Luận văn Đề tài Di chuyển lao động quốc tế tại Việt Nam - Pdf 13

LUẬN VĂN
ĐỀ TÀI:
Di chuyển lao động quốc tế tại Việt Nam
Thành phố Hồ Chí Minh
I. Khái niệm
1. Di chuyển lao động quốc tế
Di chuyển lao động quốc tế về cơ bản là sự phản ứng trước những thay đổi về phân bổ
nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, trật tự thế giới, sự biến đổi của môi trường, sự phát
triển của kinh tế và công nghệ Con người di chuyển từ nơi này đến nơi khác nhằm tận
dụng lợi thế về điều kiện khí hậu, nguồn tài nguyên thiên nhiên để có được nguồn thu
nhập cao hơn, có nhiều việc làm hơn hoặc để thoát khỏi sự phân biệt đối xử.
2. Xuất khẩu lao động
Xuất khẩu lao động là đưa người lao động (bao gồm công nhân kĩ thuật, kĩ sư, chuyên
gia) ra nước ngoài làm việc nhằm tăng thu nhập về ngoại tệ cho đất nước, đồng thời giải
quyết việc làm cho người lao động. Xuất khẩu lao động là một hình thức di chuyển lao
động từ nước có nhân lực dồi dào, chủ yếu là các nước đang phát triển, sang các nước
thiếu lao động, chủ yếu là các nước có nền kinh tế phát triển. Trong thời gian làm việc ở
nước ngoài, người lao động vẫn giữ quốc tịch của nước xuất khẩu.
Tại Việt Nam hiện nay có 5 loại hình xuất khẩu lao động sau:
• Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài
• Doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu đưa người đi làm việc ở nước ngoài
• Tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài đưa lao động đi làm việc
• Doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực
tập nâng cao tay nghề
• Tổ chức sự nghiệp của Nhà nước đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài.
II. Xu hướng xuất nhập khẩu lao động
Từ năm 1960 trở lại đây, có hai xu hướng di chuyển lao động:
Một là di chuyển lao động từ một nước đang phát triển sang nước đang phát triển
khác. Các nước đang phát triển thu hút lực lượng lao động di cư lớn trong khu vực do
mức chênh lệch thu nhập, xu hướng dân số và sự gần gũi về mặt địa lý. Di cư lao động từ
nước có mức tiền lương thấp tới nước có mức tiền lương cao hơn thể hiện sự phân bổ

nền kinh tế phát triển, điều này sẽ giúp rất nhiều ích lợi cho nước xuất khẩu lao động như
giải quyết được việc làm, xóa đói giảm nghèo… Trong xu hướng thứ nhất này, lao động
xuất khẩu thường là lao động không có tay nghề hoặc tay nghề thấp. Còn xu hướng thứ
hai là việc trao đổi nguồn nhân lực giữa các quốc gia phát triển với nhau, đối với các lao
động có tay nghề cao hoặc có thể nói là các chuyên gia trong một lĩnh vực nào đó. Các số
liệu thống kê những năm gần đây cho thấy được xu hướng thứ nhất hiện đang diễn ra
mạnh mẽ hơn xu hướng thứ hai.
Như chúng ta đã biết thì việc xuất khẩu lao động của Việt Nam hiện nay đang ở xu
hướng thứ nhất, mặc dù số lượng lao động xuất khẩu cũng tương đối nhưng hiệu quả đem
lại chưa cao. Năm 2009, Việt Nam đã đưa được gần 75.000 lao động đi làm việc ở nước
ngoài, đạt khoảng 83% kế hoạch. Đài Loan (Trung Quốc) vẫn là một thị trường lớn khi
tiếp nhận tới 21.667 lao động; thị trường Nhật Bản tiếp nhận 5.456 lao động và người học
nghề, Hàn Quốc tiếp nhận 7.578 lao động… Trong khi Malaysia có dấu hiệu sụt giảm thì
thật bất ngờ, thị trường Lào lại là "điểm đến" của hơn 9.000 lao động Việt Nam.
Mỗi năm có hơn 1 triệu người được bổ sung vào lực lượng lao động, phần lớn chưa
qua đào tạo, chính vì vậy Việt Nam chấp nhận xu hướng xuất khẩu lao động đi làm việc
giản đơn, không qua đào tạo hoặc đào tạo ít. Tuy nhiên đánh giá chung cho thấy, các
nước nhập khẩu lao động truyền thống đang đổi mới đầu tư và hiện đại hóa, công nghệ
sản xuất, chuyển dịch đầu tư sang nước có giá nhân công và dịch vụ thấp, có nhu cầu tiếp
nhận lao động nước ngoài có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, tăng dần tỷ trọng lao
động chất xám trong tổng số lao động nhập cư. Vì thế, mặc dù Việt Nam có kinh nghiệm
xuất khẩu song đòi hỏi tăng tỷ lệ lao động có nghề, đặc biệt là lao động có trình độ cao,
đi làm việc ở nước ngoài vẫn là bài toán khó giải.
III. Ảnh hưởng phúc lợi của di chuyển lao động quốc tế
Di chuyển lao động ngoài những phúc lợi về lao động cơ bản thì họ còn được hưởng
những phúc lợi đặc biệt do là người nước ngoài lao động trên đất khách quê người.
Khi lao động ra nước ngoài làm việc với thu nhập cao hơn làm việc trong nước.
Người lao động gửi khoản tiền đó về gia đình làm khoản tiết kiệm. Khoản tiền người lao
động gửi về nhà được chia là hai phần: một phần gia đình chi tiêu vào việc nâng cao mức
sống, chăm sóc sức khỏe của gia đình đặc biệt là chi tiêu cho việc học tập của con cái góp

giải quyết hết sự mất cân bằng này, đòi hỏi phải có sự trao đổi lao động với các quốc gia
khác. Hành vi trao đổi này dẫn đến sự ra đời và phát triển của xuất khẩu lao động.
Thứ ba, do có sự chênh lệch giá cả sức lao động trong nước và sức lao động nước
ngoài. Nhiều nước mặc dù không dư thừa lao động cũng tiến hành xuất khẩu lao động vì
có lợi cho cán cân thanh toán do họ có được những hợp đồng xuất khẩu lao động có giá
cao và bù lại họ nhập khẩu lao động tự những nước có giá cả thấp hơn. Điều này lý giải
vì sao có những nước vừa nhập khẩu lại vừa xuất khẩu lao động như : Cuba, Malaysia,
Bungari
Thứ tư, do có sự chênh lệch về mức thu nhập và mức sống giữa người lao động trong
nước và người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Vì lý do này mà nhiều người dù không
thuộc đội quân thất nghiệp nhưng vẫn muốn đi xuất khẩu lao động để tăng thêm thu nhập,
cải thiện đời sống bản thân và gia đình.
Thứ năm, do xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế, lực lượng sản xuất phát triển,
nền sản xuất lớn không thể bó hẹp trong phạm vi biên giới quốc gia mà mở rộng ra nhiều
nước, việc sử dụng lao động mang tính quốc tế. Hơn nữa, việc tăng cường xuất khẩu
công nghệ, bao thầu công trình quốc tế sẽ tất yếu kèm theo việc phát triển xuất khẩu lao
động
V. Các tác động của di chuyển lao động quốc tế đến tình hình kinh tế - xã hội
1. Tác động tích cực
• Di chuyển lao động ra nước ngoài tạo điều kiện để Việt Nam toàn dụng nguồn
nhân lực làm tăng thu nhập quốc gia (GNI).
Di chuyển lao động ra nước ngoài sẽ mở ra cơ hội sử dụng số lao động thất nghiệp
vào việc sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ tại nước khác, mang lại thu nhập cho người
lao động. Đồng thời, góp phần gia tăng thu nhập quốc gia (GNI),
• Làm tăng chi tiêu của gia đình và tiết kiệm làm tăng đầu tư tư nhân trong dài
hạn.
Thông thường, người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài có thu nhập ròng cao
hơn làm việc trong nước khoảng 3 lần. Nhờ có thu nhập ròng cao, người lao động gửi
khoản tiền đó về gia đình làm khoản tiết kiệm. Theo Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội, bình quân hàng năm, mỗi lao động tiết kiệm được xấp xỉ 4.000 USD. Nếu

ngoại ngữ cơ bản, nếu được làm việc trong môi trường công nghiệp hiện đại, kỹ thuật
và công nghệ tiên tiến, thì trình độ tay nghề và kỹ năng nghề nghiệp ngày càng được
nâng cao. Dưới tác động của kỹ thuật, quá trình lao động, đồng thời cũng chính là quá
trình người lao động tự đào tạo. Sau một thời gian làm việc ở nước ngoài, trình độ tay
nghề, ý thức kỷ luật, phong cách làm việc hiện đại và trình độ ngoại ngữ được nâng
cao vượt bậc.
Thực tế cho thấy, một số lượng lớn lao động là nông dân, sau khi đi làm việc ở
nước ngoài về nước, họ trở thành người công nhân hiện đại. Đa số người lao động đi
làm việc tại Liên Xô, Đông Âu trước đây và Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan… sau này
đang là những người lao động có trình độ cao trong các nhà máy, xí nghiệp.
• Góp phần đưa nhanh các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất, thúc
đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo nguyên lý “3I”(Imitation - Bắt
chước, Initiative - Cải tiến, - Innovation - Sáng tạo).
Trong quá trình làm việc, người lao động trực tiếp sử dụng sử dụng kỹ thuật và
công nghệ hiện đại, để sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ. Theo quy luật nhận thức,
người lao động từ bắt chước để làm theo, sau đó là cải tiến và cuối cùng là sáng tạo.
Kinh nghiệm Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Israel cho thấy, những người lao động đi
làm việc ở nước ngoài, sau khi về nước, họ mang những tri thức đã tích luỹ được áp
dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh của họ. Chính lực lượng lao động này đã góp
phần thúc đẩy nhanh quá trình đưa công nghệ mới vào sản xuất, kinh doanh và quản
lý. Điều này góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng sử dụng khoa học và
công nghệ tiên tiến.
• Góp phần tăng cường đầu tư và mở rộng thị trường hàng hoá, dịch vụ của Việt
Nam trên thị trường thế giới.
Khi là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), doanh nghiệp Việt
Nam có cơ hội to lớn trong việc đầu tư, xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ sang các nước
thành viên. Theo đó, việc di chuyển lao động theo các quy định của WTO được thực
hiện dàng. Tự do di chuyển lao động Việt Nam sang các nước thành viên là điều kiện
quan trọng giúp các nhà đầu tư lựa chọn phương án sử dụng lao động tối ưu cho hoạt
động sản xuất kinh doanh. Mặt khác, người lao động Việt Nam ra làm việc ở nước

không biết vận dụng luật pháp nước sở tại để tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình.
VI.Tình hình xuất khẩu lao động hiện nay ở Việt Nam
Chính sự phân bố không đồng đều về dân cư, về điều kiện tự nhiên (tài nguyên, khí
hậu) và sự bùng nổ dân số trên thế giới đã hình thành luồng di cư lao động ở những nước
kinh tế chậm phát triển di cư đến những nước có đời sống kinh tế khá hơn, lao động ở
nước nghèo tài nguyên di chuyển đến những nước có điều kiện thiên nhiên thuận lợi, dân
cư ở nước có mật độ cao di chuyển đến những nước có mật độ dan cư thấp. Như vậy việc
di chuyển lao động trước hết là một hiện tương khách quan trong quá trình làm việc của
bản thân người lao động.
Ngoài ra, xuất khẩu lao động còn bị chi phối bởi các yếu tố chủ quan khác như : chính
sách của quốc gia, ý chí của nhà nước, của các tổ chức cung ứng và tiếp nhận lao động
Cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990, các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu
tiếp nhận lao động của ta đều xảy ra những biến động chính trị lớn, dẫn đến sự thay đổi
về thể chế chính trị và cơ chế kinh tế; ở nhiều nước Châu Phi có chuyên gia ta làm việc
cũng có khủng hoảng kinh tế, chính trị; ở Irăc xảy ra chiến tranh. Vì vậy, phần lớn các
nước này không còn nhu cầu nhận tiếp lao động và chuyên gia Việt Nam, hoặc nếu có
nhu cầu thì cũng không nhận lao động và chuyên gia theo cơ chế như trước đây nữa.
Đồng thời, cơ chế quản lý kinh tế cua nước ta thời kỳ này đang từng bước đổi mới
chuyển dần sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Trước tình hình đó,
nếu chúng ta không đổi mới cơ chế xuất khẩu thì sẽ không đưa được lao động sang làm
việc tại các khu vực mới, trong lúc ở khu vực truyền thống ta có nguy cơ phải đưa về
nước hàng loạt lao động và chuyên gia khi vẫn chưa chuẩn bị được các điều kiện tiếp
nhận và bố trí việc làm, gây khó khăn và mất ổn định cho tình hình trong nước. Thực tiến
khách quan và chủ quan đặt ra yêu cầu bức bách là phải đổi mới cơ chế xuất khẩu lao
động và chuyên gia cho phù hợp với bối cảnh trong nước và quốc tế.
Một cơ chế mới về hoạt động xuất khẩu lao động và chuyên gia được hình thành,
trong đó phân định rõ chức năng quản lý nhà nước và chức năng kinh doanh dịch vụ xuất
khẩu lao động. Nhà nước thống nhất quản lý xuất khẩu lao động bằng các chính sách và
quy định pháp lý. Các tổ chức kinh tế thực hiện hoạt động kinh doanh dịch vụ xuất khẩu

1994 9.230
1995 10.050
1996 12.660
1997 18.470
1998 12.240
1999 21.810
2000 31.500
2001 37.000
2002 46.122
06/2003 43.000
Tổng số 247.880
(Nguồn : Số liệu lưu trữ của Cục quản lý lao động với nước ngoài )
Thời kỳ này, số lượng người đi xuất khẩu lao động tăng mạnh qua từng năm cho thấy
sự đi lên về chất lượng cũng như nhận thức của người lao động, sự cố gắng của Nhà nước
cùng với sự vươn lên của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động. Hiện có gần 200 doanh
nghiệp đã được Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cấp giấy phép hoạt động xuất
khẩu lao động và đa phần các doanh nghiệp này hoạt động khá hiệu quả. Các doanh
nghiệp lớn như : VINACONEX, LOD, VIETRACIMEX, SIMCO, SOVILACO bình
quân hàng năm đưa được 1000 – 2000 lao động ra nước ngoài làm việc. Ngành nghề xuất
khẩu lao động cũng rất đa dạng, có đến trên 30 ngành nghề thuộc nhiều lĩnh vực khác
nhau như : xây dựng, cơ khí, giúp việc gia đình và khán hộ công, điện tử, dệt may, chế
biến thuỷ sản, dịch vụ, vận tải biển, đánh bắt chế biến hải sản, chuyên gia y tế, giáo dục,
nông nghiệp, tin học v.v Số lao động nữ hiện nay chiếm khoảng hơn 25%, tập trung
chiếm ưu thế ở các lĩnh vực : dệt, may (69%), điện tử (80%), chăm sóc người bệnh và
giúp việc gia đình (94%). Xuất khẩu lao động của Việt Nam đang không ngừng vươn lên
ngang tầm các nước có truyền thống xuất khẩu lao động ở Châu Á như Philippines,
Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Bangladesh Tuy nhiên, cần nhận thấy đây vẫn chỉ là
những bước đi khởi đầu để tạo đà cho các doanh nghiệp xuất khẩu lao động Việt Nam
tiếp tục phấn đấu, mở rộng thêm thị trường lao động và tăng số lượng cũng như chất
lượng lao động xuất khẩu trong thời gian tới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status