Cuộc trò chuyện giữa hồn Trương Ba và Đế Thích trở thành nơi tác giả gửi
gắm những quan niệm về hạnh phúc, về lẽ sông và cái chết
GỢI Ý
- Cuộc trò chuyện giữa hồn Trương Ba và Đế Thích trở thành nơi tác giả gửi
gắm những quan niệm về hạnh phúc, về lẽ sông và cái chết. Hai lời thoại của hồn
trong cảnh này có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
+ Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi
toàn vẹn...
+ Sống nhờ vào đồ đạc của cải của người khác đã là chuyện không nên đằng này
đến cái thân tôi cũng phải sống nhờ vào anh hàng thịt. Ông chỉ nghĩ đơn giả là cho
tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông không cần biết.
- Người đọc, người xem có thể nhận ra những ý nghĩa triết lí sâu sắc và thấm
thía qua lời thoại này.
+ Thứ nhất, con người là một thể thống nhất, hồn và xác phải hài hòa. Không thể
có một tâm hồn thanh cao trong một thân xác phàm tục, tội lỗi, con người bị chi
phối bởi những nhu cầu bản năng của thân xác thì đừng đổ lỗi cho thân xác, không
thể tự an ủi, vỗ về mình bằng vẻ đẹp siêu hình của tâm hồn
+ Thứ hai, sống thực sự cho ra một con người quả không dễ dàng, đơn giản. Khi
sống nhờ, sống gửi, sống chắp vá, khi không được là chính mình thì cuộc sống ấy
thật vô nghĩa. Những lời thoại của hồn Trương Ba với Đế Thích chứng tỏ nhân vật
đã ý thức rõ về tình cảm trớ trêu, đầy tính chất bi hài của mình thấm thìa nỗi đau
khổ ngày càng vênh lệch giữa hồn và xác, đồng thời càng chứng tỏ quyết tâm giải
thoát nung nấu của nhân vật trước lúc Đế Thích xuất hiện.
Qua lớp kịch hồn Trương Ba và gia đình (vợ, con, cháu), nguyên nhân nào đã
khiến cho người thân của Trương Ba và cả chính Trương Ba rơi vào trạng
thái bất ôn và phải chịu đau khố? Trương Ba có thái độ như thế nào trước
những rắc rối đó?
GỢI Ý
Nỗi đau khổ tuyệt vọng của hồn Trương Ba càng được đẩy lên khi đối thoại với
Nhà viết kịch Lưu Quang Vũ đã để cho hồn Trường Ba còn lại trơ trọi một mình
với nỗi đau khổ, tuyệt vọng lên đến đỉnh điểm, một mình với những lời độc thoại
đầy chua chát đầy quyết liệt: “Mày đã thắng thế rồi, cái thân xác không phải của ta
ạ... Nhưng lẽ nào ta tại phải chịu thua mày”, khuất phục mày và tự đánh mất mình?
“Chẳng lẽ không còn cách nào khác!” Mày nói như thế hả? Nhưng có thật là không
còn cách nào khác? Có thật không còn :ách nào khác? Không cần đến đời sống do
mày đem lại! Không cần! Đây là lời độc thoại có tính chất quyết định tới hành
động châm hương gọi Đế Thích một cách dứt khoát.
Trước khi diễn ra cuộc đối thoại giữa hồn và xác, nhà viết kịch đã để cho hồn
Trương Ba “ngồi ôm đầu một hồi lâu rồi vụt đứng dậy\" với một lời độc thoại
đầy khẩn thiết
GỢI Ý
- Trước khi diễn ra cuộc đối thoại giữa hồn và xác, nhà viết kịch đã để cho hồn
Trương Ba “ngồi ôm đầu một hồi lâu rồi vụt đứng dậy" với một lời độc thoại đầy
khẩn thiết: “Không, không! Tôi không muốn sống như thế này mãi! Tôi chán cái
chỗ ở không phải là của tôi lắm rồi! Cái thân kềnh càng, thô lỗ này, ta bắt đầu sợ
mi, ta muôn rời xa mi tức khắc! Nếu cái hồn ta có hình thù riêng nhỉ, để nó tách ra
khỏi cái xác này. dù chỉ một lát”.
Rõ ràng hồn Trương Ba đang ở trong tâm trạng vô cùng bức bối, đau khổ, những
câu cảm thán ngắn, dồn dập cùng với cái ước nguyện khắc khoải của hồn đã nói
lên điều đó. Hồn bức bối bởi không thể nào thoát ra khỏi thân xác mà hồn ghê tởm.
Hồn ghê tởm không còn là mình nữa. Trương Ba bây giờ đâu còn là một người làm
vườn chăm chỉ, hết lòng thương yêu vợ con, quan tâm tới hàng xóm láng giềng
như ngày trước. Ông Trương Ba được mọi người kính trọng đã chết rồi. Trương ba
bây giờ vụng về, thô lỗ, phủ phàng lắm. Người đọc, người xem càng lúc càng thấy
rõ điều đó qua các đối thoại và hồn Trương ba cũng càng lúc càng rơi vào trạng
xác anh hàng thịt vừa mới chết. Trú nhờ linh hồn trong thể xác anh hàng thịt
Trương Ba gặp rất nhiều phiền toái: lí trưởng sách nhiễu, chị hàng thịt chống, gia
đinh Trương Ba cũng thấy anh xa lạ...; bản thân Trương Ba thì khổ vì phải sống trái
tự nhiên, giả tạo. Đặc biệt thân xác hàng thịt làm Trương Ba nhiễm một số thói
xấu, một số nhu cầu vốn không phải của chính bản thân mình. Trước nguy cơ tha
hoá về nhân cách và sự phiền toái do mượn thân của kẻ khác. Trương Ba quyết
định trả lại xác cho hàng thịt và chấp nhận chết, để "không còn cái vật quái gở
mang lên "Hồn Trương Ba. da hàng thịt nữa. Trước khi lìa đời, hồn Trương Ba dặn
dò, an ủi, vĩnh biệt vợ con.
Cảnh VII là đoạn cuối, mâu thuẫn kịch được đẩy lên cao trào để giải quyết.
Muôn thế phải đưa hồn Trương Ba vào sự đau khổ cực độ: bị những người thân
chê trách xa lánh, tự mình ý thức được sự tha hoá của mình, bị thân xác của anh
hàng thịt sỉ nhục, bị cường hào nhũng nhiễu, nhìn thấy con trai hư hỏng không dạy
dỗ được,... Tất cả những cái đó làm cho hồn Trương Ba vốn cao khiết không thể
chịu đựng được nữa và nhận cái chết. Những lớp trong đoạn , sự dồn nén của mâu
thuẫn kịch. Đoạn đối thoại giữa hồn Trương Ba và xác anh hàng thịt vừa là hành
động kịch đẩy mâu thuẫn lên cao vừa là một đoạn văn sinh động đầy ý nghĩa triết
lí. Trước khi kết thúc, tác giả còn đưa nhân vật vào thử thách cuối cùng, lúc đối
mặt với cái chết: có thể còn một sự lựa chọn là nhập vào thân xác cu Tị, một em bé
hàng xóm vừa chết. Hồn Trương Ba đã xin dành phép màu duy nhất của Đế Thích
cho cu Tị sống lại còn mình kiên quyết nhận cái chết. Kịch hấp dẫn đến cùng và
đầy chất nhân văn. Đoạn kết ngắn nhưng đầy chất thơ và dư ba.
Dưới đây, chúng la sẽ tìm hiểu các lớp của cảnh VII và đoạn kết của vở kết qua
các câu hỏi trong phần Hướng dẫn học bài:
- Lớp kịch Cuộc đổi thoại giữa Hồn và Xác (câu hỏi 1)
- Lớp kịch hồn Trương Ba và gia đình (vợ, cháu gái, con dâu) (câu hỏi 2)
- Lớp kịch hồn Trương Ba và Đế Thích (câu hỏi 3 và 4)
- Đoạn kết (cảnh vườn cây, Trương Ba chập chờn xuất hiện, vợ Trương Ba chị
rừng già đã hun đúc cho “cô gái” một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong
sáng.
Ngay từ đầu trang viết người đọc đã cảm nhận được sự cảm nhận tài hoa của
ngòi bút Hoàng Phủ Ngọc Tường: liên tưởng kì thú, xác đáng, ngôn từ gợi cảm...
tạo sức cuốn hút, hấp dẫn về một con sông mang linh hồn, sự sống.
- Kết thúc đoạn văn, tác giả giới thiệu trọn vẹn con sông (tâm hồn sâu thẳm của
nó) vừa dẫn dắt, gợi mở sang đoạn liếp theo sẽ miêu tả khuôn mặt kinh thành của
dòng sông.
b) Sông Hương đoạn chảy về đồng bằng và ngoại vi thành phố
Lúc này, sông Hương được ví “như người con gái đẹp nằm ngủ mơ màng được
“người tình mong đợi” đến đánh thức. Kiến thức về địa lí đã khiến tác giả miêu tả
tỉ mỉ sông Hương với những khúc quanh và những lưu vực của nó.
Đoạn văn thể hiện năng lực quan sát tinh thế và sự phong phú về ngôn từ hình
tượng giúp nhà văn viết được những câu văn đầy màu sắc tạo hình và ấn tượng:
“Sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn”, “Sắc nước trở ru: xanh
thẳm”, “nó trôi đi giữa hai dải đồi sừng sững như thành quách, dòng sông mềm
như tấm lụa, với những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ bé bằng con thoi”. Rồi giữa
đám quần sơn lô xô ấy là giấc ngủ nghìn thu của vua chúa được phong kín trong
lòng những rừng thông u tịch và niềm kiêu hãnh âm u của những lăng tẩm đồ sộ
toả lan khắp cả một vùng thượng lưu.
Vận dụng kiến thức về văn hoá, văn học, tác giả tạo cho người đọc ấn tượng về
vẻ đẹp trầm mặc, như triết lí, như cổ thi gắn với thành quách, lăng tẩm của vua
chúa thuở trước.
c) Sông Hương khi chảv vào thành phố có nét đẹp riêng. Nếu ở trên, người đọc
cảm nhận phần nào vẻ đẹp man dại, dịu dàng, trầm mặc của con sông, thì giờ đây
con sông được khám phá, phát hiện ở sắc thái tâm trạng. Sông Hương gặp thành
phố như đến với điểm hẹn tình yêu, trở nên vui tươi và đặc biệt chậm rãi, êm dịu,
mềm mại. Ngòi bút của tác giả đã thực sự thăng hoa khi vẽ nên những hình ảnh
qua các vùng đất khác nhau như đã nói trong các phần trên đây).
Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong những nhà văn chuyên về bút kí. Nét đặc sắc trong phong cách
nghệ thuật của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa trữ tình và chính luận, sử thi hoá lịch sử và khám
phá chiều sâu văn hoá của đối tượng. Chất trữ tình trong bút kí của ông xuyên thấm vào tất cả và thăng
hoa thành chất thơ của ngôn ngữ.
Ai đã đặt tên cho dòng sông là bài bút kí mà Hoàng Phủ Ngọc Tường đã viết bằng tất cả tình yêu say
đắm với sông Hương đẹp và dịu dàng, với Huế cổ kính mà thơ mộng.
Đoạn mở đẩu với những khu vườn cổ, những kí ức về Nguyễn Du đã gợi cảm xúc về một vùng đất có
vẻ đẹp sâu lắng (thanh khiết, cổ kính, có tác dụng như một khúc dạo đầu của một bản đàn hay bài ca thơ
mộng).
Mỗi đoạn văn là một chắt lọc tinh tuý về hành trình, về dáng vẻ, về vẻ đẹp và sức cuốn hút riêng của
mỗi đoạn sông.
Sông Hương được miêu tả như một cá thể sống, như một người con gái với những từ gợi cảm, diễn tả
tình yêu say đắm của con người với dòng sông “Sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như
một cô gái Digan phóng khoáng và man dại". "Sông Hương khi về đồng bằng đã thay đổi tính cách, sông
như đi chế ngự bản năng của người con gái để mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ trở thành phù sa
của một vùng văn hoá xứ sở".
Với liên tưởng kỳ thú, diễm tinh, tác giả ví sông Hương như một người con gái đẹp được người tình
mong đợi đến đánh thức. Những câu văn đẹp, đầy màu sắc và ấn tượng. "Sông Hương vẫn đi trong dư
vang của Trường Sơn", "Sắc nước trở nên xanh thắm", "Nó trôi đi giữa hai dẫy đồi sừng sững như
những thành quách". "Dòng sông như tấm lụa, với những chiếc thuyền xuôi ngược nhỏ bé vừa bằng con
thoi, những ngọn đồi này tạo nên nhiều mảng phản quang nhiều màu sắc", "Sớm xanh, trưa vàng, chiều
tím”.
Đến ngoại vi thành Huế, sông Hương lại có vẻ đẹp trầm mặc như những rừng thông u tịch và những
lăng tẩm đồ sộ phong kín niềm hãnh âm u.
Đoạn tả sông Hương chảy vào thành phố, tác giả sáng tạo những hình ảnh đầy ấn tượng "chiếc cầu
trắng in ưên nền trời, uốn một cánh cung rất nhẹ". Tác giả sử dụng rộng rãi đặc sắc những phép tu từ gợi
cảm vốn là sở trường của như so sánh kết hợp với nhân hoá, ẩn dụ: "Dòng sông mềm hẳn đi như tiếng
bức chân dung ông lái đò trên sông Đà, bức chân dung người lao động trên sông nước được nâng lên
ngang tầm nghệ sĩ, mà còn đem đến con sông Đà một cái hồn người thực sự: cũng biết vui, buồn, giận
dỗi, phẫn nộ, nhớ thương... Nhưng, gấp lại trang sách, đọng lại trong tôi vẫn là đoạn này: “Thuyền tôi trôi
trên sông Đà... trên dòng trên”.
Sau những đợt gầm rung giận dữ, sóng vỗ tung bờ, sau những trận “làm mình mẩy” với con người Tây
Bắc, con sông Đà lại trở về với cái đằm thắm, hiền hòa cố hữu của nó: “Cảnh sông ở đây lặng tờ. Hình
như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng lờ đến thế mà thôi”. Câu văn đọc nghe cứ êm
trải, mênh mang..., mênh mang như chính những gợn sóng trên sông Đà. Tôi dám cuộc rằng, nếu tác giả
chỉ phác họa cảnh “lặng lờ” không thôi, người đọc cũng đủ hình dung ra cái tĩnh lặng của dòng trôi, cùng
lắm như con sông quê nội, quê ngoại mình hay như con sông trước ngõ nhà mình. Song, ở đây Nguyễn
Tuân đã viết thêm:
“Hình như từ đời Lí, đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng lờ đến thế mà thôi”. Con sông bây giờ
không hẳn chỉ là của hiện tại, mà nó trôi ngược về ạuá khứ. Bởi người ngắm nó - người đang lênh đênh
giữa dòng sông, đang chìm trong hoài niệm, mạch cảm xúc bơi ngược về với lịch sử dân tộc. Nguyễn
Tuân cho phả vào câu chữ của mình, phủ lên bề mặt con sông Đà một lớp sương khói huyền hoặc, mơ
hồ, xa xăm, đẹp và thơ mộng lạ kì. Bỗng dưng tôi nhớ mấy câu ca dao:
Mịt mù khỏi tỏa ngàn sương
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tăy Hồ.
Cũng là lãng đãng khói sương, nhưng rõ ràng không gian mặt hồ bị cô lập và có giới hạn hơn không
gian con sông Đà của Nguyễn Tuân.
Vẫn miên man trong mạch xúc cảm đằm sâu, ta có cảm giác con người tác giả đang hiện diện đâu đó
trên con sông Đà đã nhập thân làm một với cỏ cây sóng nước, để cho hiện dần lên trước ống kính những
vẻ đẹp cụ thể gợi cảm. Đúng vậy ! Phải là người của cảnh này, tình này mới có được những hình ảnh
nào là “nõn búp”, “búp có tranh”, “bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi
niềm cổ tích tuổi xưa”, nào là “con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương”, “một tiếng còi
sương”, rồi “đàn cá quẫy vọt bụng trắng như bạc rơi thoi”... cùng cái dáng dấp “lững lờ như nhớ như
thương những hòn đá thác xa xôi” của con sông Đà... Một loại những sắc màu, hình ảnh, một loạt những
so sánh ví von khiến người đọc phải thích thú cảm phục người cảm phục người cầm bút. Song, đọc kĩ lại
ta mới hay rằng Nguyễn Tuân không chỉ muốn người đọc tâm phục đôi mắt nghệ sĩ có một không hai của
mình mà chắc rằng, đằng sau một loạt ngôn từ sáng tạo tài hoa đó là cả một thực thể nguyên khai như
Người lái đò Sông Đà ưước hết là một tác phẩm viết về một con người một con sông. Nhưng dưới ngòi
bút đầy hứng thú và tài hoa của ông mọi cảnh vật thiên nhiên đều trở thành những công trình mĩ thuật,
con người đều thành những nghệ sĩ điêu luyện. Bằng sự tiếp cận quan sát và khả năng mô tả cùng với
một kho chữ nghĩa vô cùng giàu có, chuẩn xác, Nguyễn Tuân đã dựng lên những bức tranh hết sức sống
động, những hình tượng kì vĩ giàu sức hấp trong thiên tùy bút độc đáo này.
Người lái đò trên sông Đà trong tác phẩm, trước hết là một ông già bảy mươi tuổi, đã giành một phần
lớn đời mình cho nghề lái đò dọc trên sông Đà. Đó một người lái đò lão luyện: “Trên dòng sông Đà, ông
xuôi, ông ngược hơn trăm lần rồi, chính tay giữ lái độ sáu chục lần...” trong thời gian hơn chục năm làm
cái nghề đầy nguy hiểm và gian khổ này. Đây là một con người từng trải hiểu biết, rất thành thạo trong
nghề lái đò, và đã đạt đến trình độ “bằng cách lấy mắt và nhớ tỉ mỉ như đóng đanh vào lòng đất tất cả
những luồng nước tất cả những con thác hiểm trở” Nguyễn Tuân tiếp tục bày tỏ sự khâm phục với con
người này. “Sông Đà, đối với ông lái đò ấy, như một trường thiên anh hùng ca mà ông đã thuộc đến cà
những dấu chám than, châm câu và cả những đoạn xuống dòng”. Thật là một cách so sánh “rất văn
chương” đầy thú vị và cũng “rất Nguyễn Tuân”.
Hình tượng người lái đò với “cái đầu bạc quắc thước ấy đặt trên một thân hinh cao to và gọn quánh
như chất sừng, chất mun” và những cánh tay vẫn là cánh tay của một “chàng trai”, “trẻ tráng quá”,
Nguyễn Tuân đã gọi đó là một thứ “vàng mười”. Ông đã đứng trước những thách thức của con sông Đà
với những thế lực của những bãi đá ghê gớm, những cạm bẫy đầy kinh hoàng: “Ngoặt khúc sông lượn,
thây sóng bọt đã trắng xóa cả một chân giời đá. Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng
sông, hình như mỗi lần có chiếc nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc
thuyền nào nhô vào đường ngoặt sóng là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền”. Và một mình
một thuyền ông đã giao chiến như một dũng sĩ: hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa
phóng thẳng vào mình. Mặt nước hò la vang dậy quanh mình, ùa vào mà bẻ gẫy cán chèo, vũ khí trên
cánh tay mình”, và sóng nước “thúc vào gối bụng và hông thuyền. Có lúc chúng đội cả thuyền lên. Nước
bám vào gối bụng và hông thuyền. Có lúc chúng đội cả thuyền lên. Nước bám lấy thuyền như đồ vật túm
thắt lưng ông đò, đòi lật ngửa mình ra giữa trận nước vang trời thanh la não bạt”. Có lúc tưởng như ông
lái đò bị nhấn chìm dưới dòng sông... Cách miêu tả chân thực và táo bạo này cho thấy sức mạnh ghê
gớm của dòng thác hung dữ, con người chỉ cần lóa mắt, lỡ tay một chút là phải trả giá bằng sinh mạng
của mình.
Nhưng dũng cảm và gan dạ chưa đủ, mà cái quan trọng hơn là tài nghệ của người cầm lái để lái con
nhưng đầy vinh quang.
Nhân vật ông lái đò trong thiên tùy bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân
BÀI LÀM
Với mười lăm bài tùy bút và một bài thơ phác thảo sau chuyến thực tế ngược miền Tây Bắc điệp trùng
mà đầy kỳ thú, tập “Tùy bút sông Đà” của nhà văn Nguyễn Tuân ra đời (1960) đã góp cho văn học nước
nhà một tác phẩm giá trị khẳng định cuộc sống và con người Tây Bắc trong sự nghiệp dựng xây đất
nước “Người lái đò sông Đà” là một thiên tùy bút đặc sắc trong tập tùy bút của Nguyễn Tuân. Đặc biệt
hình ảnh ông lái đò dũng cảm và tài ba đã để lại ấn tượng khó phai mờ trong tâm trí người đọc. Cùng với
hình tượng này, phong cách nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Tuân càng rõ thêm, ấn tượng thêm.
Nhân vật ông lái chắc chắn sẽ bị mờ nhạt nếu như tác giả chỉ miêu tả ông trong cuộc mưu sinh phẳng
lặng trên sông nước hiền hòa. Người lái đò trong tác phẩm thực sự trở thành hình tượng chân thật và
sông động là sự ký thác ý tưởng thẩm mỹ của Nguyễn Tuân, văn sĩ suốt một đời say mê kiếm tìm và
khẳng định cái đẹp. Hình tượng ông lái đò đẹp một cách kiêu hãnh trong mối tương quan đồng hiện với
nhân vật sông Đà dữ dằn mà kỳ vĩ ! Đấy cũng chính là dụng ý tư tưởng và nghệ thuật của Nguyễn Tuân,
khi ông muốn “ghi ở đoạn này cái hình ảnh chiến đấu gian lao của người lái đò trên chiến trường sông
Đà, trên một quãng thủy chiến ở mặt trận sông Đà
Vẻ đẹp đầy ấn tượng về ông lái đò là sự lồn tại sống động trước thử thách ghê gớm của dòng sông Đà.
Ta hình dung như cả một “thạch trận trên sông” dàn giăng muốn bổ chụp hòng nuốt lấy con thuyền và
ông lái. Trong tình thế ấy, sông Đà mới dữ dội và kỳ quái làm sao: “Nó bầy thạch trận trên sông. Đám
tảng, đám hòn chia làm ba hàng chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền một cái thuyền đơn độc...”.
Trong trận đồ bát quái đó “với đá, nước thác reo hò làm thanh viện... những hòn đá bệ vệ oai phong lẫm
liệt”, sông nước mà dữ dằn như quỷ dữ. Nhưng cũng chính từ cảnh tượng dữ dội mà kỳ vĩ ấy, hình
tượng ông lái hiện lên rõ ràng trong vẻ đẹp của sức mạnh và bản lĩnh cao cường.
Thiên nhiên muốn lấn át, muốn nuốt sống, ông lái đò bình tĩnh và quả cảm vượt lên sóng dữ: “Ông lái
đò hai tay giữ mái chèo khỏi bị hắt lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình”. Bao nhiêu thử thách
của sông nước ông lái phải vượt qua. Không có nghị lực phi thường và sự bình tĩnh chủ động làm sao
ông qua được con quỷ dữ sóng nước: “có lúc chúng muốn đội cả thuyền lên. Nước bám lấy thuyền như
đồ vật túm thắt lưng ông lái đò đòi lật ngửa mình ra giữa trận nước vang trời thanh la não bạt...”.
chiến trường với tiếng súng tiếng bom gầm.
Đọc hết “Người lái đò sông Đà” mà tâm tri ta vẫn như hiển hiện hình ảnh ông lái đò dũng mãnh và hào
hoa với con thuyền nhỏ cưỡi lên sóng dữ mà đi tới mà chiến thẳng, vẻ đẹp ấy huy hoàng và tráng lệ làm
sao !
Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân qua hình tượng con sông Đà
BÀI LÀM
Khát khao cống hiến cho nghệ thuật, khát khao đi tìm và thể hiện những cảm giác mạnh mẽ dữ dội,
cộng với chất nghệ sĩ đã phóng túng, tự do đã thúc đẩy Nguyễn Tuân đến với sông Đà và bằng “nghệ
thuật bậc thầy của ngôn từ”, ông đã sáng tạo nên hình tượng con sông Đà - một trong những kiệt tác của
nghệ thuật văn xuôi. Văn học Việt Nam có thêm hình tượng một dòng sông, người yêu văn chương có
thêm một tác phẩm để mà yêu dấu, trân trọng. Có lẽ hình tượng con sông Đà trong “Người lái đò sông
Đà” là một trong những hình tượng thể hiện rõ nét phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân.
Tiếp xúc với văn chương của Nguyễn Tuân, ta bắt gặp ẩn tàng trong những trang văn là “cảm xúc
mạnh, là hơi thở nồng” (Nguyễn Đăng Mạnh) của cái tôi trữ tình nghệ sĩ mang khát vọng cuồng nhiệt,
muốn biến những trang văn thành những trang hoa lộng lẫy, yêu kiều vừa mê hoặc, vừa thách đố người
đọc.
Trải suốt từ trang đầu đến trang cuối tác phẩm là hình ảnh dòng sông Đà được chụp lại ở nhiều chiều,
nhiều góc độ khác nhau, Qua việc tìm hiểu dòng sông, người đọc được hiểu thêm về một con người, một
nghệ sĩ “suốt đời đi lìm cái thật và cái đẹp” - nhà văn Nguyễn Tuân, bởi vì hình tượng con sông vĩ đại của
vùng đất Tây Bắc xa xôi là sự thể hiện khá đầy đủ phong cách hay cái nhìn cuộc sông của nhà văn, ở đó,
bạn đọc đã thấy một con người ưa sự độc đáo trong sự tài hoa - uyên bác; một cá tính mạnh mẽ luôn
săn tìm những gì dữ dội. mãnh liệt; một thầy phù thủy ngôn từ, hình ảnh...
Dòng sông Đà trong tác phẩm của Nguyễn Tuân bên cạnh vẻ dữ dội, hung bạo như “kẻ thù số một” của
con người, cũng có lúc hiện lên rất bay bổng mơ màng, có nét trữ tình của một con người nồng nàn xúc
cảm. Nếu có ai hỏi tôi về đoạn văn tâm đắc nhất tôi sẽ trả lời ngay rằng đó là đoạn văn miêu tả vẻ đẹp
của dòng sông hiền hòa “con sông Đà luôn dài, tuôn dài như một áng tóc trữ tình... cuồn cuộn mù khói
núi Mèo đốt nước xuân”. Đoạn văn như một khúc nhạc nhẹ êm ái, lại như một bức tranh thủy mặc mang
đến cho tâm hồn người đọc những rung động tinh vi, những xúc cảm nhẹ nhàng. Bằng tất cả tài năng và
nghệ sĩ “suốt đời đi lìm cái thật và cái đẹp” - nhà văn Nguyễn Tuân, bởi vì hình tượng con sông vĩ đại của
vùng đất Tây Bắc xa xôi là sự thể hiện khá đầy đủ phong cách hay cái nhìn cuộc sông của nhà văn, ở đó,
bạn đọc đã thấy một con người ưa sự độc đáo trong sự tài hoa - uyên bác; một cá tính mạnh mẽ luôn
săn tìm những gì dữ dội. mãnh liệt; một thầy phù thủy ngôn từ, hình ảnh...
Dòng sông Đà trong tác phẩm của Nguyễn Tuân bên cạnh vẻ dữ dội, hung bạo như “kẻ thù số một” của
con người, cũng có lúc hiện lên rất bay bổng mơ màng, có nét trữ tình của một con người nồng nàn xúc
cảm. Nếu có ai hỏi tôi về đoạn văn tâm đắc nhất tôi sẽ trả lời ngay rằng đó là đoạn văn miêu tả vẻ đẹp
của dòng sông hiền hòa “con sông Đà luôn dài, tuôn dài như một áng tóc trữ tình... cuồn cuộn mù khói
núi Mèo đốt nước xuân”. Đoạn văn như một khúc nhạc nhẹ êm ái, lại như một bức tranh thủy mặc mang
đến cho tâm hồn người đọc những rung động tinh vi, những xúc cảm nhẹ nhàng. Bằng tất cả tài năng và
tâm huyết của mình, dòng sông dữ dội đã mờ phai, chỉ còn hình ảnh của dòng nước nhẹ nhàng, cũng có
những rung động yêu thương “dòng sông quãng này lững lờ như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi
để lại trên thượng nguồn Tây Bắc. Dù được tái hiện dưới góc độ thiên nhiên nhưng Nguyễn Tuân đã thổi
vào dòng sông Đà những cảm xúc tinh tế của một con người nghệ sĩ tài hoa. Nó cũng biết “dịu dàng”,
cũng yêu thương, duyên dáng, cũng hồn nhiên, lặng lẽ... Nsuyễn Tuân không chỉ nhìn dòng sông ấy như
một con người, mà còn hơn thế, một con người có một tâm hồn nghệ sĩ. Chính vì vậy Nguyễn Tuân mới
coi dòng sông Đà như một “cố nhân” (“nó đằm đằm âm ấm như gặp lại cố nhân”), trong nhiều tác phẩm,
nhà văn họ Nguyễn đã thể hiện tình yêu với những con người tài hoa, những thiên nhiên mĩ lệ. Tùy bút
“Sông Đà” là một tác phẩm như thế là sự kết hợp của tình yêu con người và tình yêu thiên nhiên tập
trung trong hình ảnh dòng sông Đà. Từ xưa đến nay đã có ai có niềm vui “như thấy nắng giòn tan sau kì
mưa dầm, như nối lại chiêm bao đứt quãng” khi trông thấy dòng sông. Đó chính là vì Nguyễn Tuân đã
nhìn đòng sông như một con người, và hơn thế, một con người tài hoa, một cố nhân lâu ngày gặp lại.
Tình yêu cuộc sống, lòng ham hiểu biết về con sông, cây cầu của non sông đất nước cũng như ý thích
đi lại hoạt động…đã tạo cho mỗi trang viết của Nguyền Tuân ngồn ngộn kiến thức, thể hiện một sự hiểu
biết tường tận từng chi tiết được nói tới trong văn mình. Dòng sông Đà có thể được tái hiện rất trữ tình,
thơ mộng nhưng cũng có lúc khúc Đà giang vĩ đại hiện lên chính xác trong từng con số. Nguyễn Tuân
thoắt trở thành nhà địa lí khi đưa ta về với thượng nguồn sông Đà ở Cảnh Đông tỉnh Vân Nam sau đó
chan hòa vào sông Hồng, chảy trên đất Việt 500 cây số trong tổng chiều dài 883 nghìn thước mét, khi kể
Để diễn tả cảm giác lạnh lẽo khi ngồi trong khoang đò qua một quãng sông, Nguyễn Tuân đã “cảm thấy
mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái lầng nhà thứ mây
nào vừa tắt phụt đèn điện”. Có phép so sánh nào độc đáo và hiệu quả đến thế không ? Có những khi
Nguyễn Tuân đã lấy lửa để so sánh với nước “thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng
đang lồng lộn giữa rừng vẩu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với
đàn trâu da cháy bùng bùng”. Hình ảnh so sánh cùng nhịp câu văn ngắn, dồn dập tạo cảm giác sóng gió
đang cuồn cuộc dâng trào... Phép so sánh “bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên
như một nỗi niềm cổ tích ngày xưa tập trung thể hiện lòng trân trọng giá trị văn hóa truyền thống, thể hiện
lòng yêu say thiên nhiên tươi đẹp, đồng thời thể hiện một cách cảm nhận cuộc sống tươi sáng, trong
ngần như pha lê của người chiến sĩ văn hóa
Hình tượng dòng sông Đà được tái hiện trong trang văn bằng tất cả tài năng và tâm huyếi của nhà văn.
Dòng sông Đà giang vĩ đại đã cuồn cuộc, dữ dội mà hiền hòa dịu êm sau trang văn; hung bạo, mãnh kiệt
mà chất chứa nhớ thương. Phải chăng đó cũng là một phần con người phong cách Nguyễn Tuân; con
người ngang làng đấy, mạnh mẽ đây mà cũng nồng nàn tình cảm với đất nước, con người quê hương.
Con sông Đà được nhìn nhận như “một cố nhân lâu ngày gặp lại” duyên dáng, thướt tha hồn nhiên, được
nhà văn hiểu rất sâu sắc và chính xác; được tái hiện đầy đủ lung linh trong câu chữ thần kì. Qua hình
tượng con sông, một Nguyễn Tuân đã được khẳng định chắc chắn trong lịch sử văn học như một phong
cách độc đáo của một tâm hồn tài hoa uyên bác, mãnh liệt mà ngập tràn yêu thương. Văn chương bao
giờ cũng là con người tác giả, thể hiện cái nhìn tác giả trong từng chi tiết, hình ảnh. Nhiều yếu tố tập hợp
lại, cho người đọc làm quen với một con người nhà văn hoàn thiện.
Người đọc mãi nhớ về một dòng sông Đà trong văn học Việt Nam - dòng sông hung bạo và trữ tình,
cũng như mãi kính yêu một vì sao sáng của bầu trời văn học - nhà văn - người nghệ sĩ Nguyễn Tuân.