Lạm phát và các giải pháp chống lạm phát ở Việt Nam - Pdf 31

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
lạm phát và các giải pháp chống lạm phát
ở Việt Nam hiện nay
Lời mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lạm phát là một hiện tợng kinh tế đi liền với nền kinh tế thị trờng. Lạm phát
luôn diễn ra và tác động đến nhiều mặt đối với nền kinh tế đất nớc bao gồm các nớc
phát triển và đang phát triển, các nớc đã từ lâu theo đuổi nền kinh tế thị trờng và cả
các nớc đang trong quá trình chuyển đổi nh nớc ta.
Nền kinh tế nớc ta đang trong quá trình tăng trởng và phát triển trở lại sau một
thời gian dài thiểu phát từ 1999 đến 2003 thì đến giai đoạn 2004-2005 lại lâm vào
thời kỳ lạm phát mới, đe doạ sự ổn định và phát triển kinh tế của Việt Nam. Đối với
mỗi ngời, lạm phát tác động trực tiếp tới đời sống hàng ngày của chúng ta. Giữ tỷ lệ
lạm phát ở mức nền kinh tế có thể chấp nhận đợc bằng các chính sách kiềm chế lạm
phát có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong điều hành vĩ mô nền kinh tế. Thấy đợc
tính cấp thiết của vấn đề lạm phát và ý nghĩa lý luận và thực tiễn của vấn đề trên,
vận dụng những kiến thức đã đọc đợc cộng với sự giúp đỡ của thầy giáo hớng dẫn _
thầy Nguyễn Văn Ký, ngời viết đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: l ạm phát và các giải
pháp chống lạm phát ỏ Việt Nam hiện nay làm tiểu luận cho môn học, với mong
muốn đợc tìm hiểu sâu hơn về vấn đề lạm phát, một vấn đề kinh tế- xã hội có tính
thời sự đã và đang diễn ra xung quanh chúng ta.
Đối tợng nghiên cứu mà bài viết muốn làm rõ là bản chất của vấn đề, những
nguyên nhân, hậu quả và các giải pháp chống lạm phát.
2. Phơng pháp nghiên cứu
Để thấy rõ đợc những lý luận về lạm phát, những nguyên nhân, tác động và
giải pháp khắc phục, ngời viết đã sử dụng phơng pháp phân tích và tổng hợp.
Phơng pháp thống kê để đa ra những số liệu dẫn chứng minh hoạ cho lý luận
của mình, phơng pháp điều tra tình hình lạm phát của Việt Nam và một số nớc khác.
Ngoài ra, ngời viết còn sử dụng phơng pháp lịch sử để thấy rõ từng giai đoạn lịch sử
lạm phát ỏ Việt Nam.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368

tiếp đến đời sống hàng ngày của hang triệu triệu con ngời trong nhiều quốc gia khác
nhau nhng lại bao hàm và chi phối bởi nhiều yếu tố khác nhau.
Có khá nhiều định nghĩa khác nhau về lạm phát thuộc các nhà kinh tế khác
nhau. Theo Karl Marx thì lạm phát là sự phát hành tiền mặt quá mức cần thiết.
V.L.lenine cho rằng : lạm phát là sự thừa ứ trong lu thông. Vào thập niên 60 ,
Friedman khẳng định rằng lạm phát bao giờ và ở đâu cũng là một hiện tợng tiền
tệ.Theo thuyết trọng tiền một trờng phái lớn về khoa kinh tế vĩ mô cho rằng, cần
phải chú ý đến mức tổng chi tiêu của xã hội và việc cung ứng tiền cho chi tiêu đó.
Thuyết trọng tiền cho tiền tệ là trung tâm của nền kinh tế , và việc cung ứng tiền là
yếu tố quyết định những sự vận động ngắn hạn của tổng sản phẩm quốc dân danh
nghĩa và nó là nhân tố quyết định đến giá cả về lâu dài.
Không nhất thiết bắt nguồn từ nguyên nhân tiền tệ, tức là tăng lợng tiền cung
ứng quá mức đối với nền kinh tế. Nhiều cuộc lạm phát diễn ra lại bắt nguồn từ giá
hoặc xuất phát từ sự suy giảm trong tổng cung của chính nền kinh tế đó.
R.Dornbusch và Fischer cho rằng: lạm phát là tình trạng mức giá chung của nền
kinh tế tăng lên trong một thời gian nhất định.
Nếu căn cứ vào biểu hiện của nó, ta có thể đa ra một khái niệm chung về lạm
phát nh sau: lạm phát diễn ra khi giá cả của t liệu sản xuất tăng lên, cùng với việc
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
tăng giá hàng hoá tiêu dùng một cách liên tục và vững chắc. Bên cạnh đó tiền lơng
danh nghĩa biểu hiện nh là giá cả của sức lao động có xu hớng nh là tăng lên, tuy
nhiên, thu nhập thực tế của ngời lao động nói chung có lúc tăng tơng đối với lạm
phát nhng nhìn chung là suy giảm một cách nghiêm trọng.
Có nhiều cách phân loại lạm phát dựa trên các tiêu chí khác nhau. Thờng ngời
ta phân chia ba loai lạm phát nh sau:
1.1/ Lạm phát vừa phải
Lạm phát vừa phải hay lạm phát một con số, có tỉ lệ lạm phát dới 10%. Lạm
phát ỏ mức độ này không gây ra những tác động nguy hiểm đối với nền kinh tế mà
trái lại nó còn có tác đong kích thích sản xuất , thúc đẩy các hoạt động đầu t.

sản tài chính. Ngời ta mua trái phiếu, tín phiếu, cổ phiếu, tín phiếu là nhằm để thu
các loại lợi tức khi đáo hạn hoặc trong từng thời kỳ. Nhng vì giá trị của tiền tệ sụt
giảm một cách hết sức nhanh chóng, từ đó, lợi tức của tiền tế cũng bị sụt giảm theo,
có khi về với lợi tức âm, từ đó, ngời ta không còn động lực để đầu t vào các loại
giấy tờ có giá mà đi tìm tích trữ vàng hay ngoại tệ mạnh để không bị mất giá.
2.2/ Sự giảm giá của đồng tiền so với ngoại tệ và vàng
Cùng với việc mất giá liên tục của các loại giấy tờ có giá, trong điều kiện của
nền kinh tế hiện đại, vàng và ngoại tệ đợc coi nh đồng tiền chuẩn để đo lờng sự mất
giá của nội tệ. Đồng nội tệ càng giảm giá so với vàng và ngoại tệ bao nhiêu thì nó
càng tác động nâng giá hàng hoá thông thờng lên cao bấy nhiêu. Trong bối cảnh
đó, ngời ta bán hàng hoá thông thờng trên cơ sở quy đổi giá vàng và ngoại tệ mạnh
mà không căn cứ vào nội tệ nữa.
2.3/ Khối lợng bút tệ tăng lên
Trong điều kiện hệ thống ngân hàng thơng mại và các tổ chức tín dụng đợc mở
rộng, lạm phát còn thể hiện ở chỗ khối lợng bút tệ tăng lên, bên cạnh khối tiền giấy
phát hành ra lu thông. Từ hiện tợng này phát sinh một hệ quả: khi khối lợng bút tệ
tăng lên, có tác động đến nền kinh tế theo hớng tăng trởng. Nh vậy , trong điều kiện
của nền kinh tế hiện đại, lạm phát kéo theo sự gia tăng của các phơng tiện thanh
toán, trong đó, khối lợng tín dụng ra tăng nhanh chóng.
3/ Lạm phát ở Việt Nam ( từ năm 1986 đến năm 2004)
Nền kinh tế nớc ta đã qua nhiều bớc đờng thăng trầm từ khủng hoảng trầm
trọng với tăng trởng thấp, đời sống nhân dân khó khăn , tỷ lệ lạm phát phi mã tới ổn
định và phát triển cao, rồi lại đứng trớc thách thức nguy cơ tác động của các cuộc
khủng hoảng ở các nớc trong khu vực và trên thế giới với tăng trởng chậm co nguy
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
cơ suy thoái. Nớc ta một số năm lạm phát ở mức thấp nhng đến nay lạm phát lại có
nguy cơ tiềm ẩn và tái phát cao. Cân đối các chỉ tiêu vĩ mô đóng vai trò quyết định
sự ổn định nền kinh tế, trong đó đặc biệt là giữ tỷ lệ lạm phát ở mức thấp, ổn định
với tốc độ tăng trởng kinh tế cao.

Thành công trong quá trình đổi mới của nền kinh tế giai đoạn 1991-1995 là b-
ớc đầu chặn đợc lạm phát. Chỉ số giá tiêu dùng giảm từ 67,1% năm 1990 xuống
12,7% năm 1995. Nămm 1991, tỷ lệ lạm phát là 67,5%, năm 1992 là 17,5%, năm
1993 là 5,2%, năm !993 la 14,4% và năm 1995 là 12,7%. Mặc dù tỷ lệ lạm phát vẫn
ở mức hai con số song đây là một chỉ số giá rất nhỏ bé so với các năm trớc đó
3.4/ Thời kỳ kinh tế có xu hớng giảm phát ( 1996-2000)
Bớc vào giai đoạn 1996-2000, các cuộc khủng hoảng khu vực và thế giới đã tác
động không nhỏ tới nền kinh tế nớc ta.Thiên tai lại liên tiếp xảy ra trong nớc
Tuy vậy, một điều đáng lu ý trong giai đoạn này là tốc độ tăng trởng kinh tế có
xu hớng chững lại thì tỷ lệ lạm phát lai đi xuống và chuyển sang giai đoạn thiểu
phát. Điều này thể hiện ở chỗ năm 1995 tỷ lệ lạm phát là12,7% thì đến năm 2000 là
-0,6% đi cùng với chỉ số giá tiêu dùng ở mức 0,1% năm 1999 và -0,6% năm 2000.
Thời kỳ này cho ta thấy khi lạm phát thấp hay giảm phát thì mức tăng trởng
kinh tế bị kìm hãm, ảnh hởng không tốt đối với nền kinh tế. Chính vì vậy trong giai
đoạn này chúng ta đã áp dụng các biện pháp kích cầu để đẩy nhanh tăng trởng lên.
3.5/ Thời kỳ kinh tế có sự thay đổi mới ( 2001-2005 )
Với những vấn đề nêu trên, những năm đầu của giai đoạn này, chúng ta đã áp
dụng nhiều biện pháp hạn chế thiểu phát, kích cầu nhằm đa tỷ lệ lạm phát lên một
mức hợp lý . Trong bốn năm, nền kinh tế đã đạt đợc tốc độ tăng trởng cao và bền
vững, cơ chế kinh tế chuyển dịch theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Mọi mặt
xã hội đợc cải thiện và phát triển. Tỷ lệ lạm phát tăng từ -0,6% năm 2000 lên 9,5%
năm 2004.
Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển mạnh của nền kinh tế trong giai đoạn 2001-
2004 thì lạm phát lại có nguy cơ tái diễn. Năm 2004, tình hình biến động trên thị tr-
ờng thế giới và biến động trên thị trờng trong nớc, lạm phát lại nh một bóng ma một
lần nữa lại rình rập gây bất ổn định nền kinh tế. Với chỉ số giá 9,5% năm 2004 là
một gianh giới mỏng manh giữa lạm phát kiểm soát đợc và lạm phát cao.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Phần II

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Tuy nhiên chúng ta cũng có thể thấy rằng nếu tốc độ tăng tiền lơng nhanh hơn
tốc độ tăng của năng suất lao động sẽ đẩy chi phí sản xuất tăng lên, có nghĩa là chi
phí tiền công trong một đơn vị sản phẩm tăng lên. Thực chất ở các nền kinh tế t bản
chủ nghĩa khi các cuộc đấu tranh của công đoàn đạt đợc một thoả thuận về mức lơng
mới thì các nhà t bản lại tìm cách lấy lại khoản mà họ đã mất đi do tăng tiền lơng
cho công nhân bằng cách nâng giá bán hàng hoá lên.
1.3/ Lạm phát ỳ
Lạm phát ỳ là một khái niệm của các nhà kinh tế t bản, là lạm phát chỉ tăng với
một tỷ lệ không đổi hàng năm trong một thời gian dài. ở những nớc có lạm phát ỳ
xảy ra , có nghĩa là nền kinh tế ở nớc đó có một sự công bằng mong đợi, tỷ lệ lạm
phát là tỷ lệ đợc trông đợi và đợc đa vào các hợp đồng và các thoả thuận không
chính thức. Tỷ lệ lạm phát đó đợc ngân hàng trung ơng, chính sách tài chính của
Nhà nớc, giới t bản và cả giới lao động thừa nhận và phê chuẩn nó. Đó là một sự lạm
phát nằm trong kết cấu biểu hiện một sự cân bằng trung hoà và nó chỉ biến đổi khi
có sự chấn đông kinh tế xảy ra. ( Lúc đó lạm phát ỳ có thể tăng hoặc giảm).
2/ Tác động của lạm phát
Tìm hiểu về những tác động của lạm phát đối với các mặt của đời sống kinh tế
xã hội là cần thiết để từ đó đa ra những giải pháp đúng đắn, hợp lý và hiệu quả
chống lại lạm phát.
Lạm phát đợc nhận diện về tác động của nó lại hết sức khác nhau, xét về nhiều
góc độ khác nhau, biểu hiện ở nhiều trờng phái kinh tế khác nhau, bao gồm cả
những sự lên án gay gắt, cùng sự thừa nhận vai trò tích cực của nó đối với nền kinh
tế. Vậy nên nhìn nhận vấn đề về tác động của lạm phát theo hớng nào?
Với những ngời lên án lạm phát, tất thảy đều cho rằng lạm phát là thứ thuế phi
lí nhất, vô nhân đạo nhất, và do đó cũng là tàn nhẫn nhất. Cơ sở của sự lên án này là
lạm phát làm giảm sức mua của đồng tiền, tạo ra sự phân phối thu nhập tiền tệ, làm
cho ngời giàu ( sở hữu nhiều tài sản ) thì giàu thêm và ngời nghèo ( không hoặc sở
hữu ít tài sản ) thì nghèo thêm, với sự phê phán này, lạm phát chính là sự cố ý hay
không cố ý gây ra bởi Nhà nớc- chỉ có Nhà nớc- ngời điều hành và quản lý nền kinh

lạm phát thấp, lạm phát một con số một năm.
Khuynh hớng chung là khi dự đoán có lạm phát các ngời làm ăn kinh tế
ngầm họ thờng dự trữ vàng, đầu t vào bất động sản và ngồi chờ lạm phát xảy ra.
Trong khoảng thời gian 1987-1988 và đầu năm 1989 nhiều ngời đâù cơ vàng và bất
động sản ở Việt Nam đã giàu lên nhanh chóng. Còn những ngời làm công ăn lơng
thì cũng nghèo đi nhanh chóng nh vậy. Khi giá vàng bị đẩy lùi trở lại, những ngời
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status