Sáng kiến kinh nghiệm
Đồn Văn Thiểu
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
DẠY PHÂN MƠN: TẬP LÀM VĂN 3.
Phần một
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ở Tiểu học, môn Tiếng việt có vai trò nền tảng cho học sinh trau dồi,
phát huy vốn ngôn ngữ, rèn cho học sinh kỹ năng sử dụng Tiếng việt.
Học sinh viết một đoạn văn, làm một bài văn theo một chủ đề nào đó là
bước nâng cao mà học sinh đã học ở các phần trước về câu, về vốn từ, về
cách xây dựng văn bản.
Thực tế cho thấy khả năng sử dụng từ, đặt câu, viết văn của học sinh là
không đều nhau. Với chương trình giảng dạy hiện nay môn Tập làm văn
được đổi mới với nhiều thể loại; miêu tả, kể chuyện, thuật, tranh luận trao
đổi, xây dựng chương trình hoạt động, làm môït số văn bản hành chính (đơn
từ), biên bản. Điều này giúp học sinh tiến bộ về nhiều mặt, về khả năng vận
dụng, sử dụng ngôn ngữ Tiếng việt. Tuy nhiên, việc dùng từ ngữ đặt câu,
viết văn của các em còn nhiều hạn chế. Các em sử dụng dấu câu còn lúng
túng, sai vò trí cho nên khi đọc câu văn của các em trở nên khó hiểu và tối
nghóa. Việc nói năng của các em với thầy cô và bạn bè diễn ra tương đối tự
nhiên. Nhưng khi gặp một vấn đề nào đó trong việc phải có từ ngữ, hình ảnh
mới về một chủ đề nào đó đang tìm hiểu thì các em lúng túng ngay. Đối với
học sinh lớp ba việc diễn đạt ý, dùng từ, đặt câu, viết đoạn văn của các em
còn rất yếu do vốn từ ngữ còn hạn chế. Nhiều học sinh lo lắng, sợ sệt khi
học tiết Tập làm văn. Học sinh không chủ động nắm bắt kiến thức, thiếu tự
tin trong mỗi tiết học. Dẫn đêùn kết quả học tập của các em không đạt chuẩn,
ảnh hưởng đến quá trình học tập ở các lớp học cao hơn. Vấn đề trên là mối
trăn trở của tôi và rất nhiều giáo viên đứng lớp. Chính vì vậy mà tôi chọn đề
việc, bồi dưỡng những tình cảm lành mạnh tốt đẹp qua nội dung bài học.
2. Nội dung và hình thức dạy học môn Tập làm văn ở lớp ba.
2.1. Nội dung.
- Trang bò cho học sinh một số hiểu biết và kỹ năng phục vụ học tập và
đời sống hàng ngày như điền vào giấy tờ in sẵn, viết thư, làm đơn, tổ chức
cuộc họp và phát biểu trong cuộc họp, phát biểu cuộc họp của tổ, lớp và
trường, ghi chép sổ tay.
- Tiếp tục rèn kỹ năng viết, nói thông qua kể chuyện và miêu tả như kể
một sự việc đơn giản, tả sơ lược về người, vật xung quanh theo gợi ý bằng
tranh, bằng câu hỏi.
- Rèn luyện kỹ năng nghe thông qua các bài tập nghe kể và các hoạt
động học tập trên lớp.
2. 2. Các hình thức luyện tập.
2. 2.1 Các hình thức luyện tập
- Nghe và kể lại một mẩu truyện ngắn.
- Nghe và nói về tổ chức cuộc họp.
- Nghe báo cáo.
2.2.2 Bài tập nói
- Tổ chức điều khiển cuộc họp, phát biểu trong cuộc họp
- Kể hoặc tả miệng về người thân, gia đình, trường lớp, quê hương, lễ
hội hoạt động văn hóa nghệ thuật.
- Thảo luận về bảo vệ môi trường, về tình hình học tập và hoạt động
của lớp.
- Báo cáo về các hoạt động
- Giới thiệu các hoạt động của tổ lớp
Năm học
2
2010 - 2011
- Vốn từ ngữ của học sinh còn hạn chế.
- Học sinh chậm hiểu, nhút nhát, bò động trong học tập
+ Đối với dạng bài tập nghe nói ; học sinh yếu thường hay ỉ lại cho
các bạn học khá giỏi, ngại giao tiếp, lẫn tránh nhiệm vụ, nói nhỏ không đáp
ứng được theo yêu cầu đặt ra.
+ Đối với dạng bài tập viết; học sinh lúng túng không biết dùng từ đặt
câu, lời văn khô khan đơn điệu, khuôn mẫu, bắt chước, sử dụng lập từ, không
biết sử dụng dấu chấm, dấu phẩy. Học sinh không biết cách trình bày, sai
nhiều lỗi chính tả.
4. Những biện pháp giúp học sinh tích cực học tốt môn Tập làm văn
ở lớp ba.
Năm học
3
2010 - 2011
Sáng kiến kinh nghiệm
Đồn Văn Thiểu
Phân môn Tập làm văn là phân môn khó trong môn Tiếng việt. Trong
quá trình tham gia vào các hoạt động học tập học sinh với vốn kiến thức hạn
chế, phạm vi giao tiếp hẹp nên các em còn rụt rè, nhút nhát ngại giao tiếp,
ngại nói vì sợ sai. Vì vậy để khắc phục được các tình trạng trên tôi xin nêu
ra một số giải pháp để khắc phục những hạn chế trong khi dạy Tập làm văn
để tiết Tập làm văn ở lớp ba thực sự đạt hiệu quả.
4.1 Dạy học chú trọng : Tích hợp - lồng ghép.
Khi dạy Tập làm văn giáo viên cần hiẻu rõ tính tích hợp kiến thức giữa
2010 - 2011
Sáng kiến kinh nghiệm
Đồn Văn Thiểu
4. 2 Tạo không khí lớp học sôi động, hào hứng.
- Giáo viên cần chuẩn bò kỹ bài trước khi lên lớp, thuộc lòng nội dung,
câu chuyện cần kể có điệu bộ, cử chỉ hấp dẫn lôi cuốn học sinh ngay từ
những phút đầu.
- Lập kế hoạch cho hình thứ dạy học; giáo viên chọn hình thức dạy học
phù hợp nhằm cuốn hút học sinh vào các hoạt động học tập một cách chủ
động tích cực. Giáo viên có thể tổ chức các hình thức dạy học như: thảo luận
nhóm, đôi bạn học tập, đàm thoại với thầy cô giáo, hoạt động cá nhân về
một vấn đề nào đó. Giáo viên linh hoạt tổ chức cho học sinh học tập qua
hình thức ; tiếp sức, đóng vai, vận dụng các trò chơi trong tiết học, các cuộc
thi để học sinh có cơ hội thi đua cạnh tranh lành mạnh qua đó học sinh lónh
hội kiến thức tích cực, tự giác theo hình thức “ Học mà chơi - chơi mà học”.
Tạo không khí học tập thoải mái, khiến học sinh mạnh dạn tự tin, khi nói.
Từ đó rèn cho các em có khả năng diễn đạt, phát biểu ý kiến, đánh giá trước
đông người thể hiện suy nghó, cảm xúc, thái độ yêu ghét , trân trọng hay phê
phán để các em trở nên mạnh dạn tự tin tong học tập và giao tiếp.
4.3 Tăng cường luyện tập thực hành
Trường Tiểu học Mỹ Cẩm “A” là trường được học hai buổi trên ngày.
Bản thân tôi may mắn được nhận và dạy lớp học hai buổi trên ngày suốt
nhiều năm liền. Trong những tiết học chính, do thời gian có hạn mà học sinh
ít được luyện tập thực hành. Chính vì vậy trong những tiết luyện thêm Tiếng
việt ,tôi luôn tăng cường cho học sinh học phân môn Tập làm văn để các em
+ Bức tranh vẽ gì? ( Hai mẹ con một cậu bé đang ngồi nói chuyện).
GV: Mẹ và cậu bé đang nói chuyện gì? Cô mời cả lớp cùng nghe và
kể lại câu chuyện vui Dại gì mà đổi.
- Sau khi giáo viên kể chuyện , cho học sinh tìm hiểu truyện theo các
câu hỏi gợi ý. Giáo viên cho học sinh nhìn tranh kể lại câu chuyện theo
nhóm như vậy học sinh sẽ có điểm tựa để nhớ nội dung câu truyện.…
* Ngoài ra giáo viên cần phải sưu tầm thêm tranh ảnh, làm đồ dùng
phục vụ tiết dạy đặc biệt là các mẫu đơn từ, bảng phụ ghi các câu hỏi gợi ý.
Có như vậy giáo viên mới làm chủ được thời gian, học sinh có thời gian
lên tập thực hành thể hiện mình trong mỗi tiết học.
Phần ba
KẾT THÚC VẤN ĐỀ
1. Kết luận
Năm học 2010 – 2011 là năm học tiếp tục thực hiện“Xây dựng trừơng
học thân thiện, học sinh tích cực” Mỗi thầy, mỗi cô đều là người cha, người
mẹ, là anh chò và cũng là những người bạn của học sinh.Học sinh vui vẻ tự
tin học tập. Bên cạnh đó chúng ta vẫn đang tiếp tục thực hiện cuộc vận động
hai không “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo
dục. Nói không với vi phạm đạo đức nhà giáo”. Chính vì vậy để thực hiện
tốt cuộc vận động trên tôi luôn tìm tòi học hỏi qua sách báo, các đồng
nghiệp gần xa, tìm hiểu về nhu cầu và khả năng nhận thức của học sinh để
có những biện pháp giáo dục phù hợp.
Dưới sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viên, học sinh tự giác học tập, tự
chiếm lónh kiến thức mới. Vận dụng kiến thức cũ để chiếm lónh kiến thức
mới. Với sự gần gũi nhiệt tình của giáo viên, học sinh sẽ yêu trường, yêu lớp
hăng say học tập. Từ đó chất lượng dạy và học được nâng cao góp phần xây
dựng một nền giáo dục thân thiện và hiệu quả.
Năm học
…………………………………………………......
……………………………………………………….
………………………………………………………
Xếp loại:………..
Năm học
Đồn Văn Thiểu
7
2010 - 2011