Rủi ro kiểm toán và quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán tại các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam - Pdf 31

Đề tài nghiên cứu khoa học: Rủi ro kiểm toán và quy trình đánh giá rủi ro
kiểm toán tại các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam.
MỤC LỤC
1.
ĐẶT VẤN ĐỀ
2
1.1. Đối tượng nghiên cứu 2
1.2. Công trình nghiên cứu liên quan đến Đề tài 3
1.2.1. Những công trình nghiên cứu nước ngoài liên quan đến Đề tài. 3
1.2.2. Công trình nghiên cứu về quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán ở
trong nước
4
2.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 5
2.1. Mục tiêu
5
2.2. Phương pháp nghiên cứu 5
2.3. Nội dung nghiên cứu
6
2.3.1. Những vấn đề lý luận cơ bản về đánh giá rủi ro kiểm toán trong
kiểm toán báo cáo tài chính
6
2.3.2. Thực tiễn đánh giá rủi ro kiểm toán tại công ty TNHH Deloite Việt
Nam 10
2.3.3. Kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác đánh giá rủi ro kiểm toán
trong kiểm toán báo cáo tài chính tại các công ty kiểm toán độc lập Việt
Nam 10
3.
KẾT LUẬN 10
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO
10

toán là công việc xuyên suốt trong quá trình thực hiện kiểm toán báo cáo
tài chính , nó thể hiện tầm nhìn của kiểm toán viên và góp phần nâng cao
chất lượng của cuộc kiểm toán. Tuy nhiên thực tế hiện nay việc đánh giá
rủi ro ở các công ty kiểm toán độc lập tại Việt Nam vẫn chưa hoàn thiện
do đây là một công việc khó và đòi hỏi rất nhiều ở trình độ phán xét của
kiểm toán viên. Được đánh giá là công ty có quá trình đánh giá rủi ro khá
hoàn chỉnh và tiêu chuẩn, Công ty TNHH Deloitte Việt Nam luôn khẳng
định được vị trí hàng đầu về cung cấp dịch vụ kiểm toán ở Việt Nam.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, nhóm chúng tôi đã chọn đề
tài nghiên cứu khoa học: “Rủi ro kiểm toán và công tác đánh giá rủi ro
kiểm toán tại các công ty kiểm toán độc lập tại Việt Nam” để nghiên cứu
và phát triển đề tài với trường hợp điển hình là Công ty TNHH Deloitte
Việt Nam.
1.2. Công trình nghiên cứu liên quan đến Đề tài
1.2.1. Những công trình nghiên cứu nước ngoài liên quan đến Đề tài.
Kiểm toán đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo độ tin cậy của hệ
thống thông tin kinh tế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy chất lượng hoạt động
kiểm toán độc lập còn bộc lộ nhiều tồn tại mà hậu quả của nó là sự mất
lòng tin của các nhà đầu tư, của công chúng vào tính trung thực, khách
quan của thông tin đã qua kiểm toán. Một trong những nguyên nhân
chính của tình hình trên là do công tác đánh giá rủi ro kiểm toán không
được quan tâm đúng mức, nhiều công ty kiểm toán chạy theo lợi nhuận
chấp nhận rủi ro cao, bỏ qua các qui trình, chuẩn mực kiểm toán. Chính
vì vậy, vấn đề đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán đã nhận được sự
quan tâm của nhiều học giả trên thế giới. Có thể kể ra đây một số công
trình nghiên cứu chính sau: Luận án tiến sĩ của Thomas M.Kozlowski tại
Đại học Drexel (2002) “Đánh giá rủi ro sai phạm của KTV: Tác động của
sự tương tự và kinh nghiệm rủi ro từ các đánh giá trước”. Đề tài đã hệ
thống hoá và khái quát các vấn đề về rủi ro kiểm toán; đưa ra và giải
quyết thành công một vấn đề cụ thể là ảnh hưởng của kinh nghiệm rủi ro

các nghiên cứu về kiểm toán nói chung và đánh giá trọng yếu, rủi ro kiểm
toán nói riêng cũng đã có những thành công ban đầu. Về mặt lý luận cơ
bản các công trình này đã bám sát các nguyên lý hiện đại trên thế giới và
được đúc kết trong các giáo trình kiểm toán của một số học viện, trường
đại học lớn như Đại học Kinh tế quốc dân, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ
Chí Minh, Học viện Tài chính… Bên cạnh đó, tại Việt Nam cũng đã có
một số công trình nghiên cứu độc lập liên quan đến vấn đề đánh giá rủi ro
kiểm toán nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán, cụ thể như: Đề
tài nghiên cứu khoa học “Hoàn thiện cơ chế kiểm soát chất lượng hoạt
động kiểm toán độc lập ở Việt Nam” do GS.TS. Vương Đình Huệ (2001)
làm chủ nhiệm Đề tài; Luận văn thạc sĩ “Nâng cao chất lượng quản lý
hoạt động kiểm toán tại Công ty Kiểm toán Việt Nam” của tác giả Trần
Mạnh Dũng (2005); Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện qui trình đánh giá
trọng yếu và rủi ro kiểm toán trong kiểm toán báo cáo quyết toán ngân
sách nhà nước cấp huyện do Kiểm toán nhà nước thực hiện” của tác giả
Phạm Tiến Dũng (2007); Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện qui trình đánh giá
rủi ro và trọng yếu trong kiểm toán BCTC của các công ty cao su do


Công ty Kiểm toán AASC thực hiện” của tác giả Phạm Xuân Thọ (2008);
Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện qui trình đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm
toán trong kiểm toán BCTC doanh nghiệp công ích quốc phòng do Kiểm
toán nhà nước thực hiện” của tác giả Trương Hải Yến (2005); Luận án
Tiến sĩ kinh tế ‘’Nghiên cứu đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán nhắm
nâng cao chất lượng hoạt động trong các công ty kiểm toán độc lập ở Việt
Nam’’ của tác giả Đoàn Thanh Nga (2011) ;…
Các nghiên cứu đã trình bày một cách có hệ thống những vấn đề lý luận
chung về đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán trong kiểm toán BCTC.
Qua nghiên cứu đã góp phần làm sáng tỏ một số khái niệm và nội dung
về nhận thức đối với vấn đề phức tạp này. Tổng kết từ cách thức nghiên

2.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp định tính khái quát về
mặt lý thuyết, so sánh để tổng hợp lý luận và điều tra khảo sát, kết hợp


phân tích thực tiễn nhằm đưa ra các giải pháp hoàn thiện việc đánh giá rủi
ro kiểm toán qua đó nâng cao chất lượng kiểm toán của các công ty kiểm
toán độc lập Việt Nam, kết hợp nghiên cứu điển hình trong trường hợp
công ty TNHH Deloitte Việt Nam.
Luận án tập trung nghiên cứu về đánh giá rủi ro kiểm toán , trong đó đi
sau vào nghiên cứu đánh giá rủi ro kiểm toán với việc nâng cao chất
lượng hoạt động giới hạn trong công ty kiểm toán độc lập tại Việt Nam,
điển hình trong Công ty TNHH Deloitte Việt Nam. Công ty TNHH
Deloitte Việt Nam là công ty Tư vấn và Kiểm toán Việt Nam đầu tiên tại
Việt Nam thành lập cách đây hơn 20 năm. Với tư cách là một trong 4
hãng kiểm toán danh tiếng nhất thế giới, Deloitte Việt Nam được sự hỗ
trợ nhiệt tình của Deloitte toàn cầu trong việc chuyển giao công nghệ và
áp dụng kỹ thuật tiên tiến. Đồng thời Deloitte còn thiết lập cho mình một
hệ thống tư liệu đồ sộ, có giá trị thực tiễn cao và thường xuyên được cập
nhật. Xét riêng về việc vận dụng đánh giá rủi ro kiểm toán do Deloitte
thực hiện đã đạt được hiệu quả trên nhiều mặt của cuộc kiểm toán. Về
bản chất, cách tiếp cận mô hình kiểm toán của Deloitte Việt Nam là tiếp
cận từ mô hình rủi ro kiểm toán; được thực hiện trên cơ sở nhận diện các
yếu tố về môi trường kinh doanh, HTKSNB, đánh giá rủi ro tiềm tàng, rủi
ro kiểm soát, từ đó thiết kế các thủ tục kiểm toán và mức độ kiểm tra chi
tiết cho phù hợp với rủi ro được nhận diện.
2.3. Nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu gồm 3 phần chính:
PHẦN 2.3.1: Những vấn đề lý luận cơ bản về đánh giá rủi ro kiểm toán
trong kiểm toán báo cáo tài chính

còn nhiều sai sót trọng yếu. Rủi ro kiểm toán bao gồm ba bộ phận: Rủi ro
tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện”.
Như vậy các hội nghề nghiệp về kế toán kiểm toán đều có chung
một nhận định về rủi ro kiểm toán. Rủi ro kiểm toán được hiểu là khả
năng mà KTV đưa ra ý kiến không chính xác về đối tượng được kiểm
toán. Chẳng hạn KTV đưa ra ý kiến rằng BCTC của đơn vị được kiểm
toán đã trình bày trung thực hợp lý xét trên các khía cạnh trọng yếu, tuy
nhiên trên thực tế các báo cáo đã được kiểm toán này vẫn tồn tại các sai
phạm trọng yếu mà KTV không phát hiện ra trong quá trình kiểm toán.
Loại rủi ro như vậy luôn luôn có thể tồn tại ngay cả khi cuộc kiểm toán
được lập kế hoạch chu đáo và thực hiện một cách thận trọng. Rủi ro này
sẽ tăng lên nếu việc lập kế hoạch kiểm toán không tốt và thực hiện thiếu
thận trọng.
Trong mỗi cuộc kiểm toán, rủi ro kiểm toán được xem xét trong
quan hệ với kế hoạch kiểm toán, lấy mẫu kiểm toán và lựa chọn phép thử
nên rủi ro kiểm toán được hiểu là khả năng sai sót và việc đánh giá rủi ro
tiến hành qua ước tính theo tỷ lệ từ 0% đến 100% hoặc sử dụng các định
tính: cao, trung bình, thấp.
Rủi ro kiểm toán xuất phát từ các sai lệch tiềm ẩn trong BCTC đã
vượt qua HTKSNB của đơn vị và không bị các thử nghiệm cơ bản của
kiểm toán viên phát hiện. Trong thực tiễn thì rủi ro kiểm toán thường xảy
ra do giới hạn về quản lý, về kiểm toán mà trực tiếp là chi phí kiểm toán
và có quan hệ nghịch với lượng bằng chứng kiểm toán thu được. Tuy
nhiên ngay cả khi đã thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thì rủi
ro kiểm toán vẫn tồn tại.
2.3.1.1.2. Các loại rủi ro kiểm toán

Rủi ro tiềm tàng
Kiểm toán viên phải xem xét rủi ro tiềm tàng (IR). Theo từ điển
thuật ngữ Kiểm toán – Kế toán Anh Việt: “Rủi ro tiềm tàng là khả năng

các sai phạm trọng yếu hoặc gian lận. Nguyên tắc kiểm toán Quốc tế số
25, Mục 14 quy định: “Rủi ro kiểm soát là rủi ro do xác định sai, có thể
xảy ra với một số dư tài khoản hoặc một loại nghiệp vụ và có thể là sai
sót nghiêm trọng. Những sai sót này xảy ra đơn lẻ hoặc có thể kết hợp với
các sai sót của các số dư, các nghiệp vụ khác mà HTKSNB đã không
ngăn chặn hoặc không phát hiện kịp thời. Rủi ro kiểm soát sẽ luôn xuất
hiện và khó tránh khỏi vì những hạn chế có tính bản chất của bất cứ
HTKSNB nào”.
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 – “Đánh giá rủi ro và kiểm
soát nội bộ”, Mục 05 quy định: “Rủi ro kiểm soát là rủi ro xảy ra sai sót
trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính
khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà HTKSNB và hệ thống kế toán không
ngăn ngừa hết hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời”.
Như vậy, rủi ro kiểm soát là khả năng HTKSNB của đơn vị kiểm
toán không phát hiện, ngăn ngừa và sửa chữa kịp thời các sai phạm trọng
yếu.Cũng giống như rủi ro tiềm tàng, KTV không tạo ra rủi ro kiểm soát
và cũng không kiểm soát chúng.KTV chỉ có thể đánh giá HTKSNB của
đơn vị được kiểm toán và từ đó đưa ra mức rủi ro kiểm soát dự kiến.

Rủi ro phát hiện (DR)


KTV phải xem xét rủi ro phát hiện. Một cách chung nhất, rủi ro
phát hiện là khả năng mà các thủ tục kiểm toán không phát hiện được các
sai phạm trọng yếu. Theo nguyên tắc kiểm toán Quốc tế số 25, Mục 15
ghi: “Rủi ro phát hiện là những rủi ro mà kiểm toán viên không phát hiện
ra các sai sót hiện có trong số dư tài khoản hoặc các loại nghiệp vụ.
Những sai sót này có thể là nghiêm trọng xảy ra đơn lẻ hoặc có thể kết
hợp với các sai sót trong các số dư, các loại nghiệp vụ khác”.
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 – “Đánh giá rủi ro và kiểm

Mô hình này được KTV sử dụng để đánh giá tính hợp lý của kế hoạch
kiểm toán.KTV có thể sử dụng mô hình này để điều chỉnh rủi ro phát hiện
dựa trên các loại rủi ro khác đã được đánh giá nhằm đạt được rủi ro kiểm
toán ở mức thấp mà KTV kì vọng. Có thể xét ví dụ minh họa sau:


KTV chuẩn bị tiến hành một cuộc kiểm toán. KTV kì vọng rủi ro
kiểm toán ở mức tương đối thấp, khoảng 0,03 (có nghĩa là bình quân có
khoảng 3% các quyết định của KTV là không xác đáng). Rủi ro tiềm tàng
và rủi ro kiểm soát đã được KTV đánh giá dựa trên kinh nghiệm, óc xét
đoán nghề nghiệp và có minh chứng cụ thể. Giả sử KTV cho rằng lĩnh
vực kinh doanh của khách hàng tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao nên rủi ro tiềm
tàng được đánh giá ở mức 0,9 và HTKSNB của doanh nghiệp hoạt động
hữu hiệu nhưng với thái độ nghi ngờ thích đáng, KTV đánh giá rủi ro
kiểm soát ở mức 0,7. Khi đó KTV phải điều chỉnh sao cho rủi ro phát
hiện không vượt quá mức 0,047 để đảm bảo rủi ro kiểm toán ở mức 0,03
như kỳ vọng.
Mô hình (1) ít được sử dụng vì rủi ro kiểm toán thường được KTV
xác định trước và khó thay đổi trong một cuộc kiểm toán. Do vậy KTV
mong muốn xác định rủi ro phát hiện để lập kế hoạch kiểm toán hơn là
điều chinh rủi ro phát hiện theo rủi ro kiểm toán (AR). Mặt khác, rủi ro
tiềm tàng (IR) và rủi ro kiểm soát (CR) luôn có tính chất cố hữu, KTV chỉ
có thể đánh giá chứ không thể tác động vào chúng.Vì vậy, mô hình (1)
không thể hiện tính chất “tác động ngược” của KTV đối với rủi ro phát
hiện. Do đó, để phục vụ tốt hơn cho việc lập kế hoạch kiểm toán và xét
trong mối quan hệ với bằng chứng kiểm toán, mô hình rủi ro kiểm toán
thường được sử dụng dưới dạng thứ hai:
DR =
(2)
Với mô hình (2), rủi ro phát hiện (DR) là đối tượng chính quan tâm

100%, KTV cho rằng BCTC của khách hàng đã bị làm sai lệch nghiêm
trọng trên nhiều khía cạnh trọng yếu. Vì vậy, biên độ giao động của rủi ro
kiểm toán mong muốn biến đổi từ 0 đến 1 hay từ 0% đến 100%.
Việc đưa ra mức rủi ro kiểm toán mong muốn mang tính chủ quan
của KTV. Tuy nhiên, mức rủi ro kiểm toán mong muốn mà KTV đưa ra
phải đủ thấp để những người quan tâm có thể sử dụng BCTC đã kiểm
toán của khách hàng làm cơ sở ra quyết định, hạn chế các loại rủi ro trong
kinh doanh.
Quá trình nghiên cứu về các loại rủi ro đã chỉ ra mối quan hệ qua
lại chặt chẽ giữa chúng. Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát khác rủi ro
phát hiện và rủi ro kiểm toán ở chỗ: chúng tồn tại độc lập, khách quan với
các thông tin tài chính, không phụ thuộc vào ý muốn và ý chí của KTV,
KTV cũng không thể tác động để làm thay đổi hai loại rủi ro này. Mối
quan hệ qua lại giữa các loại rủi ro trong kiểm toán tài chính đã được ghi
rõ trong Mục 16, Nguyên tắc kiểm toán Quốc tế số 25: “Rủi ro tiềm tàng
và rủi ro kiểm soát khác với rủi ro phát hiện ở chỗ các rủi ro này tồn tại
độc lập với các thông tin tài chính. Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát
nằm trong chức năng hoạt động kinh doanh và môi trường quản lý của
doanh nghiệp cũng như trong bản chất của số dư tài khoản, các loại
nghiệp vụ cho dù việc kiểm toán có tiến hành hay không.Thậm chí các rủi
ro này không được KTV kiểm tra đến. KTV có thể đánh giá các rủi ro
này và thiết kế các phương pháp kiểm toán cơ bản để hạn chế rủi ro phát
hiện đến mức có thể chấp nhận được.Bằng cách đó mà giảm rủi ro kiểm
toán đến mức có thể chấp nhận được”. Cách xác định quan hệ này được
xây dựng theo mô hình rủi ro kiểm toán thứ nhất (mô hình 1), tức là rủi ro
kiểm toán bị điều chỉnh bởi rủi ro phát hiện, chưa thể hiện được tính chất
phụ thuộc của rủi ro phát hiện vào rủi ro kiểm toán mong muốn và rủi ro
tiềm tàng cũng như rủi ro kiểm soát.
Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát thường biến đổi cùng chiều với
nhau và do vậy thường được đánh giá chung khi đánh giá rủi ro kiểm

Thấp Cao
Trung bình
Cao Thấp

CR DR Số lượng bằng chứng cần thu thậpf
Thấp Cao Thấp
Thấp Trung bình Trung bình
Cao Thấp Cao
Trung bình Trung bình Trung bình Trung bình
Trung bình Trung bình Trung bình

2.3.1.2. Quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán BCTC
Theo chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 về “Đánh giá rủi ro
và kiểm soát nội bộ” thì: Khi xác định phương pháp tiếp cận kiểm toàn,
KTV phải quan tâm đến những đánh giá ban đầu về rủi ro tiềm tàng, rủi
ro kiểm soát để xác định mức độ rủi ro phát hiện có thể chấp nhận được
cho cơ sở dẫn liệu của BCTC và xác định nội dung, lịch trình, phạm vi
của các thủ tục cơ bản cho cơ sở dẫn liệu đó”.
Như vậy, mục đích của việc đánh giá rủi ro kiểm toán là để xác
định mức rủi ro phát hiện làm cơ sở cho lập kế hoạch các thử nghiệm
kểm toán sẽ áp dụng.Từ mô hình rủi ro kiểm toán, ta thấy rủi ro phát hiện
được xác định trên cơ sở những đánh giá về rủi ro kiểm toán mong muốn,
rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát.
2.3.1.2.1. Xác định mức rủi ro kiểm toán mong muốn.


Rủi ro kiểm toán mong muốn được xác định ngay trong giai đoạn
lập kế hoạch kiểm toán, nó được xác định một cách chủ quan và phụ
thuộc vào hai yếu tố cơ bản:
Một là, mức độ mà theo đó người sử dụng bên ngoài tin vào

lượng lớn các khoản công nợ hoặc các khoản công nợ có quy mô lớn thì
chúng có khả năng được sử dụng rộng rãi hơn.
Hai là, khả năng khách hàng sẽ gặp khó khăn về tài chính sau khi báo cáo
kiểm toán công bố.
Nếu khách hàng gặp khó khăn về tài chính sau khi báo cáo kiểm toán
được công bố thì khả năng KTV sẽ liên quan tới các vụ kiện của các bên
do sử dụng BCTC được kiểm toán là rất lớn. Chính vì thế, trong trường
hợp này, KTV phải thiết lập ngay từ đầu một mức rủi ro kiểm toán mong
muốn thấp hơn để đề phòng các trường hợp bị các bên có liên quan


kiện.Trường hợp này sẽ dẫn đến chi phí kiểm toán cao hơn nhưng KTV
vẫn phải xác định rủi ro kiểm toán ở mức thấp hợp lý.
Việc dự đoán khả năng thất bại khó khăn của đơn vị được kiểm toán
trong tương lai là một vấn đề rất phức tạp. Tuy nhiên, KTV có thể dựa
vào một số yếu tố sau để dự đoán sự kiện này:
Thứ nhất, khả năng hoán chuyển thành tiền mặt.Nếu một doanh nghiệp
thường xuyên thiếu tiền và vốn lưu động thì có thể doanh nghiệp sẽ gặp
khó khăn trong thanh toán. KTV cần phải đánh giá khả năng thanh toán
của khách hàng để dự đoán khả năng khách hàng sẽ gặp khó khăn trong
tương lai và nếu trầm trọng hơn, doanh nghiệp mất khả năng thanh toán
các khoản nợ ngắn hạn thì dễ dẫn đến nguy cơ phá sản.
Thứ hai, các khoản lãi (lỗ) trong các năm trước. Khi một doanh nghiệp
giảm nhanh các khoản lãi hoặc tăng nhanh các khoản lỗ trong một số năm
liên tục thì đây là dấu hiệu về việc kinh doanh đang có chiều hướng xấu.
KTV cần đánh giá khả năng khách hàng sẽ gặp khó khăn về tài chính khi
thấy có các dấu hiệu này xuất hiện.
Thứ ba, các biện pháp nhằm gia tăng quá trình tài trợ. Nếu doanh nghiệp
càng phụ thuộc vào các khoản tài trợ, đặc biệt đang tìm mọi biện pháp để
gia tăng khoản tài trợ này thì chứng tỏ doanh nghiệp không tự chủ được

khoản mục khác.
Sau khi thiết lập được mức rủi ro kiểm toán mong muốn, KTV sẽ đánh
giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát.
2.3.1.2.2. Đánh giá rủi ro tiềm tàng (IR)
Việc phân tích đánh giá rủi ro tiềm tàng có ý nghĩa rất quan trọng khi lập
kế hoạch kiểm toán.Mức độ rủi ro tiềm tàng là cơ sở để lựa chọn các thủ
pháp kiểm toán, xác định khối lượng công việc, thời gian, nhân sự và chi
phí cần thiết cho một cuộc kiểm toán.
Theo chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 về “Đánh giá rủi ro và kiểm
soát nội bộ” : “Khi lập kế hoạch kiểm toán, KTV và công ty kiểm toán
phải đánh giá rủi ro tiềm tàng cho toàn bộ BCTC của đơn vị được kiểm
toán. Khi lập chương trình kiểm toán, KTV phải xác định cụ thể mức độ
rủi ro tiềm tàng cho các số dư hoặc loại nghiệp vụ quan trọng đến từng cơ
sở dẫn liệu.Trường hợp không thể xác định cụ thể được thì KTV phải giả
định rằng rủi ro tiềm tàng là cao cho cơ sở dẫn liệu đó. Căn cứ vào mức
độ đánh giá rủi ro tiềm tàng để dự kiến các công việc, thủ tục kiểm toán
sẽ được thực hiện cho các nghiệp vụ, các khoản mục trọng yếu trên
BCTC, hoặc các nghiệp vụ, các khoản mục mà KTV cho là có rủi ro tiềm
tàng cao.
Quá trình đánh giá rủi ro tiềm tàng được thực hiện trên cả hai phương
diện:
Một là, đánh giá rủi ro tiềm tàng trên phương diện BCTC, KTV thường
dựa vào một số yếu tố ảnh hưởng sau:
Thứ nhất, đặc điểm của Ban Giám độc: Nếu các quyết định về kinh tế, tài
chính trong đơn vị bị độc quyền bởi một cá nhân trong Ban Giám đốc thì
sẽ dễ xảy ra các sai phạm trọng yếu hơn trường hợp các quyết định này
được soát xét và phê duyệt bởi một hội đồng thành viên Ban Giám đốc.
Ngoài ra, sự thiếu liêm khiết, kinh nghiệm và hiểu biết của Ban Giám đốc
cũng như sự thay đổi thành phần Ban quản lý xảy ra trong niên độ kế toán
dễ dẫn đến việc chỉ đạo, điều hành các hoạt động sai chế độ, quy định

liên quan tới khả năng thanh toán. Một doanh nghiệp có nhiều đơn vị phụ
thuộc sẽ làm tăng khả năng sai sót ở khâu tổng hợp; Một đơn vị có quy
mô lớn có khả năng sau sót nhiều hơn một đơn vị có quy mô nhỏ hơn…
Thứ năm, các nhân tố ảnh hưởng đến lĩnh vực hoạt động của đơn vị như:
các biến động về kinh tế, cạnh tranh, sự thay đổi về thị trường mua, thị
trường bán và sự thay đổi của hệ thống kế toán đối với lĩnh vực hoạt động
của đơn vị.
Thứ sáu, hợp đồng kiểm toán lần đầu và hợp đồng kiểm toán dài
hạn.Trong các hợp đồng kiểm toán lần đầu, KTV thường thiếu hiểu biết
và kinh nghiệm về các sai sót của đơn vị khách hàng nên họ thường đánh
giá rủi ro tiềm tàng cao hơn so với hợp đồng kiểm toán những lần sau.
Hai là, đánh giá rủi ro tiềm tàng trên phương diện số dư tài khoản và loại
nghiệp vụ.
Đánh giá rủi ro tiềm tàng trên phương diện số dư tài khoản và loại nghiệp
vụ phụ thuộc vào các yếu tố: Mức rủi ro tiềm tàng đã đánh giá đối với
toàn bộ BCTC, tính chất của khoản mục, các nhân tố tác động tới rủi ro
tiềm tàng trên số dư tài khoản và loại nghiệp vụ trên cơ sở hiểu biết của
KTV, bao gồm các nhân tố sau:
Thứ nhất, bản chất kinh doanh của khách hàng. Rủi ro tiềm tàng bị tăng
lên bởi những đặc thù của ngành nghề kinh doanh mà nó có thể tạo nên
những khó khăn cho kiểm toán do tồn tại những khoản không chắc chắn
hoặc khả năng tồn tại một cách tiềm tàng những gian lận hoặc sai sót trên
BCTC. Chẳng hạn, khách hàng kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng
thường có nhiều rủi ro trong việc quản lý tiền mặt và các phương tiện


thanh toán, do đó việc kiểm toán vốn bằng tiền sẽ khó khăn hơn các
doanh nghiệp sản xuất thông thường; Hoặc đối với các đơn vị kinh doanh
thương mại thì việc kiểm toán doanh thu sẽ gặp nhiều khó khăn hơn…
Thứ hai, kết quả các lần kiểm toán trước.Đối với tài khoản được phát hiện

toán và HTKSNB của đơn vị trong việc ngăn ngừa hoặc phát hiện và sửa
chữa các sai sót trọng yếu. Rủi ro kiểm soát thường không hoàn toàn
được loại trừ do sự hạn chế tiềm tàng của hệ thống kế toán và hệ thống
kiểm soát nội bộ”.
Để đưa ra đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát, kiểm toán viên phải thu
thập thông tin về HTKSNB và mô tả chi tiết trên giấy tờ làm việc của
mình. Bằng phương pháp tiếp cận theo khoản mục và tiếp cận theo chu
trình KTV phải tìm hiểu các thông tin nhằm đánh giá HTKSNB trên ba
phương diện: tính hiện hữu, tính liên tục và tính hữu hiệu. Khi HTKSNB


của khách hàng thỏa mãn các khía cạnh trên, kiểm toán viên sẽ đánh giá
ban đầu về rủi ro kiểm soát ở mức trung bình hoặc thấp. Để đạt được sự
hiểu biết về các thông tin, KTV có thể sử dụng các cách thức sau:
Dựa vào kinh nghiệm trước đây của các KTV tiền nhiệm.
Phỏng vấn công ty nhân viên khách hàng.
Xem xét các sổ tay về thủ tục, quy định và chế độ của công ty
khách hàng.
Kiểm tra các chứng từ sổ sách của công ty khách hàng.
Quan sát các mặt hoạt động và quá trình hoạt động của công ty
khách hàng.
Để nhận thức rõ hơn các thông tin đó, sau quá trình tìm hiểu kiểm toán
viên phải mô tả các thông tin trên giấy tờ làm việc thông qua các bảng
câu hỏi, bảng tường thuật hoặc lưu đồ về hệ thống kiểm soát nội bộ.
Kiểm toán viên có thể kết hợp các phương pháp mô tả này để tăng hiệu
quả của quá trình nhận thức nhằm đưa ra đánh giá ban đầu xác đáng.
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 – “Đánh giá rủi ro và kiểm
soát nội bộ”, Mục 28 ghi: “Dựa trên sự hiểu biết về hệ thống kế toán và
hệ thống kiểm soát nội bộ, KTV và công ty kiểm toán phải đánh giá ban
đầu về rủi ro kiểm soát đối với cơ sở dẫn liệu cho từng số dư tài khoản

- KTV có kế hoạch thực hiện thử nghiệm kiểm soát làm cơ sở cho việc
đánh giá rủi ro kiểm soát.”
Tuy nhiên trong quá trình đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát,
KTV phải xem xét đến các hạn chế cố hữu của HTKSNB. Các hạn chế
này bao gồm:
Ban giám đốc công ty khách hàng luôn yêu cầu chi phí cho
HTKSNB phải thấp hơn lợi ích mà hệ thống mang lại. Vì vậy, KTV dễ
dàng nhận thấy các doanh nghiệp nhỏ thương không thiết kế và duy trì
HTKSNB nên rủi ro kiểm soát ban đầu luôn được đánh giá ở mức cao.
Phần lớn các thủ tục kiểm soát thường được thiết lập cho các
nghiệp vụ thường xuyên hơn là các nghiệp vụ không thường xuyên. Do
vậy, KTV có thể dự kiến ngay mức rủi ro kiểm soát ban đầu cao cho các
nghiệp vụ không thường xuyên của công ty khách hàng.
Sai sót bởi con người thiếu chú ý trong quá trình thực hiện những
chức năng nhiệm vụ của quá trình kiểm soát, vì vậy để đảm bảo tính thận
trọng, KTV thường đánh giá rủi ro kiểm soát ban đầu ở mức từ 50% đến
100%.
Khả năng HTKSNB không phát hiện được sự thông đồng giữa
những người trong ban giám đốc hoặc nhân viên với những cá nhân khác
trong hay ngoài đơn vị.
Khả năng người chịu trách nhiệm thực hiện các thủ tục kiểm soát
đã lạm dụng quyền hạn và chức vụ của mình.
Những thay đổi cơ chế và yêu cầu quản lý đã làm cho các thủ tục
kiểm soát bị lạc hậu hơn so với yêu cầu hoặc bị vi phạm.
Đối với ba hạn chế cố hữu sau cùng đã cho thấy KTV vẫn phải thực hiện
các thử nghiệm cơ bản và các thủ tục kiểm toán cần thiết ngay cả khi rủi
ro kiểm soát ban đầu được đánh giá ở mức thấp.
Bước 2, thực hiện thử nghiệm kiểm soát. Sau khi đánh giá ban đầu về rủi
ro kiểm soát, KTV tiến hành thực hiện thử nghiệm kiểm soát. Bản chất
của việc thực hiện các thử nghiệm kiểm soát nhằm đánh giá tính hữu hiệu

tính với các phần mềm kiểm toán để thu thập bằng chứng kiểm toán.
Bước 3, Đánh giá lại rủi ro kiểm soát. Dựa vào kết quả của việc
thực hiện các thử nghiệm kiểm soát, KTV đánh giá lại và quyết định mức
độ rủi ro kiểm soát được sử dụng để lập kế hoạch thực hiện các thử
nghiệm cơ bản. Nếu đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát cao nhưng KTV
tin rằng rủi ro kiểm soát thực tế thấp hơn, KTV sẽ mở rộng các thử
nghiệm kiểm soát để chứng minh cho phán đoán của mình và khi đó đánh
giá lại về rủi ro kiểm soát sẽ giảm đi.
Việc đánh giá lại rủi ro kiểm soát được KTV thực hiện sau khi lập
bảng đánh giá về hệ thống kiểm soát nội bộ. Nếu kiểm toán viên đánh giá
tốt về kiểm soát nội bộ của khách hàng thì rủi ro kiểm soát được đánh giá
lại sẽ ở mức thấp nhưng không bao giờ bằng không vì kiểm toán viên
không thể hoàn toàn tin tưởng vào hệ thống kiểm soát nội bộ của khách
hàng. Trường hợp ngược lại, rủi ro kiểm soát được đánh giá lại ở mức cao
hơn và KTV phải tăng cường thực hiện các thử nghiệm cơ bản.
2.3.1.2.4. Xác định rủi ro phát hiện
Rủi ro phát hiện được xác định từ ba loại rủi ro: rủi ro kiểm toán
mong muốn, rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát. Ba loại rủi ro này thay
đổi theo từng khoản mục do đó rủi ro phát hiện cũng cần được xác định
cho từng khoản mục và là căn cứ để KTV xác định nội dung, lịch trình và
phạm vi thử nghiệm cơ bản sẽ được thực hiện.
Sau khi đã thiết lập được mức rủi ro kiểm toán mong muốn, đánh
giá được rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, KTV xác định rủi ro phát
hiện theo công thức:
DR =


Rủi ro phát hiện có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với rủi ro tiềm tàng và
rủi ro kiểm soát.Khi rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được đánh giá
cao thì rủi ro phát hiện cần xác định ở mức thấp để duy trì rủi ro kiểm

IA
1.0 0.0

Mức độ đảm bảo kiểm soát (Control Assurance – CA): là mức độ
đảm bảo tương ứng với rủi ro kiểm soát được nhận diện. Mức độ đảm bảo
kiểm soát được xác định như sau:
Không tin cậy vào KSNBTin cậy vào KSNB
CA 0.0 1.3

Mức độ đảm bảo chi tiết (Substantive Assurance – SA): là mức độ
đảm bảo mà các thủ tục kiểm tra chi tiết của KTV phải đạt tới được trên
cơ sở mức độ đảm bảo tiềm tàng và mức độ đảm bảo kiểm soát đã được
xác lập ở trên.


Mối quan hệ giữa các loại mức độ đảm bảo trên được thể hiện qua công
thức sau:
AA = IA + CA + SA = 3
AA: Mức độ đảm bảo kiểm toán (Audit Assurance)
Cụ thể mối quan hệ giữa các loại mức độ đảm bảo được thể hiện như sau:
Bảng 3: Mô hình mức độ đảm bảo kiểm toán
(Nguồn: Tài liệu đào tạo nội bộ Công ty)
Các loại đảm bảo No SIR
SIR
Tin cậy vào KSNBKhông tin cậy vào KSNBTin cậy vào KSNB
Không tin cậy vào KSNB
IA
1.0
Tối đa
1.0

hoàn toàn phù hợp với cách tiếp cận trên lý thuyết vì hai cách tiếp cận
này đều được thực hiện trên cơ sở nhận diện các yếu tố về môi trường
kinh doanh, hệ thống kiểm soát nội bộ, đánh giá rủi ro tiềm tàng, rủi ro


kiểm soát, từ đó thiết kế các thủ tục kiểm toán và mức độ kiểm tra chi tiết
cho phù hợp với rủi ro được nhận diện.
2.3.2.2. Đặc điểm khách thể kiểm toán ảnh hưởng đến rủi ro kiểm toán
BCTC do DeloitteViệt Nam thực hiện

Bản chất, môi trường kinh doanh và kết quả hoạt động kinh doanh
của DN.
Bản chất kinh doanh của DN có ảnh hưởng quan trọng tới rủi ro kiểm
toán.Bởi lẽ nó thể hiện một cách đầy đủ về các hoạt động cơ bản của
doanh nghiệp, đồng thời phản ánh những rủi ro, bất lợi mà DN gặp phải
trong quá trình sản xuất kinh doanh.Một DN hoạt động trong môi trường
hoặc ngành nghề chứa đựng nhiều rủi ro, nguy hiểm trong kinh doanh thì
rủi ro kiểm toán sẽ cao và ngược lại. Khi đánh giá rủi ro kiểm toán dựa
vào bản chất kinh doanh, KTV thường chú ý tới các điểm:

Kỳ kinh doanh của DN: Kỳ kinh doanh ngắn thì khả năng xảy ra
rủi ro cao.

Ngành nghề kinh doanh: DN hoạt động trong ngành, thị trường
không ổn định thì khả năng xảy ra rủi ro là cao.

Kỹ thật: DN sử dụng các kỹ thuật tài chính phức tạp, lỗi thời thì
khả năng xảy ra rủi ro cao.

Cơ cấu tổ chức và quản lý của doanh nghiệp.

khả năng xảy ra gian lận và rủi ro là cao.

Khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp
Hoạt động liên tục là một dấu hiệu rất quan trọng để khẳng định về thực
trạng sản xuất kinh doanh của khách hàng.Khi khách hàng có dấu hiệu
hoạt động không liên tục, điều đó có nghĩa là thông tin được phản ánh
trên báo cáo có thể không chính xác và trung thực. Do vậy, khi đánh giá
rủi ro kiểm toán BCTC, KTV cần cân nhắc các khía cạnh sau của vấn đề
hoạt động liên tục:

DN không thể tổng hợp dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trong
khi báo cáo về thu nhập tăng.

Sự đe dọa của khả năng phá sản hoặc tịch biên tài sản để thế nợ.

Lỗ và có thể lỗ ở những nhóm khách hàng chính.

Khó khăn trong thực hiện các kế hoạch liên quan tới tiền.

Hệ thống kiểm soát nội bộ
Nếu một DN thiết kế hệ thống kiểm soát nội bộ tốt, DN đó sẽ giảm thiểu
được khả năng xảy ra sai sót, gian lận trong quá trình kế toán cũng như
hoạt động sản xuất kinh doanh.Nhờ vậy rủi ro kiểm soát sẽ được giảm
thiểu và mức độ đảm bảo kiểm soát (CA) sẽ đạt ở mức độ cao. Ngược lại,
nếu một DN có hệ thống kiểm soát nội bộ yếu, KTV không thể tin cậy
vào hệ thống kiểm soát nội bộ, khả năng xảy ra sai sót cao và do đó mức
độ đảm bảo kiểm soát (CA) sẽ thấp, KTV sẽ tăng cường thực hiện các thủ
tục kiểm tra chi tiết để thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ.
Khi tìm hiểu hệ thống KSNB của khách hàng, KTV cần nhận thức được
rằng mỗi hệ thống KSNB dù thiết kế hoàn hảo đến đâu cũng không thể

Có Không
1.
Các chức năng, nhiệm vụ quan trọng trong Công ty có được phân
công, phân nhiệm vụ rõ rang? Sự phân công, phân nhiệm có được thể
hiện rõ ràng bằng văn bản không?
2.
Có sự phân chia nhiệm vụ và công việc trong Công ty một cách
hợp lý không?
3.
Sự phân công trách nhiệm và quyền lợi trong Công ty có đảm bảo
nguyên tắc bất kiêm nhiệm không?
4.
Quyền hạn của các cá nhân trong Công ty có được phân quyền hợp
lý không?
5.
Có chế độ ủy quyền hợp lý không?
6.
Mọi nghiệp vụ có được phê chuẩn hợp lý không?

Đánh giá tổng hợp thủ tục kiểm soát

Đặc điểm và tính kiêm khiết của đội ngũ lãnh đạo
Trong quá trình đánh giá kiểm toán BCTC nói chung và đánh giá rủi ro
kiểm toán BCTC nói riêng, việc tìm hiểu và đánh giá đặc điểm và tính
liêm khiết của đội ngũ lãnh đạo là vô cùng cần thiết bởi vì điều đó sẽ
quyết định mức độ tin cậy của KTV vào những thông tin do khách hàng
cung cấp, tính trung thực của các thông tin trình bày trên BCTC từ đó
thiết kế chương trình kiểm toán phù hợp với điều kiện cụ thể và tình hình
thực tế của khách hàng. Khi xem xét về đặc điểm và tính liêm khiết của
đội ngũ lãnh đạo, KTV xem xét các vấn đề như:

Chỉ mục 1200: Đánh giá rủi ro kiểm toán và môi trường kiểm toán.
Trước khi tiến hành đánh giá rủi ro kiểm toán, Công ty lập kế hoạch tìm
hiểu khách hàng để có sự hiểu biết khái quát về khách hàng cũng như yêu
cầu, mong muốn của khách hàng đối với cuộc kiểm toán. Trước khi kí
hợp đồng kiểm toán, KTV phải thu thập những thông tin chung nhất về
khách hàng để có thể đưa ra những nhận định khái quát về rủi ro của hợp
đồng và đưa ra kết luận có tiến hành kiểm toán cho khách hàng đó hay
không. Những thông tin cần thu thập là: hình thức sở hữu, quy mô, đặc
điểm ngành nghề, lĩnh vực hoạt động kinh doanh của khách hàng, các đối
thủ, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý,… Những thông tin này thường được
lưu trong Hồ sơ kiểm toán chung.
Rủi ro kiểm toán phải được xác định trước khi KTV lập kế hoạch và tiến
hành kiểm toán.Việc này giúp KTV xác định được chương trình kiểm
toán phù hợp và thực hiện hiệu quả hơn. Tùy vào mức độ rủi ro mà Công
ty có các phương án khách nhau. DeloitteViệt Nam quy định có thể đánh
giá rủi ro kiểm toán ở một trong các mức sau:

Mức bình thường: Nếu rủi ro chấp nhận hợp đồng kiểm toán là
bình thường thì Giám đốc kiểm toán và trưởng nhóm kiểm toán đại diện
cho DeloitteViệt Nam sẽ xem xét chấp nhận hợp đồng kiểm toán với
khách hàng và thảo luận, thiết lập các điều khoản trong hợp đồng và tiến
hành thực hiện kiểm toán tại Công ty khách hàng.

Mức cao hơn bình thường: Nếu rủi ro chấp nhận hợp đồng kiểm
toán cao thì Giám đốc phải xem xét để đưa ra kết luận cuối cùng. Nếu có
nghi ngờ về khả năng chấp nhận hay tiếp tục với khách hàng thì Công ty
cần thu thập ý kiến của chuyên gia tư vấn từ đó đưa ra quyết định có chấp
nhận hợp đồng kiểm toán hay không.

Mức rất cao: Nếu rủi ro chấp nhận hợp đồng là rất cao thì Công ty


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status