BỘ CÔNG THƯƠNG
TRUNG TÂM THÔNG TIN CÔNG NGHIỆP VÀ THƯƠNG MẠI BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ
“NGHIÊN CỨU NHỮNG YẾU TỐ THỊ TRƯỜNG CƠ BẢN
QUYẾT ĐỊNH CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG
TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY” Mã số : 120.09.RD/HĐ-KHCN
Cơ quan chủ trì : Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại
Cơ quan chủ quản : Bộ Công Thương
Chủ nhiệm đề tài : CN. Đinh Thị Bảo Linh
QUYẾT ĐỊNH CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG
TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY”
Thực hiện theo Hợp đồng số 120.09.RD/HĐ-KHCN giữa Bộ Công Thương và
Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại
Mã số : 120.09.RD/HĐ-KHCN
Cơ quan chủ trì : Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại
Cơ quan chủ quản : Bộ Công Thương
Chủ nhiệm đề tài : CN. Đinh Thị Bảo Linh
Các thành viên tham gia : Ngô Hoàng Thắng
Nguyễn Mỹ Ý
Hoàng Ngọc Oanh
Hoàng Đình Trung
Hà Nội, tháng 12 năm 2009
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Tên biểu đồ Trang
Biểu đồ 1: Tham khảo diễn biến giá phân bón và giá dầu thế giới 14
Biểu đồ 2: Tham khảo giá nhập khẩu phân Urê và DAP 6 tháng đầu năm
2008
16
Biểu đồ 3: So sánh CPI năm 2008 và 2007 18
Biểu đồ 4: Diễn biến CPI của Việt Nam năm 2009 19
Biểu đồ 5: Diễn biến CPI của Trung Quốc từ đầu năm 2008 đến nay 33
Biểu đồ 6: Diễn biến tỷ lệ lạm phát của Thái Lan giai đoạn 1995-2007 40
Biểu đồ 7: Diễn biến CPI của Thái Lan từ tháng 01/2008 đến 06/2009 41
Biểu đồ 8: Chỉ số giá tiêu dùng Malaysia từ tháng 7/08 đến tháng 7/09 47
quốc gia
CSMTLP Chính sách mục tiêu lạm
phát
CSTT Chính sách tiền tệ
NBSC National business statistics of
China
Cơ quan Thống kê quốc
gia Trung Quốc (Còn gọi
là Tổng cục Thống kê
TQ)
PTA Policy Targets Agreement Các thỏa ước mục tiêu
ECB European Central Bank Ngân hàng Trung ương
Châu Âu
HCPI Harmonized consumer price
index
Chỉ số giá tiêu dùng hài
hòa, áp dụng cho khu vực
EU
MCI Monetary Conditions Index Chỉ số điều kiện tiền tệ
IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế
DBSH Đồng Bằng sông Hồng
NHNN Ngân hàng Nhà nước
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là một trong những chỉ số kinh tế quan trọng,
phản ánh mức độ biến động của giá cả hàng hóa tiêu dùng và được coi là cơ sở cho
việc hoạch định các chính sách kinh tế, tài chính và xã hội của nhiều quốc gia.
Trong nhiều trường hợp, chỉ số này là tín hiệu cho các quyết sách của Ngân
hàng Trung ương (NHTW), do đó mang tính chất chỉ
dẫn cho thị trường chứng
khoán và các hoạt động đầu tư khác. CPI cũng có mối quan hệ chặt chẽ với việc
đảm bảo an sinh xã hội, ổn định mức sống cho nhân dân. Chính vì thế mà công tác
dự báo và điều hành Nhà nước về CPI được đặt ra như một yêu cầu quan trọng cho
sự tăng trưởng ổn định của các nền kinh tế. Ở một số nước phát triển, chỉ số
lạm
phát nói chung và CPI nói riêng thậm chí còn được giới hạn trong một ngưỡng an
toàn cần đạt được. Theo đó, các chính sách về tài chính, tiền tệ và tài khóa đều phải
xoay quanh trục đảm bảo mức lạm phát mục tiêu.
Như vậy, trong một nền kinh tế có sự kết hợp giữa bàn tay vô hình của thị
trường và bàn tay hữu hình của Nhà nước, diễn biến CPI bị chi phối bởi yếu tố thị
trường, đồng th
ời các yếu tố này cũng chịu sự tác động của các chính sách điều
hành của Nhà nước. Theo đó, chính sách kiểm soát CPI, điều hành thị trường trong
nước của Nhà nước có hiệu quả hay không tùy thuộc vào khả năng nhận biết, tác
động và điều chỉnh các yếu tố thị trường vốn có theo hướng có lợi cho nền kinh tế.
Các yếu tố này không nhất thiết đồng nhất giữa các nền kinh t
ế mà thay đổi linh
hoạt. Ngay cả đối với một nền kinh tế, các yếu tố này cũng thay đổi theo thời gian,
thậm chí là trong ngắn hạn.
Do sự biến đổi không ngừng của các yếu tố thị trường quyết định đến CPI
khiến công tác dự báo và hoạch định chính sách điều hành giá cả thị trường trong
nước trở nên khá phức tạp và không thể mang lại những kết quả chính xác nếu
không được đầu tư đúng mức.
một cơ sở quan trọ
ng cho việc ra chính sách của các cơ quan Nhà nước. Cục an
ninh xã hội Mỹ thường xem xét CPI để đưa ra mức thu nhập phù hợp cho người
dân, cấu trúc thuế của Cục dự trữ liên bang cũng dựa trên CPI để điều chỉnh mức
thuế cho phù hợp.
Đối với các nước đang phát triển, hệ thống theo dõi, phân tích, nghiên cứu và
dự báo về CPI chưa được hoàn thiện như tại các nước phát triển. Tuy nhiên, trong
những nă
m gần đây vấn đề này đã được quan tâm và đầu tư hơn. Một trong những
nghiên cứu sát với hoàn cảnh thực tiễn của các nước đang phát triển và có nhiều
điểm tương đồng với Việt Nam là nghiên cứu của Lougani và Swagel (2001). Hai
tác giả đã tiến hành nghiên cứu về lạm phát tại 53 nước đang phát triển và các nhân
tố tác động tới lạm phát tại các nước này. Nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ
giữa chế độ tỷ giá hối đoái và lạm phát tại các nước này. Sử dụng các dữ liệu từ
năm 1964 đến 1998, các tác giả phát hiện ra rằng tăng trưởng cung tiền và sự thay
đổi trong tỷ giá hối đoái có liên quan đến những ảnh hưởng tài khóa tại các nước có
chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi nhiều hơn là tại các nước có chế độ tỷ giá cố đị
nh.
Thay vào đó, những nhân tố mang tính quán tính, truyền thống lại có sức chi phối
lớn hơn đến lạm phát tại các nước đang phát triển có chế độ tỷ giá hối đoái cố định.
Trong một nghiên cứu khác, Claude Hillinger (2003) đánh giá lại các thước
đo giá trị của nền kinh tế và chỉ số giá tiêu dùng. Theo tác giả, có nhiều thước đo
khác nhau được sử dụng trong mỗi hoàn cảnh riêng, với những giả định riêng h
ầu
như phi thực tế. Tác giả phát triển một lý thuyết có thể sử dụng được trong tất cả
các hoàn cảnh mà ở đó các thước đo tiền tệ được sử dụng.
Xét về tác động của tỷ giá đến tình hình lạm phát trong nước – một trong
những lý do thường được các doanh nghiệp Việt Nam căn vào để lý giải cho các
đợt tăng giá hàng bán của mình, một nghiên cứu của Siok Kun SEK và Zhanna
phương pháp ước lượ
ng trực tiếp phương trình kinh tế lượng cho chỉ số CPI của
Việt Nam với các biến: (i) tỷ giá trung bình USD/VND, (ii) mức cung ứng tiền tệ,
(iii) mức dư cầu, (iv) giá xăng thế giới, (v) giá gạo thế giới. Giá xăng và giá gạo thế
giới nhằm phân tích tác động của mức giá quốc tế của các mặt hàng xuất nhập khẩu
quan trọng. Nghiên cứu cho ra kết quả về mối quan hệ dài hạn gi
ữa CPI, tỷ giá,
cung tiền M2, giá xăng dầu, giá gạo thế giới và mức dư cầu. Tác động của tỷ giá
đến CPI lớn hơn so với giá xăng dầu và giá gạo quốc tế. Kết quả này là phù hợp với
tỷ trọng khá lớn của nhóm các hàng hoá có thể tham gia thương mại quốc tế trong
rổ hàng hoá tiêu dùng. Việc giá xăng dầu thế giới không có tác động ngay lập tức
đến CPI có thể là kết quả c
ủa việc kiểm soát giá trực tiếp. Mức cung ứng tiền tệ có
tác động đến CPI tuy với cường độ rất nhỏ và với độ trễ 6 tháng. Điều này có cho
thấy các công cụ của chính sách tiền tệ không tác động nhiều đến CPI và có thể là
sự không hợp lý đối với thành phẩm của rổ hàng hoá tiêu dùng.
PGS. TS Nguyễn Đức Phương, Giảng viên ĐH Thương mại Paris (2008)
cũng chia sẻ quan điểm trên, cho r
ằng lạm phát tại Việt Nam trước tiên do tác động
của sự mất cân đối giữa cung và cầu. Theo đó, cầu tăng mạnh hơn cung khiến giá
hàng hóa tăng. Trong khi đó, sự hạn chế về tín dụng đối với các doanh nghiệp sản
xuất cũng khiến nguồn cung không thể bứt phá để cân bằng với cầu. Ông còn đưa
ra một lý do đặc biệt khác đó là sự khan hiếm nhân lực có chuyên môn cao. Sự
khan hi
ếm và dòng chảy chất xám từ các nước đang phát triển đến các nước giàu đã
khiến gia tăng chi phí sức lao động, và giá cả.
4
Gần đây, Phạm Thị Thu Trang (2009) cũng đã tiến hành nghiên cứu các yếu
tố tác động tới lạm phát tại Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng phương pháp Phân tích
đoạn cấu thành nên giá của các mặt hàng, từ khi nhập đầu vào sản xuất ra hàng
hóa đến khi xuất xưởng, qua chuỗi phân phối và đến tay người tiêu dùng cuối
cùng. Trong qua trình đó, cần phân biệt rõ các yếu tố làm tăng giá tự nhiên, các
yếu tố “bóp méo” giá cả Đặc biệt, việc rà soát, đánh giá l
ại hiệu quả của các
chính sách kiềm chế lạm phát đã được thực hiện trong những năm vừa qua để
rút kinh nghiệm cho thời gian tới cũng đóng góp một phần quan trọng cho việc
đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả điều hành thị trường trong nước,
kiểm soát CPI. Đây cũng là tính mới của đề tài nghiên cứu này.
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đề tài không đề xuấ
t cách tính chỉ số CPI mà chỉ xác định các yếu tố thị
trường tác động đến chỉ số này và xu hướng vận động của chúng trong thời gian
tới. Trên cơ sở đó, đưa ra khuyến nghị một số giải pháp vĩ mô góp phần bình ổn giá
cả, kiềm chế lạm phát tại Việt Nam. 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các yếu tố
thị trường căn bản tác động tới chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam trong những năm
gần đây và dự báo cho năm 2010.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung vào tác động của các yếu tố thị trường tới chỉ số giá
tiêu dùng của Việt Nam, mức độ
tác động và mối quan hệ giữa các yếu tố này ở
những khía cạnh có liên quan đến chỉ số giá tiêu dùng.
Về thời gian nghiên cứu, rà soát lại hệ thống số liệu, dữ liệu về tác động của
6
CHƯƠNG I: ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH CPI CỦA VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN 2008-2009
Mục tiêu đặt ra trong chương I là điểm lại những vấn đề cơ bản về CPI
của Việt Nam trong những năm gần đây, bao gồm khái niệm về CPI đang được
sử dụng tại Việt Nam, các phương pháp tính; các công cụ quản lý kiểm soát CPI
của Chính phủ; các yếu tố thị trường cơ bản quyết định CPI c
ủa Việt Nam trong
giai đoạn nghiên cứu. Một mục tiêu quan trọng khác là phân tích và đánh giá lại
hiệu quả các chính sách điều hành thị trường trong nước, kiểm soát CPI đã
được thực hiện những năm gần đây; từ đó rút kinh nghiệm cho việc điều hành
thị trường, giá cả trong thời gian tới.
1. Một số vấn đề cơ bản về CPI của Việt Nam trong những năm g
ần đây
1.1. Khái niệm về chỉ số giá tiêu dùng
CPI là một khái niệm kinh tế quan trọng và được sử dụng tại nhiều quốc gia
trên thế giới như một thước đo về lạm phát, mặc dù chỉ mang ý nghĩa tương đối.
Một cách phổ biến nhất, CPI được hiểu là “Chỉ số giá tiêu dùng (CPI là viết
tắt từ các chữ tiếng Anh Consumer Price Index) là chỉ số tính theo phần trăm
để
phản ánh mức thay đổi tương đối của giá hàng tiêu dùng theo thời gian. Sở dĩ chỉ là
phản ánh mức độ biến động giá cả của từng nhóm mặt hàng hoặc của cả rổ hàng
hóa tại thời điểm đánh giá so với thời điểm gốc được chọn.
+ “Sinh hoạt đời sống cá nhân và gia đình”: Rổ hàng hóa cũng như các phân
nhóm hàng hóa được xây dựng dựa trên hoạt động tiêu dùng của cá nhân và gia
đình. Các hàng hóa được chọn vào rổ
hàng hóa phải có tính chất phổ biến nhất và
có thể đại diện cho phần lớn các hàng hóa tiêu thụ khác của cá nhân và gia đình.
1.2. Các phương pháp tính chỉ số giá tiêu dùng tại Việt Nam
1.2.1. Phương pháp tính áp dụng trước năm 2005
Chỉ số giá tiêu dùng được Tổng cục Thống kê tính và công bố lần đầu tiên
vào năm 1998, trước đây là chỉ số giá bán lẻ hàng hóa và dịch vụ và chọn năm
1995 làm gốc cố định.
Quyền số và r
ổ hàng hóa đại diện đã được Tổng cục Thống kê cập nhật vào
các năm 2000 và 2005. Nguyên nhân phải cập nhật lại quyền số và rổ hàng hóa đại
diện là do tốc độ tăng trưởng kinh tế và sản xuất phát triển khiến nhiều mặt hàng
mới hoặc chất lượng cao hơn xuất hiện trên thị trường; đồng thời đời sống nhân dân
được cải thiện, cơ cấu chi tiêu dùng hàng ngày có nh
ững thay đổi; vì vậy, việc cập
nhật danh mục đại diện và quyền số tính chỉ số giá tiêu dùng tiến hành 5 năm/lần là
rất cần thiết và nhằm mục đích nâng cao chất lượng chỉ số giá tiêu dùng.
1.2.2. Phương pháp tính áp dụng trong thời kỳ 2006-2010
Theo Thông cáo báo chí về nội dung cập nhật trong phương án tính chỉ số
giá tiêu dùng thời kỳ 2006-2010 của Tổng cục Thống kê vào ngày 03 tháng 07
năm 2006, phương pháp tính CPI gồm nhữ
ng bước sau:
Để tính được mức độ biến động của giá tiêu dùng, một danh mục các loại
hàng hóa và dịch vụ phổ biến tiêu dùng của người dân được chọn làm đại diện và
được thu thập giá hàng tháng. Danh mục này được gọi là “rổ” hàng hóa trong chỉ số
Thời kỳ gốc sẽ được thay đổi trong vòng 5 đến 7 năm tùy ở từng nước.
Nếu muốn tính Chỉ số lạm phát của một thời kỳ, người ta áp dụng công thức
sau:
Chỉ số lạm phát thời kỳ T = (CPI thời kỳ T - CPI thời kỳ T-1) : CPI thời kỳ
T-1
Trên thực tế người ta có thể xác định quyền số trong tính toán chỉ số giá tiêu
dùng bằng cách điều tra để
tính toán tỷ trọng chi tiêu của từng nhóm hàng hoá, dịch
vụ so với tổng giá trị chi tiêu. Sau đó quyền số này được dùng để tính chỉ số giá
tiêu dùng cho các thời kỳ sau. CPI thường được tính hàng tháng và hàng năm. CPI
còn được tính toán cho từng nhóm hàng hóa hoặc một số nhóm hàng hóa tùy theo
mục đích sử dụng. Ngoài CPI người ta cũng tính toán Chỉ số giá bán buôn là mức
giá của rổ hàng hóa do các doanh nghiệp mua vào, khác với CPI là giá do người
tiêu dùng mua vào (giá bán lẻ).
Các vấn đề gặp phải khi tính toán chỉ s
ố giá tiêu dùng
Do sử dụng rổ hàng hoá cố định nên khi tính toán CPI có ba vấn đề chính
dẫn đến hạn chế của CPI sau đây:
- CPI không phản ánh được độ lệch thay thế vì nó sử dụng rổ hàng hoá cố
định. Khi giá cả một mặt hàng này tăng nhanh hơn so với các mặt hàng khác thì
người tiêu dùng sẽ có xu hướng ít tiêu dùng những mặt hàng đã trở nên quá đắt đỏ
mà tiêu dùng nhiều những hàng hoá đỡ đắt đỏ hơn. Yếu tố này làm CPI
đã đánh giá
cao hơn thực tế mức giá.
- CPI không phản ánh được sự xuất hiện của những hàng hoá mới vì nó sử
dụng rổ hàng hoá cố định trong khi nếu có hàng hoá mới xuất hiện thì một đơn vị
tiền tệ có thể mua được các sản phẩm đa dạng hơn. CPI không phản ánh được sự
gia tăng sức mua này của đồng tiền nên vì thế lại đánh giá mức giá cao hơn th
Nghị định mới bổ sung 4 mặt hàng bình ổn, thay vì 10 mặt hàng như trước
đây. 14 nhóm hàng hoá, dịch vụ do Nhà nước quản lý và thực hiện bình ổn có xăng,
dầu; xi măng; thép xây dựng; khí hoá lỏng; phân bón hoá học; thuốc bảo vệ thực
vật; thuốc thú y; muối; sữa; đường ăn; thóc, gạo; thuốc phòng, chữa bệnh cho
người; cước vận chuyển hành khách bằng đường sắt loại ghế ngồ
i cứng và một số
loại thức ăn chăn nuôi gia súc.
Nghị định cũng quy định 18 danh mục tài sản, hàng hoá, dịch vụ do Nhà
nước định giá, trong đó quan trọng nhất là đất đai, mặt nước; rừng; nhà thuộc sở
hữu nhà nước cho thuê và bán, nhà ở xã hội và nhà ở công vụ; hàng dự trữ quốc
10
gia; điện; nước sạch cho sinh hoạt; dịch vụ vận chuyển hành khách công cộng bằng
đường sắt trong đô thị…
1.3.2. Các chính sách tài chính, tiền tệ
Bên cạnh việc quản lý giá đối với các mặt hàng nhạy cảm, tại Việt Nam,
công cụ quản lý Nhà nước trong kiểm soát CPI khá đa dạng, trong đó có các chính
sách về tài chính, tiền tệ như: điều chỉnh các hình thức lãi suất tham chiếu; nghiệp
vụ thị trườ
ng mở; điều tiết vốn vay; các cơ chế về nguồn vốn kinh doanh; công cụ
thuế
1.3.3. Hệ thống thông tin định hướng dư luận
Hệ thống thông tin định hướng dư luận là một trong những công cụ kiểm
soát CPI quan trọng tại nhiều nước trên thế giới và tại Việt Nam. Thông tin thị
trường và quản lý Nhà nước minh bạch, đầy đủ, cập nhật hơn sẽ tạ
o điều kiện cho
việc thực hiện các công cụ khác và ngăn chặn nạn đầu cơ cũng như các hình thức
tăng giá bất hợp lí trên thị trường.
1.3.4. Các chính sách về cân đối cung-cầu hàng hóa: Từ khi nền kinh tế
chuyển sang định hướng thị trường, việc cân đối cung-cầu hàng hóa trong nước
khiến nguồn cung giảm là nguyên nhân chính khiến giá thịt lợn tăng mạnh trong
11
thời gian đó. Ví dụ, tính đến cuối quí II/08, tổng đàn lợn đã giảm ít nhất 30% so với
năm 2007 do bị ảnh hưởng bởi các đợt dịch bệnh liên tục; giá thịt lợn hơi vào thời
gian này cao hơn từ 2,15 đến 2,35 lần; thịt mông sấn cao hơn 1,9 lần.
Trong khi đó, nguồn cung đáp ứng đủ cầu đã giúp cho giá lương thực, thực
phẩm và nhiều mặt hàng khác ổn định trong n
ửa đầu năm 2009. Trong thời gian
này, CPI trong nước ổn định ở mức thấp, thậm chí có tháng đã âm. Cung hầu hết
các mặt hàng cơ bản, thiết yếu - là những mặt hàng có quyền số cao trong rổ hàng
hóa tính CPI - đều rất dồi dào. Cụ thể như sau:
+ Nguồn cung lúa gạo thoả mãn nhu cầu trong nước và về cơ bản đảm bảo sự
tăng mạnh của các hoạt động xuất khẩu g
ạo.
+ Nguồn cung thực phẩm cũng cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu, tính đến hết
tháng 5/2009 đàn bò cả nước ước tăng 1-2% so với cùng kỳ, đàn lợn tăng 2-3%,
đàn gia cầm tăng 7-8%.
+ Nguồn cung thép các tháng đầu năm khá dồi dào, đáp ứng đủ nhu cầu và
còn tồn kho tới 400 ngàn tấn thép (tính đến cuối tháng 4/2009)
- Ngoài ra, nguồn hàng phục vụ hoạt động sản xuất các mặt hàng trên cũng
khá dồi dào, ví dụ:
+ Nguồn than sạch sản xuất trong 5 tháng đầu năm đạt 17,6 triệu tấn, tồn kho
tới cuối tháng 5/2009 đạt khoảng 8 triệu tấn.
+ Lượng phân bón tồn kho đến hết năm 2008 là 2 triệu tấn. Sau vụ Đông
xuân, lượng phân ure tồn kho vẫn còn khoảng 440 nghìn tấn.
1.4.2. Các yếu tố cấu thành chi phí sản xuất
Các yếu tố cấu thành nên chi phí sản xuất bao gồm nguyên vật liệu
đầu vào,
máy móc, thiết bị, phương tiện sản xuất, chi phí nhân công và chi phí vốn.
Năm 2008: Nửa đầu năm 2008, giá thép tăng cũng một phần do tác động từ
chi phí sản xuất hợp lý tăng:
+ Trung bình để sản xuất 1 tấn thép cần tới 40 lít dầu mazut. Do đó trong nửa
đầu năm 2008, giá dầu tăng 2 lần với mức tăng 4.500 đ/lít, thì chi phí sản xuất 01
tấn thép tăng thêm tới 180.000 đồng/tấn.
+ Ngoài ra, giá dầu tăng cũng kéo theo sự tăng giá của dịch vụ vậ
n tải. Đợt
tăng giá xăng dầu vào ngày 21/7/08 đẩy giá cước vận tải tăng thêm từ 8-10%. Đến
ngày 14/8/08, giá xăng giảm 1000đ/lít nhưng giá dầu vẫn giữ nguyên nên giá cước
vận tải vẫn không thay đổi nhiều.
Năm 2009: Từ 1/3/09, giá điện sản xuất tăng trung bình 6,5-7%. Trong khi
đó, trong hầu hết các công đoạn như luyện phôi, cán thép, chi phí điện năng chiếm
10-20% giá thành sản xuất. Theo tính toán, để sản xu
ất 1 tấn thép cần tiêu tốn tới
400 kwh điện và 500 kwh cho 1 tấn phôi. Với mức tăng giá điện như trên thì chi
phí điện tăng thêm khi sản xuất 01 tấn phôi thép và 01 tấn thép ở mức 23-28 nghìn
đồng.
Phân bón
Xét về chi phí sản xuất phân bón trong nước thì giá điện, than, chi phí vận
chuyển nguyên vật liệu tăng đã làm chi phí sản xuất của nhiều loại phân bón trong
nước tăng lên trong giai đoạn 2007 và nửa đầu năm 2008. Giá các nguyên liệu đầu
vào như Ure, Kali, SA, DAP và chủ yếu phải nhập khẩu nên càng gây sức ép về chi
phí sản xuất.
Trong các yếu tố cấu thành nên chi phí sản xuất phân bón thì Dầu thô vừa là
nguyên liệu đầu vào vừa là nhiên liệ
u quan trọng trong việc sản xuất, vận chuyển,
phân phối phân bón… nên có tác động trực tiếp đến giá cả phân bón.
Theo thống kê, thời điểm đầu năm 2008, giá dầu thô dao động quanh mức
7/2008
(đỉnh cao)
Quanh 140
USD/thùng,
tăng 40% so
với đầu năm
2008
800–830 USD/tấn,
tăng gấp đôi so với
đầu năm 2008
So với đầu năm
2008, mức độ tăng
giá của Ure (100%)
cao hơn so với mức
độ tăng của giá
Dầu thô (40%)
Cuối năm
2008 - đầu
năm 2009
(đáy)
40 USD/thùng,
giảm 3,5 lần so
với mức đỉnh
200 USD/tấn,
giảm 4 lần so với
mức đỉnh
So với thời điểm
đỉnh cao, mức độ
giảm giá của phân
Ure lớn hơn mức
14
Biểu đồ 1: Tham khảo diễn biến giá phân bón và giá dầu thế giới
Giá phân bón
Granular Ure Basket Price 2009 (USD/ton)
200
240
280
320
1
/9/2
009
1
/23
/200
9
2
/6
/2009
2/20/2009
3
/6/20
09
3
/200
9
8
/7
/2009
8/21/2009
9
/4/20
0
9
9
/18
/200
9
1
0
/
2
/200
9
Nguồn: Fertilizerworks.com
Giá dầu
Nguồn: Bloomberg.com
1.4.3. Ảnh hưởng của giá thế giới
Cùng với sự hội nhập sâu rộng hơn vào kinh tế thế giới, ảnh hưởng của giá
Thán
g
3/2008
Thán
g
4/2008
Thán
g
5/2008
Thán
g
6/2008
% so
T6
với
T1
Lượng phôi NK ngàn tấn 377,4 231,2 417,9 495,6 205,2 70,5
-
81,32
Giá NK trung bình USD/tấn 613 637 684,4 733,8 793,2 853,5 39,23
Giá thành sản xuất
(chưa có VAT)
đ/kg 11.656 12.040 12.798 13.590 14.540 15.700 34,69
Giá bán tại nhà máy
(chưa có VAT)
đ/kg 12.500 13.800 15.800 15.600 15.200 16.600 32,80
16
trạng đầu cơ găm hàng, trong đó nổi bật có sự tăng mạnh của giá thế giới: Tháng
1/2008, giá nhập khẩu phân urê trung bình là 306 USD/tấn, tăng 24% so với cùng
kỳ năm ngoái và liên tục tăng trong 2 tháng tiếp theo. Đến tháng 3/2008, giá phân
urê nhập khẩu trung bình đã lên tới 397 USD/tấn, tăng 29,7% so với đầu năm 2008.
Giá bán lẻ còn tăng mạnh hơn, tăng khoảng 50% so với cuối năm 2007.
Sở dĩ giá thế giới, được phả
n ánh qua giá nhập khẩu có tác động lớn tới giá
phân bón trong nước bởi nước ta vẫn phải nhập khẩu khoảng 50% phân urê, 100%
SA, 100% sulphur, 100% kali
Biểu đồ 2: Tham khảo giá nhập khẩu phân Urê và DAP
6 tháng đầu năm 2008
(đơn vị: USD/tấn)
311,11
322,58
395,5
399
410,2
420
526,19
745,2
902,8
988
1028,2
1171,9
100
500
900
- Giá bán đến tay người tiêu dùng các loại sữa tươi đã tăng 73% so với giá
thu mua, tức là khoảng 11.280đ/lít.
- Chênh lệch giá lợn xuất chuồng và giá bán tại chợ tăng khoảng 100.000đ -
130.000đ/con, mức tăng tập trung vào khâu bán hàng. Ngoài ra, do giá lợn tại thị
trường Trung Quốc tăng nên một lượng lớn lợn trong nước đã bị “đẩy” đi qua con
đường tiểu ngạch càng làm cho thị trường trở nên khan hiếm.
- Trung bình giá các loại rau bán tớ
i tay người tiêu dùng có giá tăng từ 30%-
70% so với giá bán tại vườn.
- Chênh lệch giữa giá thép tại nhà máy và giá bán trên thị trường ngày càng
mở rộng, cho thấy giá thép đã bị đẩy lên khá mạnh từ khi xuất xưởng tới khi đến
được tay người tiêu dùng. Thực tế thị trường thép cho thấy hiện tượng đầu cơ, găm
hàng, mua bán lòng vòng giữa các đại lý khiến nguồn cung hạn hẹp và đẩy giá thép
trên thị trường tăng mạnh, dẫn đế
n tình trạng giá ảo.
1.4.5. Hoạt động đầu cơ, làm giá
Hoạt động đầu cơ tác động đến giá của một mặt hàng thông qua cơ chế
tạo nên sự thiếu hụt cung ảo và đẩy giá lên. Về cơ bản, hoạt động này chỉ mang
lại lợi ích cho giới đầu cơ và gây thiệt hại lớn cho cả người tiêu dùng, người sản
xuất và Nhà nước. Hai minh chứng tiêu biểu cho tác động củ
a hoạt động đầu
cơ, làm giá đã xảy ra ở nước ta là mặt hàng gạo và phân bón.
Gạo : Một ví dụ tiêu biểu là cuối tháng 4/2008, trong nước đã trải qua một
tuần sốt giá gạo, chỉ trong vài ngày, giá gạo đã tăng tới 30-35% do thông tin về tình
hình lương thực thế giới khan hiếm đã bị các tư thương lợi dụng để tăng giá. Giá
bán lẻ một số loại gạo chất l
ượng cao tại Hà Nội thậm chí tăng tới 40%. Sau đó, giá
gạo đã giảm và dần dần ổn định trở lại, nhưng biến động giá gạo đã tác động dây
chuyền đến các ngành hàng liên quan đến gạo và có xu hướng hình thành mặt bằng
giá mới.
- Diễn biến giảm: 4 tháng còn lại, CPI giảm dần theo xu hướng chung của
nhiều nước trên thế giới, thậm chí âm trong hai tháng 11 và 12/2008.
Những biến động thất thường của CPI năm 2008 tại Việt Nam như trên chủ
yếu do tác động lớn từ những bất
ổn của nền kinh tế thế giới, trong đó điển hình là
sự biến động mạnh của giá dầu thô, nguyên vật liệu và giá một số mặt hàng thiết
yếu.
Biểu đồ 3: So sánh CPI năm 2008 và 2007
2,38
3,56
2,99
2,2
3,91
2,14
1,13
1,56
-0,19
0,18
-0,68
-0,76
-2
-1
0
1
2
3
4
Th1 Th2 Th3 Th4 Th5 Th6 Th7 Th8 Th9 Th10 Th11 Th12
Năm 2008 Năm 2007
0.32
6.88
5.07
4.49
4.11
3.47
1.68
1.32
2.12
2.68
3.22
1.49
-1
0
1
2
3
4
5
6
7
8
T
1/
09
T2/09
T
3/
09
T4/09
và dịch vụ phục vụ hoạt động mua sắm Tết Nguyên đán 2009 tăng nhanh. Tháng
3/2009, CPI bất ngờ giảm xuống mức âm, -0,17% so với tháng 2/2009.
Giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 8/2009:
Nhìn chung trong giai đoạn này, chỉ số giá tiêu dùng tại Việt Nam diễn biến
khá ổn định. Đây cũng là giai đoạn nền kinh tế Việt Nam đã b
ước đầu có sự phục
hồi, với những biện pháp tổng thế và toàn diện của Chính phủ như điều chỉnh lại lãi
suất cơ bản, đưa ra các gói kích thích kinh tế, hỗ trợ doanh nghiệp giải quyết tình
trạng tồn kho hàng hóa, điều chỉnh tỷ giá USD/VND Kết quả, CPI đã tăng không
mạnh từ tháng 4 đến tháng 6, rồi lại giảm từ tháng 6 đến tháng 8/2009 với biên độ
dao
động nhẹ, được đánh giá là ổn định và tích cực đối với kinh tế Việt Nam.
Thành công này có phần đóng góp rất lớn từ Chính phủ và các cơ quan chức năng.
Từ tháng 9 đến cuối năm 2009. Trước đó, chỉ số giá cả tiêu dùng trong giai
đoạn đã được dự báo là sẽ biến động phức tạp khó lường hơn, đặc biệt là hai tháng