Tiểu luận: Hoạt động mua bán nợ trong quá trình xử lý nợ có vấn đề tại Việt Nam hiện nay - Pdf 13

1

Tiểu luận Hoạt động mua bán nợ trong quá trình xử lý
nợ có vấn đề tại Việt Nam hiện nay
2

MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 3
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
1.1. Khái niệm 4
1.2. Bản chất 4
1.3. C ác chủ thể tham gia: 5
1.4. Phạm vi và nguyên tắc hoạt động mua, bán nợ 5
1.5. Nghiệp vụ mua bán nợ 6
II.HOẠT ĐỘNG MUA BÁN NỢ TẠI VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 7
2.1. C ác loại hình công ty m ua bán nợ và khai thác tài sản ở Việt Nam hiện nay: 8
2.2. Nguyên nhân của sự kém hiệu quả trong hoạt động của các công ty mua bán nợ
hiện nay. 13

sự yếu kém của hệ thống NHTM sẽ có tác dụng tiêu cực tới các lĩnh vực khác trong nền
kinh tế trong thời gian tới, nhất là khi nước ta đang trong lộ trình hội nhập quốc tế.
Hiện nay các ngân hàng đều có bộ phận xử lý rủi ro riêng tại các chi nhánh. Tuy
nhiên hoạt động xử lý nợ hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế. Một giải pháp tích cực mang
lại hiệu quả cao là thành lập các Công ty Mua bán nợ đã được các quốc gia trên thế giới
áp dụng rất thành công. Tuy nhiên, ở Việt N am sau một thời gian hoạt động cho thấy
hoạt động Mua bán nợ, xử lý các khoản nợ có vấn đề của các Công ty M ua bán nợ chưa
đạt hiệu quả mong muốn. Chính vì vậy, nhóm chọn đề tài “ Hoạt động mua bán nợ trong
quá trình xử lý nợ có vấn đề tại Việt Nam hiện nay”. Mục đích cuối cùng của đề tài thông
qua quá trình phân tích thực trạng hoạt động mua bán nợ ở Việt Nam hiện nay, lý giải
những nguyên nhân và từ đó, đề xuất những giải pháp đẩy mạnh hoạt động mua bán nợ
một cách có hiệu quả, góp phần làm cho bức tranh tài chính của nền kinh tế Việt Nam trở
nên sáng sủa hơn.
4

I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Một trong những hoạt động chính để xử lý các khoản nợ có vấn đề của mô hình tập
trung nói chung là mua bán các khoản nợ, vì vậy dù tồn tại dưới hình thức nào đi nữa với


quyền đòi nợ và các quy ền liên quan của mình cho công ty mua bán nợ. Như vậy, bản
chất của hoạt động mua bán nợ chính là mua quyền đòi nợ từ N gân hàng, sau đó xử lý
bằng các nghiệp vụ chuyên môn, và tiến hành kinh doanh thu lợi nhuận trên khoản nợ đó.
1.3. Các chủ thể tham gia:
Bên bán nợ là các Tổ chức tín dụng thành lập và hoạt động theo Luật Các tổ chức
tín dụng, tổ chức có nhiệm vụ t hực hiện việc mua, bán nợ trực thuộc tổ chức tín dụng, tổ
chức tín dụng nước ngoài sở hữu khoản nợ và bên mua nợ là các tổ chức và cá nhân trong
nước và nước ngoài có nhu cầu mua khoản nợ từ bên bán nợ, để trở thành chủ sở hữu
mới của khoản nợ.
Bên mua nợ là các tổ chức và cá nhân trong nước và nước ngoài có nhu cầu mua
khoản nợ từ bên bán nợ, để trở thành chủ sở hữu mới của khoản nợ.
Bên môi giới là các tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng làm chức năng trung gian, dàn
xếp việc mua, bán nợ giữa các bên mua, bán nợ và được hưởng phí dịch vụ môi giới theo
thỏa thuận.
Bên nợ là các tổ chức, cá nhân vay nợ tổ chức tín dụng.
1.4. Phạm vi và nguyên tắc hoạt động mua, bán nợ
a. Phạm vi mua, bán nợ
Các khoản nợ được mua, bán bao gồm:
- Các khoản nợ mà tổ chức tín dụng cho khách hàng vay (kể cả khoản nợ cho vay
đối với các tổ chức tín dụng khác) đang hạch toán nội bảng.
- Các khoản nợ đã được tổ chức tín dụng xử lý bằng dự phòng rủi ro hoặc bằng
nguồn vốn khác hiện đang được hạch toán theo dõi ngoại bảng.
Một khoản nợ có thể được mua, bán một phần hay toàn bộ do các bên mua, bán nợ
thỏa thuận.
Các bên không thực hiện mua, bán đối với các khoản nợ đã có thỏa thuận không
được mua, bán.
b. Nguyên tắc thực hiện mua, bán nợ
Đảm bảo an toàn hoạt động của tổ chức tín dụng, phù hợp với quy định của pháp
luật Việt Nam và thông lệ quốc tế. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa

tài chính các ngân hàng. Các nghiệp vụ mua bán nợ thông qua ba giai đoạn sau:
Nghiệp vụ mua nợ:
- Hàng hóa của các công ty mua bán nợ chủ yếu là các khoản nợ có vấn đề của các
NHTM và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp bao gồm cả tài sản và quyền sử dụng đất
được sử dụng để bảo đảm cho các khoản nợ. Tiếp nhận để xử lý các khoản nợ và tài sản
7

đã loại trừ không tính vào giá trị doanh nghiệp khi thực hiện chuyển đổi sở hữu doanh
nghiệp nhà nước.
- Định giá khoản nợ: dựa trên sự điều tra, phân loại nợ, từ đó xác định mức gia mua
hợp lý bằng các hình thức: thỏa thuận trực tiếp, đấu thầu, đấu giá hoặc theo chỉ định của
Thủ tướng Chính phủ.
Nghiệp vụ xử lý:
Xử lý các khoản nợ đã mua bằng nhiều cách:
- Đối với những khoản nợ có nguy cơ phá sản, hoạt động kinh doanh quá yếu kém
không còn khả năng phục hồi thì đề nghị cho phá sản, thanh lý tài sản.
- Đối với những khoản nợ có khả năng phục hồi tình hình kinh doanh trong tương
lai đang gặp khó khăn nhất thời thì có thể can thiệp điều hành vào hoạt động, tư
vấn cho doanh nghiệp.
- Đối với những khoản nợ gặp khó khăn nhất thời về tài chính nhưng có tiềm năng
phát triển, công ty có thể chuyển nợ thành vốn góp, đầu tư thêm vốn vào doanh
nghiệp.
Xử lý tài sản đã mua, tiếp nhận: Bảo quản, sửa chữa, nâng cấp tài sản để bán, cho
thuê, đầu tư, tổ chức sản xuất kinh doanh, liên doanh khai thác tài sản.
Nghiệp vụ bán nợ:
Sau khi tổ chức xử lý, khai thác, công ty mua bán nợ sẽ thu hồi vốn và lợi nhuận
bằng cách bán ra các khoản nợ và tài sản bằng các hình thức như thỏa thuận trực tiếp, đấu
thầu, đấu giá hay bán qua thị trường chứng khoán.
Ngoài ra, còn thực hiện các nghiệp vụ như: Tư vấn, môi giới xử lý nợ và tài sản tồn
đọng. Huy động vốn bằng hình thức phát hành trái phiếu mua nợ để mua một khoản nợ

và của các công ty quản lý nợ và khai thác tài sản khác.
Ngân hàng Công thương Việt Nam là một trong những ngân hàng đầu tiên thành
lập công ty quản lý nợ và khai thác tài sản thế chấp ngay sau khi Quyết định
149/2001/QĐ-TTg ra đời. Về thực chất, công ty này chỉ là một phòng tổ chức được thành
lập với mục tiêu giải quy ết vụ án Công ty Minh Phụng – Epco với tổng giá trị tài sản trên
1.270 tỷ đồng thông qua việc bán, khai thác, cho thuê tài sản để thu hồi nợ. Sau bốn Ngân
hàng thương mại nhà nước (Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Ngoại
thương Việt Nam, N gân hàng Công thương, Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển
Nông Thôn Việt Nam), nhiều ngân hàng khác cũng thành lập công ty quản lý nợ và khai
thác tài sản thế chấp nhằm thu hồi nợ vay, giảm rủi ro tín dụng. Như NHTM Cổ phần Á
Châu, Sài Gòn Thương Tín, NHTM Cổ phần Quân Đội, N gân hàng Bưu Điện Liên
Việt… cũng đã thành lập công ty quản lý nợ và khai thác tài sản, để chuyên lo xử lý nợ
xấu của ngân hàng. Hoạt động của những công ty này đã góp phần giải quyết một phần
9

nợ tồn đọng, nhưng nhìn chung, việc triển khai hoạt động của các công ty này còn gặp
nhiều khó khăn và tốc độ xử lý nợ còn chậm, chưa đạt kế hoạch đăt ra. Tuy gọi là công ty
mua bán nợ, nhưng hoạt động của các công ty này, chưa thể gọi là “mua” và “bán”. Thực
tế các công ty theo sự ủy thác của các NHTM và các tổ chức tín dụng thực hiện tiếp nhận,
quản lý các khoản nợ của NHTM hoặc tiếp nhận tài sản thế chấp của NHTM và của các
TCTD khác để cải tạo nâng cấp, sữa chữa để khai thác, bán, cho thuê.
Như vậy, hoạt động chủ yếu của các công ty quản lý và khai thác tài sản thuộc các
NHTM hiện nay chủ yếu là tiếp nhận các khoản nợ xấu để làm sạch bảng cân đối kế toán
của ngân hàng mẹ. Hoạt động chủ yếu là bán tài sản hoặc khai thác tài sản từ các khoản
nợ để tận thu giá trị tài sản thế chấp của các khoản nợ, hạn chế tổn thất. Phần lớn các
công ty quản lý và khai thác tài sản trực thuộc các NHTM hiện nay hoạt động chưa theo
tín hiệu thị trường, chỉ tập trung vào xử lý các khoản nợ thuộc nhóm nợ xấu hiện không
có chủ nợ và không có tài sản đảm bảo bằng việc thực hiện giải pháp xóa nợ.
Công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng thuộc Bộ Tài Chính (DATC)
Công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng thuộc Bộ Tài Chính (DATC) được thành

Chính phủ và 112 phương án theo phương thức thỏa thuận để tái cơ cấu doanh nghiệp và
thu hồi nợ. Giá trị sổ sách của các khoản nợ là 7.427,9 tỷ đồng, đã xử lý thu hồi được
2.323,6 tỷ đồng (bao gồm cả chuyển nợ thành vốn góp cổ phần là 453,9 tỷ đồng), tỷ lệ
thu hồi đạt 99,4 % giá vốn.
Trong hoạt động mua nợ, xử lý thu hồi nợ thông qua tái cơ cấu doanh nghiệp, năm
2011, Công ty đã xử lý tài chính, tái cơ cấu thành công được 12 doanh nghiệp khách nợ,
trong đó có 10 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và 2 Công ty cổ phần được cổ phần hóa
từ DNNN. Lũy kế từ năm 2007 đến 31/12/2011, DATC đã mua nợ để tái cơ cấu cho 72
doanh nghiệp khách nợ, gồm 44 doanh nghiệp đã hoàn thành và 28 doanh nghiệp đang
triển khai, với giá trị các khoản nợ theo sổ sách là 6.256,1 tỷ đồng, giá vốn mua nợ là
1.640,3 tỷ đồng (tỷ lệ mua nợ bình quân là 26,2%), đã thu hồi được 1.486,4 tỷ đồng, tỷ lệ
thu hồi đạt 90,6%. Hầu hết các doanh nghiệp được DATC triển khai tái cơ cấu, chuyển
đổi sở hữu đều đã có nhiều chuyển biến tích cực trong hoạt động sản xuất - kinh doanh.
Một số DN được DATC mua nợ, xử lý tài chính, tái cơ cấu thông qua chuy ển nợ thành
vốn góp đã phát triển tốt, kinh doanh có hiệu quả, các chỉ tiêu doanh thu, cổ tức, lợi
nhuận, nộp ngân sách nhà nước, thu nhập bình quân của người lao động năm sau cao hơn
năm trước. Nhiều doanh nghiệp có lãi và đã thực hiện chi trả cổ tức cho cổ đông, một số
DN đã chia cổ tức ở mức cao như CTCP đường Kon Tum 60%, CTCP Sadico Cần Thơ
30%, CTCP M ía đường Sơn La 20%, đồng thời góp phần giải quyết được việc nợ đọng
thuế từ nhiều năm của Nhà nước và nợ đọng bảo hiểm xã hội.
11

Trong công tác tiếp nhận, xử lý tài sản và thu hồi nợ tồn đọng đã loại trừ ra khỏi
giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hóa DNNN, Công ty đã ký biên bản bàn giao, tiếp nhận
nợ và tài sản loại trừ khỏi giá trị doanh nghiệp của 21 doanh nghiệp, với tổng giá trị tiếp
nhận là 69,2 tỷ đồng trong đó tài sản là 28,1 tỷ đồng, nợ là 41,1 tỷ đồng. Lũy kế từ năm
2004 đến 31/12/2011, DATC đã ký biên bản bàn giao, tiếp nhận nợ và tài sản loại trừ
khỏi giá trị doanh nghiệp của 2.345 doanh nghiệp, với tổng giá trị tiếp nhận là 3.271 tỷ
đồng. Công ty đã phối hợp với các cơ quan thẩm định giá và đấu giá tài sản tiến hành xử
lý tài sản và tích cực thu hồi nợ tồn đọng loại trừ đã tiếp nhận của 66 doanh nghiệp, giá

sinh hoạt và kinh doanh xuất nhập khẩu nông sản hàng hóa cung ứng cho các nhà sản
xuất. Công ty chủ trương sẽ mua thanh lý các loại hình công ty, dùng khả năng tài chính
và quản trị để phục hồi sản xuất và kinh doanh đơn vị được mua, khai thác các tiềm năng
về đất đai, vị trí, thương hiệu. Sau đó chuy ển thành công ty cổ phần và đưa lên sàn chứng
khoán. DONACORP hoạt động có hiệu quả kể từ khi t hành lập, luôn chú trọng vào đầu
tư và nắm quyền chủ động kiểm soát cơ sở kinh doanh của con nợ, sử dụng hiệu quả cơ
sở vật chất và các thế mạnh của con nợ, dưới sự điều hành quản lý của những nhà quản
trị trẻ, có năng lực cao để có thể tối đa hóa giá trị thị trường của doanh nghiệp.
Thương vụ ồn ào nhất năm 2006 là việc Công ty Cổ phần doanh nghiệp Trẻ Đông
Nai (DONACORP) mua lại Công ty Cheerfield Vina với giá chỉ… 1USD. Trước đó,
Cheerfield Vina đã rao bán qua nhiều kênh và có gần 10 nhà đầu tư quan tâm vì cái giá rẻ
bất ngờ - 1USD. Tuy nhiên, sau đó các doanh nghiệp nhận ra rằng đằng sau giá bán 1
USD là một khoản nợ khổng lồ lên đến 34 tỷ đồng mà Cheerfield đang gánh. M ua lại
Cheerfield cũng đồng nghĩa với việc phải nhận khoản nợ nói trên và gánh luôn những rủi
ro trong quá trình kinh doanh của công ty này. Với vốn điều lệ 2 triệu USD, chuyên sản
xuất khuôn mẫu đế giày, đầu tư thực tế của công ty này đến thời điểm bán đã là 3,6 triệu
USD, nhưng sau 3 năm hoạt động, do những sai lầm trong quản lý và thiếu chiến lược
kinh doanh, Cheerfield đã mất khả năng thanh toán các khoản nợ. Tâm lý của các doanh
nghiệp rơi vào tình thế này là chấp nhận thua lỗ, đẩy “của nợ” đi để đầu tư vào việc khác.
Tất nhiên, họ không muốn mang tiếng là nhà doanh nghiệp phá sản bởi vì sau đó làm ăn
với đối tác sẽ khó khăn, hơn nữa chủ doanh nghiệp tránh được những rắc rối pháp lý cho
những kế hoạch làm ăn về sau… nên cách giải quyết “thượng sách” của Cheerfield là bán
trao tay.
Sau một thời gian ngắn tìm hiểu, DONACORP mạnh dạn ký hợp đồng mua
Cheerfield. Sau khi đã nghiên cứu kỹ khả năng phục hồi của Cheerfield và quy ết tâm
khôi phục lại công ty. Ngoài việc lo hoàn tất thủ tục để đưa Cheerfield đi vào hoạt động
trở lại, DONACORP cũng có tham vọng săn lùng các công ty “cùng đường” để kiếm lợi
với quan niệm khá rõ ràng: đó là một trong những cách làm ăn của DONACORP, cũng là
13


Việc khai thác và xử lý tài sản đảm bảo gắn liền với các khoản nợ tồn đọng, đặc biệt
là bất động sản và đất đai, gặp rất nhiều khó khăn do môi trường pháp lý ở nước ta về
14

lĩnh vực này còn nhiều bất cập. Hiện nay t ất cả các công ty quản lý nợ thuộc các NHTM
đều không được coi là doanh nghiệp bán đấu giá tài sản chuyên nghiệp vì vậy mà phòng
công chứng không đồng ý chứng kiến, chứng thực cuộc bán đấu giá tài sản.
Mặt khác ở Việt Nam, mối quan hệ mua bán nợ giữa DATC với các tổ chức tín
dụng, giữa DATC với tổ chức kinh tế và cá nhân hiện chưa được điều chỉnh, hầu hết
thiếu quy định pháp, thậm chí chồng chéo và mâu thuẫn. Các Quy định áp dụng cho
DATC hầu như không tạo quyền ưu tiên đặc biệt trong việc tiếp cận và khai thác thông
tin đánh giá khoản nợ nên đã gây ra không ít khó khăn trong việc mua và xử lý nợ. Chính
vì thế mà DATC xử lý nợ mang nặng tính thủ tục, chưa có “hơi thở” thị trường. Trong
quá trình xử lý nợ, có trường hợp ngân hàng đã mời DATC cùng giải quyết một món nợ,
sau khi xem xong, DATC yêu cầu làm một công văn đề nghị bán nợ. Do chưa có hệ
thống thẩm định nợ xấu nên sau đó, chi nhánh nhận được giá chào mua rất thấp chi
khoảng 20% giá món nợ đó và ngân hàng lại rất băn khoăn không biết sẽ bán nợ cho
DATC theo tỷ lệ nào.
b. Về phía cơ quan quản lý của nhà nước:
Trong tiến trình xử lý nợ tồn đọng để thúc đẩy cổ phần hóa và hội nhập kinh tế quốc
tế, các công ty mua bán nợ gặp phải khá nhiều khó khăn về cơ chế quản lý, các văn bản
hướng dẫn liên quan đến xử lý nợ còn chưa cụ thể, chồng chéo do đó chưa chủ động xử
lý được tài sản đảm bảo của con nợ. Các vướng mắc về cơ chế như:
Công ty quản lý và khai thác tài sản trực thuộc các NHTM chỉ thể được thành lập
dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, hoạt đồng theo luật doanh
nghiệp, có vốn điều lệ do ngân hàng mẹ cấp. Hiện nay vốn tự có của các NHTM rất nhỏ
bé, vì vậy vốn điều lệ cấp cho công ty cũng rất hạn chế, trong khi công ty lại không được
quyền huy động vốn như ngân hàng thương mại.
Hiện chưa có văn bản cụ thể về việc ngân hàng trực tiếp quản lý, khôi phục hoạt
động của doanh nghiệp để kinh doanh hoặc bán. Thực t ế, các cơ quản chủ quản DNNN

lời cao, hoàn toàn có thể thanh toán cho các khoản nợ cũ nhưng vẫn che dấu thu nhập và
không thanh toán nợ cũ. Đối với các công ty mua bán nợ, việc phát hiện những tình trạng
như vậy rất khó khăn, do việc quản lý của Nhà nước đối với hoạt động đăng ký kinh
doanh ở các địa phương khác nhau còn chưa đồng bộ, t hông tin chưa thông suốt.
Ngoài ra, hoạt động mua bán nợ ở Việt Nam chưa được sự hậu thuẫn lớn của Chính
phủ. Chẳng hạn ở Thái Lan, Nhà nước giảm 3% thuế doanh thu để các công ty mua bán
nợ xử lý xấu. Thậm chí một số nước còn có nguồn ngân quỹ riêng cho hoạt đồng này,
xây dựng cơ chế tạo quy ền lực đối với công ty tham gia xử lý nợ như xử lý tài sản không
cần thông qua toà án. Ở Việt Nam, các biện pháp xử lý nợ vẫn chỉ áp dụng cách truyền
thống như chiết khấu nợ, tài cơ cấu, xử lý tài sản… Chính những hình thức này kết hợp
16

với thủ tục hành chính rườm rà, tính lịch sử của các khoản nợ đã dấn đến hiệu quả xử lý
thấp. Hoạt động mua bán nợ ở Việt Nam vẫn chưa tiếp cận với phương pháp hiện đại như
chuyển nợ thành vốn góp, chứng khoán hóa khoản nợ hoặc bán đấu giá theo mớ cho nhà
đầu tư.
c. Về thị trường:
Ngân hàng là một chủ thế có vai trò quan trọng trên thị trường mua bán của nền
kinh tế, đây là nguồn cung hàng hóa rất lớn cho thị trường. Tuy nhiên, thực tế cho thấy
các khoản nợ tại các ngân hàng thương mại, đặc biệt là các NHTM Nhà nước là một bức
tranh còn rất ảm đạm.
Theo NHNN, tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng thương mại đã t ăng mạnh so với cùng
kỳ năm trước. Nợ xấu chung của hệ thống ngân hàng ở mức 3,3% tổng dư nợ, cao hơn so
với mức 2,14% vào cuối năm 2010. Tuy nhiên, theo các chuyên gia ngân hàng con số này
chưa phản ánh đúng thực tế do chênh lệch lớn với số nợ đọng của các công ty.
Như vậy, thực chất nợ xấu tại các ngân hàng đang cao hơn các con số được chính
thức công bố, nhưng việc cố tình che giấu nợ xấu như hiện nay sẽ gây rất nhiều rủi ro cho
hoạt động của công ty mua bán nợ của chính ngân hàng, của DATC cũng như của cả nền
kinh tế nói chung. Với tình hình như hiện nay, các công ty mua bán nợ rất khó đánh giá
chính xác chất lượng của các khoản nợ. Các khoản nợ xấu không được phát hiện và xử lý

này. Có những món nợ công ty mua bán nợ chỉ trả giá thấp dưới 30% giá trị khoản
nợ. Nghĩa là trước đây, ngân hàng bỏ vốn ra cho vay 10 tỷ đồng, nay bán đi thu về
chỉ được từ 2-3 tỷ đồng. Nếu như bán khoản nợ này thì sẽ bị lỗ, ngân hàng khó
chấp nhận.
 Hai là, về phía Công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp, do công
ty thực hiện theo cơ chế bảo toàn vốn nên không thể mua hết những khoản nợ tồn
đọng khó đòi. Không có vật tư làm đảm bảo của các ngân hàng thương m ại mà
công ty mua một phần nào để góp phần tái cơ cấu doanh nghiệp. Hơn nữa, mục
tiêu giải quyết các khoản nợ tồn đọng là góp phần tái cơ cấu doanh nghiệp, phục
hồi những khó khăn, yếu kém của những doanh nghiệp đang thua lỗ.
Vì vậy, quá trình mua bán nợ diễn ra không suôn sẻ, giữa bên mua nợ và bên bán nợ
bởi bên mua muốn mua đựoc giá rẻ hơn và bên bán nợ thì muốn bán được giá cao hơn vì
thế nhiều khoản mua bán nợ không đựoc giao dịch.
III. Một số kiến nghị nhằm nâng cao tính hiệu quả của nghiệp vụ mua bán nợ
trong quá trình xử lý nợ có vấn đề:
3.1. Những thuận lợi, khó khăn trong hoạt động mua bán nợ ở Việt nam hiện
nay:
3.1.1. Những thuận lợi:
18

- Thị trường nợ tồn đọng ở Việt Nam đang rất tiềm năng theo số liệu thống kê và
ước tính của các tổ chức quốc tế cho thấy nợ tồn đọng đang tích tụ trong nền kinh tế quy
mô lớn, khoảng vài tỷ đô la M ỹ. Đây là nguồn cung rất quan trọng cho thị trưòng mua
bán nợ.
- Đuợc sự quan t âm của Chính phủ, của Bộ tài chính và các cơ quan chức năng
trong việc chỉ đạo xử lý các khoản nợ tồn đọng, đã tạo điều kiện thuận lợi, hướng dẫn các
văn bản pháp lý để công ty đi vào hoạt động.
- Các công ty mua bán nợ có tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập. Đây là thuận
lợi cơ bản tạo cho công ty có quyền chủ động trực tiếp làm việc với cơ quan hữu quan, từ
đó thúc đẩy nhanh quá trình xử lý nợ và tài sản tồn đọng.

treo nợ trên bảng cân đôi tài sản để không có ảnh hưởng gì đến kết quả kinh doanh nhằm
che giấu việc mất khả năng thanh toán thực tế và không ảnh hưởng đến trách nhiêm của
ban lãnh đạo doanh nghiệp nhất là các khoản nợ và tài sản tồn đọng do ban lãnh đạo
trước để lại.
Ba là, việc thu thập thông tin thị trường phục vụ cho công tác xử lý nợ và tài sản
tồn đọng gặp nhiều khó khăn như việc tiếp xúc và thu thập tình hình hoạt động, tình hình
tài chính của chủ nợ và khách nợ; việc khai thác các thông tin này từ các cơ quan quản lý
nhà nước, cơ quan thuế, tài chính doanh nghiệp thường không đầy đủ, kịp thời gây nhiều
lúng túng, vướng mắc trong khâu định giá các khoản nợ nhất là nợ không có tài sản đảm
bảo. Bên cạnh đó, kỹ năng đánh giá, phân tích tình hình hoạt động, tình hình tài chính và
tính chất các khoản nợ và tài sản tồn đọng để xây dựng phương án xử lý thích hợp của
các bên còn yếu, kém linh hoạt và thiếu tính quyết đoán.
Bốn là, việc chủ động và mạnh dạn trong vấn đề xử lý nợ và tài sản tồn đọng qua
hình thức mua bán nợ và tài sản của doanh nghiệp và các bên có lien quan đều chưa cao
do chưa thực sự có quyền độc lập về tài chính; trong đó việc hiểu biết và vân dụng các cơ
chế chính sách hiên có để sử lý nợ còn rất cứng nhắc; vẫn còn tâm lý trông chờ, ỷ lại vào
việc xử lý khoản nợ thông qua các mệnh lệnh hành chính của cơ quan quản lý Nhà nước
và các phương thức xử cũ không còn thích hợp trước đây như xin miễn, giảm, xóa nợ,
treo nợ kéo dài…v.v, gây nhiều tổn thất và thiệt hại cho Nhà nước, doanh nghiệp và
người lao động.
Năm là, việc thông tin tuyên truyền về hoạt động mua bán nợ và tài sản tồn đọng
của Công ty M ua bán nợ trong thời gian qua còn hạn chế mới chỉ t ập trung nhiều vào
hình thức mua bán chỉ định; việc trao đổi thường xuyên các thông tin về mua bán thỏa
thuận giữa các bên chưa kịp thời, đầy đủ cho nên chưa tạo lập được mối quan hệ đối tác
tin cậy trong sự hợp tác và giải quyết triệt để các khoản nợ và tài sản tồn đọng.
20

3.2. Một số kiến nghị đối với các ngân hàng thương mại và các công ty mua bán
nợ
3.2.1. Đối với các Ngân hàng thương m ại:


mục tiêu lợi nhuận cho DATC, mà nên định hướng để DATC hoạt động như một doanh
nghiệp đặc biệt chuyên thanh lý các khoản nợ, tài sản tồn đọng từ khu vực nhà nước với
mục tiêu ưu tiên là lành mạnh hoá hệ thống tài chính và thúc đẩy cổ phần hoá các DNNN
và NHTM Nhà nước, song trên cơ sở các nguyên tắc của thị trường để tối đa hoá giá trị
thu hồi nhằm giảm thiểu gánh nặng chi phí của Chính phủ. Sau khi đã hoàn thiện nhiệm
vụ này, DATC sẽ thực hiện nghiệp vụ tái cơ cấu và hoạt động theo mục tiêu lợi nhuận.
- Hoạt động mua bán, xử lý nợ cần gắn với chương trình tái cấu trúc nền kinh tế;
cần tiếp tục nghiên cứu bổ sung hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho mô hình xử lý nợ
trong nền kinh tế, trong đó ưu tiên phát triển thị trường mua bán xử lý nợ; tăng cường vai
trò của DATC, mở rộng phạm vi hoạt động mua bán xử lý nợ đúng với tầm vóc của công
ty xử lý nợ quốc gia, trao thẩm quyền cụ thể để tham gia ngăn ngừa và phòng chống
khủng hoảng bên cạnh các thầm quyền mạnh và đầy đủ liên quan đến mua bán xử lý nợ,
đặc biệt xử lý nợ thông qua tái cơ cấu doanh nghiệp; không nên coi những khoản nợ là tài
sản của Nhà nước mà nên coi là hàng hoá, từ đó mới có thể phát triển được hoạt động này.
- Cần có quy định cụ thể, trước hết các NHTM phải tự xử lý nợ tồn đọng bằng chính
nội lực của mình trong thời gian nhất định từ 1-2 năm. Tiếp đó những khoản nợ không tự
xử lý được thì các đơn vị trên phải có trách nhiệm phải bán cho DATC theo giá thị
trường với lộ trình cụ thể. Bên cạnh đó, cần phải mời các t ổ chức định giá các tài sản của
các doanh nghiệp khi chuyển giao cho DATC. Về phía DATC cần chủ động chuẩn hoá
quy trình thu thập thông tin sâu hơn về các khoản nợ, khách nợ. Chuẩn hoá tiêu chí phân
loại, xây dựng cơ sở dữ liệu về nợ tồn đọng áp dụng thống nhất để có thể xây dựng được
phương án xử lý có hiệu quả và khả thi
b. Đối với công ty mua bán nợ trực thuộc các NHTM
- Các Công ty mua bán nợ trực thuộccác NHTM cần có sự thay đổi đáng kể từ
chính mộ hình hoạt động của mình. Các Công ty này nên chuyển sang loại hình công ty
cổ phần, mà trong đó ngân hàng mẹ chiếm cổ phần đa số, mô hình này sẽ có nhiều ưu thế,
trước hết khoản vốn ngân hàng bỏ vào công ty sẽ là khoản vốn đầu tư dài hạn của ngân
hàng dưới dạng góp vốn, do đó hoạt động của Công ty không bị ràng buộc bởi tỷ lệ góp
vốn tốiđa vào doanh nghiệp được áp đặt cho các ngân hàng; thứ hai công ty có thể huy

chủ nợ và nhất là Công ty mua bán nợ các quyền đặc biệt hơn như quyền yêu cầu khách
nợ và các bên có liên quan khác phải cung cấp thông tin về hoạt động, tài chính, nhân sự;
quyền giám sát, phong toả tài khoản và kê biên phát mại tài sảnđảm bảo nếu khách nợ cố
tình không hợp tác thanh toán.
Hiện tại, Nhà nước cần sớm ban hành đồng bộ và hoàn thiện các cơ chế mua bán
một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp; cơ cấu lại tài chính và hoạt động của doanh nghiệp;
23

xử lý tài chính trong quá trình mua bán, cơ cấu, giải thể, phá sản, chuyển đổi sở hữu cả
doanh nghiệp. Nhất là các cơ chế đối với các doanh nghiệp nhà nước trong quá trình sắp
xếp, chuyển đổi sở hữu hiện nay nếu không cổ phần hoá được cần phải giao lại cho Công
ty M ua bán nợ tiến hành tái cơ cấu lại doanh nghiệp thông qua các giải pháp như giao,
bán khoán, cho thuê trước khi thực hiện việc giải thể hoặc phá sản.
Thứ hai, các doanh nghiệp nhà nước và Công ty mua bán nợ cần đẩy mạnh công tác
thông tin, tuyên truyền và học tập nâng cao nhận thực về hoạt động mua bán, xử lý nợ và
tài sản tồnđọng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh; coi việc mua bán, xử lý
nợ và tài sản là một hoạt động tái cơ cấu lại doanh nghiệp để nhằm củng cố năng lực tài
chính trong quá trình hội nhập và phát triển.
Thứ ba, các doanh nghiệp cần có quyền độc lập về tài chính và trong hoạt động,
chịu trách nhiệm và chủ động xử lý các tồn tại về tài chính; phối hợp chặt chẽ với Công
ty mua bán nợ để trao đổi thông tin và cùng xây dựng, thống nhất phương án xử lý
dứtđiểm các khoản nợ và t ài sản tồnđọng trên tinh thần hợp tác cùng phát triển, đảm
bảođúng quy định và hướng dẫn của pháp luật
Thứ tư, trong quá trình mua bán, xử lý nợ và tài sản tồnđọng các bên liên quan cần
kết hợp và sử dụng linh hoạt, đồng bộ các công cụ về cơ chế chính sách, định giá, đấu giá,
tư vấn, hợp tác đầu tư, đa dạng hoá các hoạt động sản xuất nhằm xây dựng thị trường nợ
và tài sản thông qua các giải pháp cụ thể về phát triển t hị trường vốn, t hị trường chứng
khoán hiện hành của nhà nước.
Thứ năm, trong vai trò là một công cụ tài chính thích hợp của Nhà nước về xử lý nợ
tồnđọng của doanh nghiệp, Công ty mua bán nợ cần đẩy mạnh các hoạt động nghiệp vụ
25

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình
1.1 TS. Nguyễn Văn Tiến. (2003). Đánh giá và phòng ngừa rủi ro trong kinh
doanh ngân hàng. Hà Nội: Nhà xuất bản Thống kê.
1.2 Peter S Rose. (1999). Commercail Bank Management. (4
th
ed). USA: Time
Mirrror Higher Education.
2. Tạp chí
2.1 Trần Thanh Long. (2006). Hoạt động mua bán nợ tại Việt Nam hiện nay. Số54.
2.2 Trần Thanh Long. (2006). Phát triển loại hình công ty Mua bán nợ và TBTC ở
Việt Nam. Số 49.
2.3 Nguyễn Trung Kiên. (2007). Chứng khoán hóa các khoản vay. Tạp chí Thị
Trường Tài Chính Tiền Tệ. Số 7.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status