TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI
GIẢI THƯỞNG “ TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”
NĂM 2015
Tên công trình:
RÀO CẢN DI CHUYỂN LAO ĐỘNG CÓ KỸ NĂNG
TRONG CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN
Thuộc nhóm ngành khoa học: KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ 3
HÀ NỘI, 2015
MỤC LỤC
MỤC LỤC....................................................................................................................1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT....................................................................................1
LỜI MỞ ĐẦU...............................................................................................................1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ RÀO CẢN DI CHUYỂN LAO
ĐỘNG CÓ KỸ NĂNG TRONG CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN (AEC).............6
1.1.CƠ SỞ VÀ MỤC TIÊU CỦA CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN
KHI MỞ CỬA THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG............................................6
1.1.1. Cơ sở của tự do di chuyển lao động có kỹ năng trong ASEAN.......6
1.1.3. Tiêu chuẩn đánh giá lao động có kĩ năng di chuyển giữa các nước
thành viên của AEC....................................................................................8
1.2.2.1.Rào cản về pháp luật.....................................................................13
1.2.2.2.Rào cản về chuyên môn................................................................15
CHƯƠNG 2: MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG CÁC RÀO CẢN DI CHUYỂN LAO ĐỘNG
3.3. KIẾN NGHỊ.........................................................................................45
3.3.1. Kiến nghị với chính phủ các nước ASEAN....................................45
3.3.2. Kiến nghị với người lao động.........................................................46
KẾT LUẬN.................................................................................................................47
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................49
PHỤ LỤC...................................................................................................................53
PHỤ LỤC 1: BẢNG TIÊU CHUẨN CỦA CÁC NGÀNH ĐƯỢC TỰ
DO DI CHUYỂN TRONG ASEAN..........................................................53
PHỤ LỤC 2: KHẢO SÁT VỀ CHÍNH SÁCH DI CHUYỂN LAO
ĐỘNG CÓ KĨ NĂNG................................................................................58
PHỤ LỤC 3: MÔ HÌNH DỰ BÁO BẰNG PHƯƠNG PHÁP SAN
BẰNG MŨ GIẢN ĐƠN.............................................................................64
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT
1
Chữ viết
tắt
ACPE
2
ACPECC
3
ACPER
13
14
15
EU
FDI
FTA
GATS
16
ILO
17
ILSSA
18
MRA
19
20
NAB
NAFTA
21
NRA
Organization
Institute of Labour Science
and Social Affair
Mutual Recognition
Arrangement
National Accounting Board
North American Free Trade
Agreement
Nursing Regulatory Authority
Tiếng việt
Hiệp hội kĩ sư chuyên
nghiệp ASEAN
Ủy ban điều phối Hiệp hội
kĩ sư chuyên nghiệp
ASEAN
Bản đăng kí kĩ sư chuyên
nghiệp ASEAN
Ngân hàng phát triển Châu
Á
Cộng đồng Kinh tế ASEAN
Khung tham chiếu trình độ
ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á
Cộng đồng các nước Caribê
Luật Tiếp tục phát triển
chuyên nghiệp
Cộng đồng Kinh tế các
quốc gia Tây Phi
25
SADC
26
TPCB
27
TVET
Overseas Employment
Certificate
Professional Regulatory
Authority
Professional Medical
Regulatory Authority
Southern African
Development Community
Tourism Professional
Certification Board
Technical Vocational
Education and Training
Giấy chứng nhận lao động nước
ngoài
Cơ quan quản lí chuyên nghiệp
Cơ quan quản lý y tế chuyên
nghiệp
Số lao động trong 7 ngành nghề theo ASEAN MRA,
trong nhiều năm
19
4
2.1
Một số chỉ số thị trường lao động ASEAN, năm gần
nhất
26
5
2.2
Cơ cấu lực lượng lao động theo trình độ chuyên môn
kĩ thuật
27
Các công ước được phê chuẩn về lao động di cư
Trang
14
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
STT
17
4
1.4
Hệ thống các kĩ năng cần đào tạo
18
5
2.1
29
6
2.2
7
2.3
Nơi xuất phát dòng nhập cư lao động quốc tế vào
Singapore, Malaysia và Thái Lan, 2013
Tiền lương bình quân hàng tháng của các quốc gia
trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương với số liệu
so sánh được, năm 2013 hoặc năm gần nhất
Tỉ lệ tổng số lao động di cư nội khối ASEAN,
3.4
Ước tính số lao động động Việt Nam di chuyển trong
ASEAN (Người)
39
29
30
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
ASEAN là một khu vực kinh tế năng động và đa dạng với mức tăng trưởng
kinh tế đáng kể trong những thập kỷ gần đây, nhưng bên cạnh đó ASEAN lại phải
đối mặt với sự gia tăng lớn về chênh lệch trình độ phát triển giữa các quốc gia. Cuối
năm 2015, Cộng đồng ASEAN sẽ được thành lập với ba trụ côt chính là Cộng đồng
Kinh tế ASEAN (AEC), Cộng đồng an ninh- chính trị ASEAN( APSC) và Cộng
đồng văn hóa- xã hội ASEAN (ASCC). Mục tiêu của ASEAN trong tương lai sẽ
phát triển ASEAN trở thành một khu vực kinh tế ổn định, thịnh vượng, có khả năng
cạnh tranh cao, trong đó hàng hóa, dịch vụ và đầu tư được lưu chuyển tự do hơn,
kinh tế phát triển đồng đều hơn, nghèo đói và phân hóa kinh tế - xã hội được giảm
thiểu. Trong ba trụ cột, AEC được coi là trụ cột quan trọng nhất, đóng góp lớn nhất
vào sự nghiệp phát triển ASEAN. AEC sẽ giúp hình thành sự dịch chuyển tự do của
hàng hóa, dịch vụ, vốn đầu tư và lao động có tay nghề cao trong khu vực. Các hàng
rào thuế quan và phi thuế quan sẽ được cắt giảm và có tác động tích cực đối với tự
do hóa thương mại và đầu tư trong khu vực. Bên cạnh đó, lao động trong khu vực,
đặc biệt là lao động có kỹ năng sẽ được tự do di chuyển giữa các nước thành viên
ASEAN. Hiểu biết về tác động của AEC tới thị trường lao động ASEAN và những
thức đúng đắn về năng lực của lao động Việt Nam, những khó khăn để di chuyển
lao động Việt Nam sang các nước phát triển khác làm việc hay các loại rào cản tại
Việt Nam khi thu hút nhân lực chất lượng cao trong khu vực. Đó chính là những
vấn đề cần được phân tích có hệ thống khi thời điểm Cộng đồng Kinh tế ASEAN
được tuyên bố thành lập đang đến gần. Vì vậy đề tài “ Rào cản di chuyển lao động
có kỹ năng trong Cộng đồng Kinh tế ASEAN” đã được chọn để nghiên cứu.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cộng đồng ASEAN 2015: Quản lý hội nhập hướng tới thịnh vượng
chung và việc làm tốt hơn ( Báo cáo của ILO)
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) là một khu vực năng động và
đa dạng. Khu vực này đã đạt mức tăng trưởng kinh tế đáng kể trong những thập kỷ
gần đây, nhưng cũng đã chứng kiến sự gia tăng của bất bình đẳng và sự tồn tại của
những việc làm kém chất lượng. Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), với tầm nhìn
hướng tới một thị trường chung và một khu vực sản xuất chung, sẽ trở thành hiện
thực vào năm 2015. Điều này sẽ giúp hình thành sự dịch chuyển tự do của hàng
hóa, dịch vụ, vốn đầu tư và lao động có tay nghề cao trong khu vực. Qua báo cáo
này, dựa trên các nguồn số liệu chính thức trong nước và quốc tế, cung cấp đánh giá
tổng quan về xu hướng kinh tế và thị trường lao động gần đây trong khối ASEAN.
Báo cáo xem xét tác động của Cộng đồng Kinh tế ASEAN tới các quốc gia động
thông qua các mô hình mô phỏng và phân tích chính sách thực tế, với mục đích
cung cấp các khuyến nghị chính sách dựa trên bằng chứng hướng tới việc làm tốt
hơn, tăng trưởng bao trùm và cân bằng. Báo cáo nhấn mạnh các ưu tiên chính để
giải quyết những cơ hội và thách thức của AEC về tăng cường cơ chế hợp tác khu
vực, hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu và nâng cao chất lượng việc làm, tăng cường phát
triển kỹ năng nghề, nâng cao năng suất, tiền lương và quản lý lao động di cư.
Nghiên cứu của Bùi Thị Minh Tiệp (2014) - “Nguồn nhân lực của
các nước Asean và những tham chiếu cho Việt Nam trước thềm hội
nhập”
khu vực. Bằng những nghiên cứu trên, Chia Siow Yue đã đưa ra cách nhìn
tổng quan về việc di chuyển lao động trong ASEAN, những lợi ích của mỗi
quốc gia, đồng thời chỉ ra những khó khăn về chính sách mà người lao động
có thể gặp phải khi quyết định di chuyển đến nước khác làm việc.
ILO, (2014): The road to the ASEAN employers on skills and
competitiveness: The challenges and opportunities for enterprises and
their representative organizations - Đường đến Cộng đồng Kinh tế
ASEAN 2015: Cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp và các tổ chức
đại diện của họ
Nghiên cứu của ILO về những Cơ hội và thách thức mà các doanh
nghiệp ASEAN sẽ gặp phải khi AEC thành lập, phân tích rất kỹ về sự dịch
chuyển các nguồn lực trong ASEAN như hàng hóa, vốn và lao động. Bài
nghiên cứu đã chỉ ra những đánh giá của các doanh nghiệp về kỹ năng của lao
động ASEAN hiện nay, nhu cầu thực sự của các doanh nghiệp về các kỹ năng
của người lao động. Theo kết quả nghiên cứu thì hầu hết các kỹ năng mà
người lao động được học tại các cơ sở giáo dục, đào tạo đều không đáp ứng
yêu cầu làm việc và thiếu hụt những kỹ năng cần thiết nhất như kỹ năng lãnh
đạo, kỹ năng kỹ thuật. Từ những đánh giá này, ILO đề xuất cho các doanh
3
nghiệp những giải pháp để có thể tăng cường năng lực cạnh tranh của mình
thông qua tuyển dụng lao động như thiết lập đối thoại với chính phủ, đề xuất
những yêu cầu về lao động đến các chính sách di chuyển lao động trong khu
vực.
3. Mục đích nghiên cứu
Bài Nghiên cứu khoa học về đề tài: “ Rào cản di chuyển lao động có kỹ năng
trong cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)” sẽ phân tích các loại rào cản mà người lao
động có thể gặp phải khi tự do hóa thị trường lao động AEC, đồng thời đề xuất giải
pháp giúp người lao động có kỹ năng trong ASEAN nói chung và Việt Nam nói
Chương 3: Định hướng và giải pháp cho lao động Việt Nam di chuyển trong
Cộng đồng Kinh tế ASEAN.
5
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ RÀO CẢN DI
CHUYỂN LAO ĐỘNG CÓ KỸ NĂNG TRONG CỘNG
ĐỒNG KINH TẾ ASEAN (AEC)
1.1.
Cơ sở và mục tiêu của cộng đồng Kinh tế ASEAN khi mở cửa thị
trường lao động
Đến cuối năm 2015, AEC được thành lập hướng đến tự do hóa thị trường lao
động trong một số ngành nghề và lao động có kỹ năng. Những lao động có kỹ năng
là lao động có chất lượng cao (các chuyên gia, thợ lành nghề), trong đó có lao động
được đào tạo chuyên môn hoặc có trình độ từ đại học trở lên, thông thạo ngoại ngữ,
đặc biệt là tiếng Anh sẽ được tự do di chuyển trong AEC.
1.1.1. Cơ sở của tự do di chuyển lao động có kỹ năng trong ASEAN
Di chuyển tự do lao động có kỹ năng trong ASEAN không tự phát mà do
nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, tạo cơ sở để AEC thành lập một khu vực di
chuyển tự do lao động. Những yếu tố đó bắt nguồn từ sự chênh lệch về tiền lương,
cơ hội việc làm, các nhân tố chính sách dành cho lao động giữa các nước tạo nên
lực đẩy di chuyển lao động.
Sự mất cân bằng trong tiền lương và cơ hội việc làm giữa các nước phát triển
trong khu vực với các nước còn lại thúc đẩy cho người lao động có xu hướng di
chuyển tư nước kém phát triển hơn sang các nước láng giềng phát triển hơn. Tuy
ngoài đối với lao động có kỹ năng, ngoại trừ Philipines. Trong khi đó chỉ có
Singapore và Malaysia là có các chính sách thu hút nhân tài nước ngoài, đặc biệt là
cộng đồng người Do Thái, họ coi nhân tài chính là gốc rễ của sự phát triển.
Malaysia đang ngày càng tăng cường luồng nhập cư nhân tài, coi đây là một phần
của chiến lược tái cấu trúc nền kinh tế. Hiện nay, hầu như dòng di chuyển lao động
có kỹ năng chủ yếu hướng đến các nước phát triển như Mỹ- Canada, Anh, Úc –
New Zealand, cho thấy sự không hài lòng của người lao động về các chính sách
việc làm và chất lượng giáo dục trong nước. Trong khi đó tại các nước ASEAN
khác như Indonesia, Campuchia, Lào, Việt Nam, dòng di cư lại không mạnh mẽ, bị
hạn chế bởi các quy tắc luật pháp chặt chẽ, nguồn nhân lực vẫn còn thiếu nhiều kỹ
năng, đặc biệt là tiếng An. Myanmar tuy có lao động thành thạo tiếng Anh hơn
nhưng lại bị hạn chế do thể chế chính trị còn chưa thực sự mở cửa với thị trường thế
giới.
Mặt khác, các nước ASEAN là thành viên của WTO kí cam kết theo GATs và
FTAs với điều khoản tự do dịch vụ và đầu tư có thể tạo điều kiện cho sự di chuyển
của các cá nhân. Nhờ đó việc thành lâp một thị trường lao động tự do trong khu vực
ASEAN không chỉ là do nhu cầu từ sự phát triển kinh tế mà còn là nghĩa vụ của họ
đối với các cam kết trong WTO.
1.1.2. Mục đích di chuyển lao động có kỹ năng
Di chuyển lao động có kỹ năng trong AEC đem lại rất nhiều lợi ích cho các
quốc gia thành viên.
Di chuyển tự do lao động có kỹ năng thuận tiện cho các nước thu hút các
nguồn đầu tư nước ngoài trong ASEAN, bằng việc cho phép các doanh nhân và
chuyên gia tới làm việc tại các doanh nghiệp FDI. Việc có thể đưa các nhân lực chất
lượng cao tới quản lý và điều hành doanh nghiệp góp phần làm tăng hiệu quả đầu tư
của các doanh nghiệp, điều đó giúp các quốc gia hấp dẫn được nhiều nguồn đầu tư
cả trong và ngoài khối.
Tự do lao động có kỹ năng sẽ bù đắp sự thiếu hụt kỹ năng trong ngắn hạn ở Brunei, Cambodia, Laos, Malaysia, Singapore, Vietnam. Sự thiếu nhân lực về y tế,
điều dưỡng, kiểm toán và công nghệ thông tin ở Brunei; kĩ sư, công nghệ thông tin,
thống kê ở Cambodia; Y tế, nha khoa, kiểm toán và công nghệ thông tin ở
ASEAN được tự do di chuyển thông qua các thỏa thuận công nhận tay nghề tương
đương, gồm kế toán, kiến trúc sư, nha sĩ, bác sĩ, kỹ sư, y tá, du lịch và điều tra viên.
1.1.3.2.
Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau trong AEC (MRAs)
Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau (MRA) là các cam kết giữa các nước trong
cộng đồng ASEAN đưa ra các cơ chế thỏa thuận về tính đương đương của các thủ
tục chứng nhận và trình độ chuyên môn của lao động trong toàn ASEAN trên một
số lĩnh vực nhất định.
Mỗi quốc gia ASEAN có các tiêu chuẩn, chứng nhận và những quy định riêng
để thừa nhận năng lực của người lao động. MRA đóng vai trò nâng cao tiêu chuẩn
ngành và trình độ nguồn nhân lực của các ngành được kí kết, thúc đẩy quá trình di
chuyển lao động trong khu vực ASEAN phù hợp với chính sách của ASEAN. MRA
ra đời để tạo điều kiện phát triển năng lực tương đương của người lao động.
8
MRA được đưa ra với mục tiêu thúc đẩy tự do hóa thị trường lao động, tạo
thuận lợi dịch chuyển cho người lao động, khuyến khích trao đổi thông tin về những
điển hình giáo dục, đào tạo theo năng lực, đồng thời tạo cơ hội hợp tác giữa các
nước thành viên ASEAN và cơ hội xây dựng năng lực cho các quốc gia thành viên
ASEAN.
Đối với các chính phủ, MRA bảo đảm sự cam kết và thỏa thuận về thương mại
quốc tế, khuyến khích trao đổi điển hình tốt và chia sẻ thông tin giữa các đối tác.
Ảnh hưởng của MRA sẽ làm giảm các chi phí, gia tăng sức cạnh tranh, tăng khả
năng thâm nhập thị trường và tự do hơn dòng chảy thương mại.
Đối với người lao động di chuyển trong các ngành được tự do di chuyển,
MRA mang lại những lợi ích như tạo thuận lợi trong việc dịch chuyển, nâng cao
9
gặp nhiều khó khăn như khung trình độ không thống nhất với kỹ năng nghề nghiệp,
cùng là trình độ cao đẳng nhưng vừa có trường cao đẳng, vừa có trường cao đẳng
nghề.
Việt Nam không có chính sách công nhận năng lực, trình độ của người lao
động trải nghiệm qua thực tiễn lao động và nghề nghiệp. Do đó dẫn đến, người bằng
cấp thấp nhiều kinh nghiệm, có thể xử lí tình huống, năng lực công việc tốt nhưng
không được thừa nhận. Bên cạnh đó, văn bằng hiện được cấp theo trình độ đào tạo
nhưng không có sự tin tưởng của xã hội nói chung, người sử dụng lao động nói
riêng. Việc bằng cấp liên thông không được chấp nhận ở nhiều nơi cũng phần nhiều
do kiểm định chất lượng còn kém, chưa phát huy tác dụng, tạo niềm tin cho xã hội.
Theo kế hoạch, cấu trúc của khung trình độ quốc gia của Việt Nam sẽ thống nhất có
8 trình độ từ tiến sĩ, thạc sĩ, ĐH, CĐ, trung cấp, chứng chỉ nghề cấp I, II và III với
các chuẩn đầu ra về kiến thức, kỹ năng, năng lực tự chủ và trách nhiệm của người
học. Đi kèm với đó là khối lượng học tập cần có và chứng chỉ, bằng tốt nghiệp
tương xứng.
1.1.3.4.
Quy trình di chuyển
Người lao động cần một cơ sở đáng tin cậy để xác định sự phù hợp của chứng
chỉ hoặc văn bằng của người xin việc, đơn vị cấp, ngày cấp, tình trạng và chất lượng
của văn bằng cho các mục đích đăng kí của người xin việc và đánh giá của người sử
dụng lao động hoặc của cơ quan được chỉ định đánh giá mức độ phù hợp của người
xin việc đối với một vị trí tuyển dụng cụ thể ở nước mình.Các cơ quan chuyên trách
có trách nhiệm đảm bảo mức độ tin cậy của việc ghi chép, bảo mật và lưu trữ thông
tin liên quan về người xin việc.
Lao động có thể đăng ký bằng cách gửi thông tin cá nhân của họ cho hội đồng
1.2. Những vấn đề chung về rào cản di chuyển lao động có kỹ năng trong
AEC
1.2.1. Khái niệm rào cản
AEC được thành lập giúp mở rộng cánh cửa hội nhập, đẩy mạnh việc di
chuyển hàng hóa, dịch vụ, vốn cũng như lao động có kỹ năng giữa các quốc gia
trong khu vực. Tuy nhiên, mở cửa thị trường, đẩy mạnh lưu thông giữa các quốc gia
không có nghĩa là hàng hóa, lao động, vốn… được di chuyển ồ ạt vào và ra các
nước, tự do hóa di chuyển lao động có kỹ năng sẽ phải đặt dưới sự kiểm soát của
Chính phủ các quốc gia thành viên của ASEAN nói chung và AEC nói riêng. Lao
động di chuyển trong khu vực ASEAN sẽ gặp phải các rào cản tự nhiên như rào cản
văn hóa hay rào cản kĩ thuật từ chính sách của các quốc gia đối với lao động nhập
cư hay sự khác biệt về trình độ của lao động giữa các quốc gia.
Rào cản được hiểu là tất cả những gì gây trở ngại, khó khăn cho lao động tìm
kiếm cơ hội việc làm tại các quốc gia khác, gây nên áp lực cản trở quá trình di
chuyển lao động quốc tế.
Trong thời kì đầu tiên của công cuộc tự do hóa thị trường lao động, chắc chắn
người lao động sẽ gặp phải những khó khăn nhất định khi di chuyển đến nước khác
làm việc. Những khó khăn bắt đầu từ khi tìm kiếm việc làm, hoàn thành các thủ tục
pháp luật để di chuyển đến nước thành viên khác làm việc đến khi hòa nhập với
cộng đồng mới sẽ hạn chế mục tiêu tự do hóa thị trường của AEC. Những rào cản
mà người lao động có kỹ năng có thể gặp phải là rào cản pháp luật, rào cản chuyên
môn và rào cản văn hóa.
11
Trên thực tế, pháp luật của mỗi nước khác nhau và trong cùng một nước lại có
sự tác động khác nhau đến từng ngành nghề hoạt động, từng đối tượng chịu sự tác
động. Rào cản pháp luật đối với di chuyển lao động là quy định trong pháp luật của
1.2.2.Các loại rào cản di chuyển
Trước khi thành lập AEC, giữa các nước trong khối vẫn có sự di chuyển lao
động. Tuy nhiên dòng di chuyển lao động vẫn còn hạn chế, có sự chênh lệch lớn
giữa các quốc gia, chứng tỏ đã tồn tại những rào cản không nhỏ trong di chuyển lao
động giữa các nước.
12
Biểu đồ 1.1 : Di chuyển lao động nội khối của ASEAN, 2013
Tuy rằng AEC ra đời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho lao động các nước tự do
di chuyển, nhưng những khó khăn mà người lao động gặp phải vẫn còn nhiều.
1.2.2.1. Rào cản về pháp luật
Rào cản về pháp luật là rào cản khó vượt qua nhất đối với di chuyển lao
động. Các yếu tố như ý chí chính trị sẽ tạo ra tác động mạnh mẽ đến các chính sách
luật pháp của mỗi nước về lao động.
ASEAN là một khối không đồng nhất về hệ thống chính trị, tổn tại 2 thể chế
chính trị khác nhau đó là các nước cộng hòa như Indonesia, Philipines và Singapore
hay các nước theo chủ nghĩa cộng sản là Lào và Việt Nam, các nước quân chủ lập
hiến như Brunei, Campuchia, Malaysia, Thái Lan và chính thể quân sự cai quản tại
Myanmar. Sự khác nhau về thể chế giữa các nước trong ASEAN là cơ sở tạo ra sự
khác biệt về pháp luật của các nước. Vì vậy các bộ luật lao động của các nước có
các quy định khác nhau đối với lao động đến từ nước ngoài.
Thứ nhất, quyền nhập cư, chính sách thị thực, chính sách di cư ra nước ngoài
của nước sở tại, chính sách tuyển dụng và những ưu tiên của chủ sở hữu lao động ở
khu vực tư nhân có thể lấn át và hạn chế những thay đổi đối với di chuyển lao động
mà AEC có thể mang lại. Một số quốc gia có thể đưa ra chính sách rất mở cửa, chỉ
gồm nơi sinh, nguồn gốc nước ngoài, hay dòng họ) hoặc nguồn gốc xã hội không
được đảm bảo chắc chắn cho người lao động. Đây chính là một điểm bất lợi cho lao
động di chuyển đến các nước này khi đòi hỏi quyền lợi cho chính mình.
14
Bảng 1.2. Phạm vi an sinh xã hội đối với lao động di cư theo các quốc gia,
năm 2014
Thực tế cho thấy tại các quốc gia là điểm “ Đến”, bên cạnh sự phân biệt đối
xử về các yếu tố nguồn gốc xã hội, Luật an sinh xã hội vẫn không áp dụng cho lao
động di cư không có quyền định cư dài hạn, khiến họ bị mất đi một số quyền then
chốt như thất nghiệp hay bảo vệ gia đình người lao động.
Thứ ba, quyền lợi của người lao động di cư còn được kì vọng sẽ được chuyển
giao qua biên giới giữa nước mà người lao động làm việc và quê hương của họ. Sự
hài hòa hóa giữa hệ thống an sinh xã hội và các dịch vụ của các nước ASEAN chưa
được thiết lập. Đặc biệt đối với các lao động đến tuổi nghỉ hưu, họ mong rằng sau
khi trở về quê hương, những chế độ lương hưu của họ tại nước ngoài vẫn sẽ được
đảm bảo. Việc đảm bảo công bằng cho lao động ASEAN về mọi khía cạnh của an
sinh xã hội là vô cùng khó khăn và cần nhiều sự đầu tư và hợp tác giữa các nước
trong khu vực.
1.2.2.2. Rào cản về chuyên môn
Trong tất cả các trở ngại dành cho lao động kĩ năng di chuyển, rào cản về
chuyên môn là rào cản lớn nhất. Giữa các nước ASEAN hiện tại đang có sự chênh
lệch lớn về trình độ lao động, điều đó đã tạo ra rào cản di chuyển lao động giữa các
nước kém phát triển hơn vào các nước phát triển của khu vực.
15
việc thực hiện.
Thứ ba, nhìn chung việc đạt các tiêu chuẩn trong Tiêu chuẩn đăng bạ để
thành lao động chuyên nghiệp ASEAN là rất khó đạt được so với trình độ lao động
ở một số nước (đặc biệt nhóm các nước là “ Nguồn” lao động). Tuy đã tạo ra một
môi trường cạnh tranh lành mạnh trong thị trường lao động tự do và góp phần nâng
cao trình độ lao động tại ASEAN nhưng các yêu cầu về trình độ cho lao động lại
không mở ra các cơ hội lớn về việc làm cho các lao động còn thiếu kinh nghiệm
như sinh viên mới tốt nghiệp, yêu cầu về số năm kinh nghiệm là rào cản lớn để lao
động trẻ có khả năng được công nhận và cấp giấy phép. Một số quốc gia có các
chính sách thu hút lao động có kỹ năng và hạn chế tuyển dụng lao động nước ngoài
có chuyên môn thấp. Vì vậy, các quy định để xác định lao động đáp ứng được yêu
cầu của lao động có chuyên môn cao là rất chặt chẽ. Người lao động muốn di
16
chuyển được trong nội bộ ASEAN phải đáp ứng được các yêu cầu của Khung tham
chiếu trình độ ASEAN, được công nhận trình độ theo các Thỏa thuận thừa nhận lẫn
nhau giữa các nước trong ASEAN.
Do trình độ phát triển không đồng đều, nên hiện nay, lao động có tay nghề và
kỹ năng cao trong khối ASEAN chủ yếu di chuyển vào thị trường Singapore,
Malaysia và Thái Lan. Còn lại, hầu hết các lao động di chuyển trong phạm vi
ASEAN là lao động trình độ kỹ năng thấp hoặc không có kỹ năng
Biểu đồ 1.2.: Mức độ đáp ứng của các kĩ năng đào tạo từ trường
trung học với yêu cầu của nhà tuyển dụng.
Biểu đồ 1.3. : Mức độ đáp ứng của các kĩ năng được đào tạo tại trường
Đại học với nhu cầu của nhà tuyển dụng
Bảy trong số những ngành nghề hiện đã được đề cập trong các MRA gộp lại
cũng chỉ chiếm khoảng 0,3% đến 1,4% trong tổng số việc làm tại các nước thành
viên (ngành nghề thứ tám MRA đề cập đến là nghề du lịch, nhưng lại không hề có
danh mục vị trí nghề nghiệp để có thể tính toán được tỉ lệ tương ứng). Do đó, các
ngành nghề này chỉ chiếm một phần không đáng kể trong tổng số việc làm ở
ASEAN. AEC có thể tạo điều kiện cho các nhà cung cấp dịch vụ chuyên môn được
đăng ký hay cấp phép tại các nước tham gia ký kết để được công nhận tại những
nước ký kết khác. Tuy nhiên, những đối tượng nào thực sự được phép di cư để làm
việc thì vẫn còn tùy thuộc vào ý chí chính trị, cung và cầu thị trường tại các nước
thành viên. Quyền nhập cư, chính sách thị thực, chính sách di cư ra nước ngoài của
nước sở tại, chính sách tuyển dụng và những ưu tiên của chủ sử dụng lao động ở
khu vực tư nhân có lẽ sẽ lấn át những thay đổi đối với di chuyển lao động mà AEC
có thể mang lại. Do đó, tác động của các điều khoản AEC về dịch chuyển lao động
có thể sẽ rất hạn chế trong ngắn hạn với thị trường lao động.
1.2.2.3.
Rào cản văn hóa
Khi nói đến văn hoá là nói tới toàn bộ những giá trị sáng tạo về tinh thần và
vật chất, thể hiện trình độ sống, dân trí, những quan niệm về đạo lý nhân sinh, thẩm
mỹ của một dân tộc và dấu ấn ở mỗi con người. Văn hoá góp phần trực tiếp tạo nên
bản sắc của dân tộc, tạo nên sự khác biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác.
Đông Nam Á quy tụ hầu hết các tôn giáo lớn của thế giới. Phật giáo có mặt ở
hầu hết các nơi ở Đông Nam Á lục địa, đạo Hồi có mặt ở các nước biển đảo như
Brunei, Indonesia và Malaysia ngay từ thế kỷ XIII. Thể kỉ XVI, thực dân Tây Ban
Nha đưa thiên chúa giáo vào Philippines. Bên cạnh các tôn giáo lớn này còn có các
nhóm tôn giáo khác cùng tổn tại. Ví dụ như ở các quần đảo phía nam Philippines có