trading Arrangement).
 Form O dùng cho mặt hàng cà phê xuất khẩu vào các nước thuộc hiệp
hội cà phê quốc tế ICO.
 Form X dùng cho mặt hàng cà phê xuất khẩu sang các nước ngoài
ICO.
 Form T dùng cho các mặt hàng dệt may xuất khẩu sang các nước
thuộc EU.
 Form D dùng để thực hiện hệ thống ưu đãi có hiệu lực chung( CEPT-
common effctive preferential tariff ) đang được áp dụng giữa các
nước ASEAN.
 Form E dùng cho mặt hàng xuất nhập khẩu với Trung Quốc.
b)Hóa đơn thương mại:
- Sau khi giao hàng xuất khẩu, người xuất khẩu phải chuẩn bị một bộ
hóa đơn thương mại. Đó là yêu cầu của người bán đòi hỏi người mau phải
trả số tiền hàng đã được ghi trên hóa đơn.
c) Phiếu đóng gói:

hợp đồng đã ký với :
Công ty cổ phần Đông Á Phú Thọ
Địa chỉ : T.T Phong Châu - Huyện Phù Ninh - Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại : 0210.3829 624 Fax: 0210.3829 624
Quy trình thực hiện diễn ra như sau:
Bước 1: Nhân viên phụ trách việc thực hiện hợp đồng thường xuyên liên lạc,
phối hợp cùng phía Công ty cổ phần Đông Á Phú Thọ thực hiện chuẩn bị
các giấy tờ cần thiêt cho việc nhập khẩu lô hàng
Bước 2: Sau khi nhận được thông báo của người xuất khẩu về chuyến hàng
đến, tên tàu, ETA của tàu, nhân viên đó tiến hành làm thủ tục hải quan nhập
khẩu lô hàng.
Cụ thể việc làm thủ tục hải quan như sau:
- Nhân viên tiến hành tính thuế lô hàng
- Nộp bộ hồ sơ hải quan vào bộ phận tiếp nhận. Bộ hồ sơ bao gồm:
+ Giấy giới thiệu, hợp đồng uỷ thác
+ Tờ khai hải quan nhập khẩu, phụ lục kèm theo tờ khai
+ Hoá đơn thương mại
+ Phiếu đóng gói
+ Hợp đồng nhập khẩu
+ Vận đơn đường biển
Lê Văn Việt – Lớp : KTN47DH Trang 22
ĐỒ ÁN MÔN HỌC : BÁO CÁO THỰC TẬP NGHIỆP VỤ
- Nhân viên hải quan kiểm tra các chứng từ, kiểm tra việc tính thuế. Sau
khi thấy phù hợp, hợp lệ ra quyết định thông quan theo tờ khai hải quan
Bước 3: Nhân viên liên hệ với cảng vụ cảng Hải Phòng về việc làm hàng
đồng thời liên hệ với hãng tàu để đổi B/L lấy D/O
Bước 4: Tiến hành thông quan lô hàng, nhận hàng, xếp vào kho của XNXD
Hoàng Diệu
Bước 5: Tiến hành giám định lô hàng theo thoả thuận. Việc giám định được
thực hiện bởi VINACONTROL Hải Phòng, kết quả giám định cho thấy thực

chân thành em xin bày tỏ lòng cảm ơn của mình tới các thầy cô hướng dẫn,
tới toàn thể lãnh đạo công ty, các cô chú, các anh chị trong phòng kế hoạch
nghiệp vụ thị trường của công ty cp Việt Xô đã tận tình hướng dẫn giúp em
hoàn thành đợt thực tập nghiệp vụ này.
Lê Văn Việt – Lớp : KTN47DH Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status