tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong luật hình sự việt nam - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
------

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 35 (2009-2013)

Đề tài:

TUỔI CHỊU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn:
TS. PHẠM VĂN BEO
Bộ môn Tư Pháp

Sinh viên thực hiện:
NGUYỄN NGỌC HUỲNH PHƯƠNG
MSSV: 5095548
Lớp: Luật Hành chính K35

CẦN THƠ, 04/2013


NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

 .................................................................................
.............................................................................................
.............................................................................................
.............................................................................................
.............................................................................................

.............................................................................................
.............................................................................................
.............................................................................................
.............................................................................................
.............................................................................................
.............................................................................................
.............................................................................................
.............................................................................................
.............................................................................................
.............................................................................................
Ngày …… tháng ……. năm 2013


Lời cảm ơn
Để hoàn thành nghiên cứu luận văn tốt nghiệp với đề
tài “Tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong luật Hình sự
Việt Nam”, bên cạnh sự nổ lực của bản thân đã vận dụng
những kiến thức tiếp thu được ở trường, tìm tòi học hỏi
cũng như thu thập thông tin số liệu có liên quan đến đề
tài, người viết luôn nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận
tình của các thầy cô cùng với những lời động viên
khuyến khích từ phía gia đình, bạn bè.
Đầu tiên tiên người viết xin cảm ơn gia đình đã
luôn tạo điều kiện, giúp đỡ và động viên trong mọi mặt.
Xin cảm ơn quý thầy cô trong Khoa Luật đã dùng
tâm huyết của mình để truyền đạt những kiến thức, kinh
nghiệm quý báu trong thời gian học tập ở trường Đại
học. Đặc biệt, chân thành cảm ơn Thầy Phạm Văn Beo
đã hướng dẫn tận tình để người viết hoàn thành tốt luận
văn của mình.

Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................2

5.

Bố cục đề tài ....................................................................................................2

CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VÀ TUỔI
CHỊU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ...........................................................................4
1.1. Trách nhiệm hình sự.........................................................................................4
1.1.1. Khái niệm trách nhiệm hình sự .......................................................................4
1.1.2. Đặc điểm trách nhiệm hình sự ........................................................................6
1.2. Cơ sở lý luận của trách nhiệm hình sự ..............................................................9
1.2.1. Cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự ...........................................................9
1.2.2 Cơ sở thực tế của trách nhiệm hình sự ..........................................................10
1.3. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự .........................................................................11
1.3.1. Khái niệm ....................................................................................................11
1.3.2. Cơ sở của việc quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự .................................12
1.3.3. Ý nghĩa của việc ghi nhận tuổi chịu trách nhiệm hình sự ..............................12
1.4. Sơ lược lịch sử hình thành chế định tuổi chịu trách nhiệm hình sự ở Việt Nam13
1.4.1. Quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự thời phong kiến ..........................13
1.4.2. Quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự thời kì thực dân Pháp xâm lược ..14
1.4.3. Quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự giai đoạn từ năm 1954 đến trước
khi Bộ luật Hình sự 1985 ra đời..............................................................................15
1.4.4. Quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự năm 1985.16


1.4.5. Quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình
sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 ................................................................................17
1.5. Quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự của một số quốc gia trên thế giới...18
1.5.1. Quy định cụ thể của pháp luật tại một số quốc gia ........................................18

3.1.2.2. Về mức độ phạm tội của người chưa thành niên .......................................49
3.1.2.3. Về hung khí người chưa thành niên sử dụng khi gây án .............................49
3.1.2.4. Về xu hướng hoạt động theo băng nhóm hiện nay của người chưa thành
niên 50
3.2. Nguyên nhân tình hình gia tăng tội phạm đối với lứa tuổi người chưa thành
niên 51
3.2.1. Hoàn cảnh gia đình.......................................................................................51
3.2.2. Tâm lí trẻ em giai đoạn vị thành niên............................................................53
3.2.3. Sự thay đổi quá nhanh của xã hội cùng với sự gia tăng của các loại tệ nạn xã
hội 54
3.2.4. Môi trường giáo dục .....................................................................................55
3.3. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam
hiện hành về tuổi chịu trách nhiệm hình sự.............................................................56
3.3.1. Sự cần thiết để hoàn thiện quy định pháp luật hình sự về tuổi chịu trách
nhiệm hình sự.........................................................................................................56
3.3.2. Kiến nghị hoàn thiện chế định tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong bối cảnh
xã hội hiện nay .......................................................................................................57
3.3.3. Một số kiến nghị khác nhằm hạn chế thực trạng người chưa thành niên
phạm tội trong bối cảnh xã hội hiện nay .................................................................61
3.3.3.1. Kiến nghị tăng mức hình phạt tù đối với đối tượng phạm tội là người chưa
thành niên...............................................................................................................61
3.3.3.2. Kiến nghị giải quyết vấn đề nguyên nhân gia tăng tội phạm ở người chưa
thành niên...............................................................................................................66
KẾT LUẬN..................................................................................................................... 69


Luận văn tốt nghiệp

Tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong luật Hình sự Việt Nam


Từ những vấn đề nêu trên, người viết thấy rằng việc tìm hiểu, nghiên cứu các quy
định về tuổi chịu trách nhiệm hình là cần thiết. Xuất phát từ lí do trên người viết chọn đề
tài "Tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong luật Hình sự Việt Nam" để làm đề tài tốt
GVHD: TS. Phạm Văn Beo

1

SVTH: Nguyễn Ngọc Huỳnh Phương


Luận văn tốt nghiệp

Tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong luật Hình sự Việt Nam

nghiệp nhằm nghiên cứu về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự được quy định trong Bộ luật
Hình sự Việt Nam hiện hành, thông qua đó đề xuất ra giải pháp hoàn thiện quy định của
pháp luật, góp phần hạn chế tình trạng phạm tội ở lứa tuổi chưa thành niên.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Người viết nghiên cứu đề tài này nhằm mục tiêu trình bày những hiểu biết chung
nhất của người viết về “tuổi chịu trách nhiệm hình sự” và những quy định của pháp luật
Hình sự hiện hành về "tuổi chịu trách nhiệm hình sự". Đồng thời, người viết cũng tìm
hiểu về thực trạng việc áp dụng vào thực tiễn về chế định này. Thông qua đó, tìm ra
những mặt hạn chế, chưa phù hợp để có hướng giải quyết vấn đề. Từ đó có thể đề xuất
các giải pháp thiết thực góp phần vào việc hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự
về chế định “tuổi chịu trách nhiệm hình sự”.
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Vì đây là đề tài có phạm vi tương đối rộng nên người viết không thể đi hết tất cả các
vấn đề mà người viết chỉ tập trung vào những vấn đề mang tính cấp thiết cần được thay
đổi để phù hợp với tình hình thực tại. Cụ thể, trong đề tài này người viết sẽ khái quát
chung về trách nhiệm hình sự và tuổi chịu trách nhiệm hình sự, sự phát triển của chế định

chính của đề tài gồm 3 chương với kết cấu đề tài bao gồm:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự và tuổi chịu trách
nhiệm hình sự.
- Chương 2: Tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự Việt Nam
hiện hành.
- Chương 3: Hoàn thiện quy định của pháp luật Hình sự Việt Nam về tuổi chịu
trách nhiệm hình sự.

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

3

SVTH: Nguyễn Ngọc Huỳnh Phương


Luận văn tốt nghiệp

Tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong luật Hình sự Việt Nam

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
VÀ TUỔI CHỊU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
1.1. Trách nhiệm hình sự
1.1.1.

Khái niệm trách nhiệm hình sự

Trong ngôn ngữ hàng ngày, thuật ngữ “trách nhiệm” được dùng theo nhiều nghĩa
khác nhau, trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Theo từ điển Tiếng Việt thì “trách nhiệm” có nghĩa là nghĩa vụ, bổn phận phải gánh

4

SVTH: Nguyễn Ngọc Huỳnh Phương


Luận văn tốt nghiệp

Tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong luật Hình sự Việt Nam

Trách nhiệm hình sự là một thuật ngữ pháp lý và được sử dụng đối với người có
hành vi vi phạm pháp luật hình sự. Là một dạng của trách nhiệm pháp lý và là loại trách
nhiệm nghiêm khắc nhất trong các loại trách nhiệm pháp lý ở Việt Nam, được thể hiện
thông qua hệ thống hình phạt được quy định trong Bộ luật Hình sự.
Từ trước đến nay, xung quanh khái niệm “trách nhiệm hình sự” vẫn còn tồn tại
nhiều quan điểm khác nhau. Theo một trong những nhà khoa học Luật Hình sự hàng đầu,
PGS.TSKH Lê Cảm dẫn ra tại Sách chuyên khảo Sau đại học của mình thì trong khoa
học Luật Hình sự Việt Nam đang tồn tại bốn quan điểm như sau:
- Quan điểm thứ nhất: Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc phạm tội,
thể hiện ở chỗ người đã gây ra tội phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước Nhà
nước.4
- Quan điểm thứ hai: Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là
trách nhiệm của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong
pháp luật hình sự bằng một hậu quả bất lợi do Tòa án áp dụng tùy thuộc vào tính chất và
mức độ nguy hiểm của hành vi mà người đó đã thực hiện.5
- Quan điểm thứ ba: Trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý bao
gồm nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự, chịu bị
kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự (hình phạt, biện pháp tư pháp)
và chịu mang án tích.6
- Quan điểm thứ tư: Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội
phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện


Tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong luật Hình sự Việt Nam

Trong đó, ở nghĩa tích cực trách nhiệm hình sự là trách nhiệm phải xử sự hợp pháp
của một người trong việc ý thức được nghĩa vụ của mình là không được thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm. Về cơ bản, đây là cách hiểu theo quan điểm
không truyền thống, không có tính chất phổ biến và chính vì vậy cũng không được thừa
nhận rộng rãi trong các nhà hình sự học nói riêng và các nhà luật học nói chung.
Ở nghĩa tiêu cực thì trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành
vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm và hậu quả pháp lý ấy được
thể hiện trong việc Tòa án nhân danh Nhà nước kết án người đã bị coi là có lỗi trong việc
thực hiện tội phạm đó, còn người bị kết án phải chịu sự tác động về mặt pháp lý hình sự
theo một trình tự tố tụng riêng. Ngược lại với cách hiểu thứ nhất, đây chính là cách hiểu
theo quan điểm truyền thống, có tính chất phổ biến và được thừa nhận rộng rãi trong giới
luật học nói chung và luật hình sự nói riêng.
Dựa trên những phân tích trên, ta có thể hiểu một cách cơ bản nhất trách nhiệm hình
sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý bất lợi mà người phạm tội phải
gánh chịu trước Nhà nước do việc người đó thực hiện tội phạm và là kết quả của việc áp
dụng các quy phạm pháp luật hình sự, được thể hiện ở bản án kết tội của Tòa án có hiệu
lực pháp luật, hình phạt và một số biện pháp cưỡng chế hình sự khác do luật hình sự quy
định.
1.1.2.

Các đặc điểm của trách nhiệm hình sự

Đây là vấn đề từ trước đến nay vẫn chưa được nghiên cứu, lý giải về mặt lý luận
trong khoa học luật hình sự Việt Nam. Tuy nhiên, theo công trình nghiên cứu khoa học
của PGS.TSKH Lê Cảm, trên cơ sở phân tích khoa học về khái niệm trách nhiệm hình sự,
dựa vào các quy phạm pháp luật liên quan đến việc giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự
và thực tiễn áp dụng các quy phạm pháp luật đã tổng hợp và rút ra những đặc điểm cơ

Trách nhiệm hình sự luôn luôn được thực hiện trong phạm vi của quan hệ pháp luật
hình sự giữa hai bên với tính chất là hai chủ thể có các quyền và nghĩa vụ nhất định – một
bên là Nhà nước, còn bên kia là người phạm tội.
Nhà nước (mà đại diện là các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền) có quyền xử
lý người phạm tội, nhưng phải có nghĩa vụ chỉ được xử lý dựa trên các căn cứ và trong
giới hạn do pháp luật quy định.
Đối với người phạm tội thì có nghĩa vụ phải chịu sự tước bỏ hoặc hạn chế quyền tự
do nhất định, nhưng đồng thời cũng có quyền yêu cầu sự tuân thủ từ phía Nhà nước tất cả
các quyền và lợi ích của con người và của công dân mà pháp luật đã quy định.
Riêng đối với chủ thể bị người phạm tội trực tiếp hoặc gián tiếp xâm hại quyền và
lợi ích hợp pháp thì không có quyền can thiệp để làm thay đổi trách nhiệm hình sự, ngoại
trừ một số trường hợp ngoại lệ xảy ra trong trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng mà việc
tiến hành xác định trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội có ảnh hưởng trực tiếp
đến quyền và lợi ích của chủ thể bị xâm hại.9
- Đặc điểm thứ ba: trách nhiệm hình sự được xây dựng bằng một trình tự đặc biệt
bởi cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền (Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án),
mà trình tự đó phải do pháp luật tố tụng hình sự quy định.
Trình tự, thủ tục riêng này tuân theo pháp luật về tố tụng hình sự và chỉ được thực
hiện bởi các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự và người tiến hành tố tụng. Ngoài ra,
không tổ chức hoặc cá nhân nào có quyền tiến hành các trình tự thủ tục để xác định trách
nhiệm hình sự. Đó chính là nét riêng đặc biệt mà việc xác định các trách nhiệm pháp lý
khác không có được.

9

Trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại (Điều 105 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003).

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

7

hình sự có nội dung rộng hơn hình phạt, là hậu quả pháp lý chung mà người phạm tội
phải gánh chịu. Trong khi đó, hình phạt chỉ là một trong những biểu hiện sinh động nhất
của trách nhiệm hình sự. Ngoài hình phạt, trách nhiệm hình sự còn có thể biểu hiện qua
các biện pháp tư pháp, miễn hình phạt.

10

Điều 72 đoạn 1 “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu

lực pháp luật”.
11

Điều 9 “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực

pháp luật”.

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

8

SVTH: Nguyễn Ngọc Huỳnh Phương


Luận văn tốt nghiệp

Tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong luật Hình sự Việt Nam

- Đặc điểm thứ sáu: trách nhiệm hình sự là trách nhiệm của cá nhân người phạm
tội.
Người phải chịu trách nhiệm hình sự chỉ có thể là người phạm tội, nghĩa là người

thường trong cấu thành tội phạm những dấu hiệu bắt buộc phải có bao gồm: dấu hiệu
hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm, dấu hiệu lỗi thuộc mặt chủ quan của tội

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

9

SVTH: Nguyễn Ngọc Huỳnh Phương


Luận văn tốt nghiệp

Tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong luật Hình sự Việt Nam

phạm, dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi thuộc yếu tố chủ thể của tội
phạm, chúng ta có thể dựa vào những dấu hiệu của cấu thành tội phạm để nhận định hành
vi đó có phải là tội phạm hay không và người thực hiện hành vi có phải chịu trách nhiệm
hình sự về tội phạm nào không.
Tuy nhiên, nếu coi cơ sở của trách nhiệm hình sự chỉ là cấu thành tội phạm thôi thì
chưa đủ chính xác vì theo pháp luật hình sự Việt Nam: Người chuẩn bị phạm tội “rất
nghiêm trọng” hoặc tội “đặc biệt nghiêm trọng”12 hay “phạm tội chưa đạt” mặc dù trong
hành vi được thực hiện rõ ràng là chưa thể có đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm
nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, theo người viết ý kiến của PGS.TS
Trần Văn Độ là hoàn toàn xác đáng khi cho rằng: “Quan điểm cho rằng cấu thành tội
phạm là cơ sở của trách nhiệm hình sự duy nhất là hoàn toàn sai lầm vì tự mình cấu
thành tội phạm không thể là cơ sở làm phát sinh trách nhiệm hình sự”.
1.2.2.

Cơ sở thực tế của trách nhiệm hình sự



SVTH: Nguyễn Ngọc Huỳnh Phương


Luận văn tốt nghiệp

Tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong luật Hình sự Việt Nam

miễn hoặc được loại trừ trách nhiệm hình sự. Vì thế, không ai phải chịu trách nhiệm hình
sự nếu hành vi mà người đó thực hiện không được Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm.
Tóm lại, nếu một hành vi đã thỏa mãn tất cả các dấu hiệu cấu thành tội phạm của
một tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật Hình sự thì hành vi đó mới bị coi là tội
phạm và người thực hiện hành vi đó mới có thể chịu trách nhiệm hình sự. Hay nói cách
khác, cơ sở của trách nhiệm hình sự cần thể hiện được vai trò quan trọng của việc thực
hiện hành vi (cơ sở thực tế) và cấu thành tội phạm (cơ sở pháp lý) để coi hành vi nào đó
là tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự, do đó cơ sở của trách nhiệm hình sự là việc
thực hiện hành vi thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được Bộ luật Hình sự
quy định.
1.3. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự
1.3.1.

Khái niệm

Theo từ điển Tiếng Việt thì “tuổi” có các nghĩa là:
- Khoảng thời gian đã qua kể từ khi sinh tính bằng năm đến một thời điểm xác định
nào đó. Ví dụ như cháu bé đã bốn tuổi.
- Thời kỳ trong đời mang một đặc tính sinh lý, xã hội,... đánh dấu một bước chuyển
biến của con người như: Tuổi dậy thì, Tuổi trưởng thành.
- Thời gian hoạt động trong một tổ chức, đoàn thể, nghề nghiệp: Tuổi Đảng, Tuổi
quân, Tuổi nghề.14

1.3.2.

Cơ sở của việc quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Con người từ khi sinh ra đã có ý thức nhưng không phải có ý thức là có năng lực
trách nhiệm hình sự mà phải trải qua một quá trình phát triển về tâm, sinh lý trong điều
kiện xã hội nhất định thì năng lực đó mới hình thành..Khi đã đạt được một độ tuổi nhất
định nào đó con người nói chung sẽ có năng lực trách nhiệm hình sự trừ một số trường
hợp cá biệt (những trường hợp mà Luật Hình sự coi là trong tình trạng không có năng lực
trách nhiệm hình sự – Điều 13 Bộ luật Hình sự).
Luật Hình sự các nước dựa trên cơ sở kết quả các công trình nghiên cứu, khảo sát
về tâm lý cũng như căn cứ vào chính sách hình sự của mình đã quy định tuổi chịu trách
nhiệm hình sự.Giai đoạn hoàn chỉnh về nhận thức trong đời sống của mỗi cá nhân được
luật Hình sự mỗi nước trên thế giới quy định không giống nhau hoặc ngay cả tại một
quốc gia tùy từng thời điểm phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội nhất định thì cũng
không hoàn toàn giống nhau.
Ở nước ta, căn cứ vào thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm, có tham khảo luật
Hình sự của các nước trên thế giới và trong khu vực, dựa trên những khảo sát về tâm sinh
lý của người Việt Nam kết hợp cùng yêu cầu của chính sách hình sự nước ta cùng với yêu
cầu đấu tranh phòng chống tội phạm ở tuổi vị thành niên, chính sách xử lý người chưa
thành niên phạm tội, Bộ luật Hình sự đã quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự là đủ 14
tuổi.
1.3.3.

Ý nghĩa của việc ghi nhận chế định tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Tuổi chịu trách nhiệm hình sự được quy định trong Bộ luật Hình sự Việt Nam năm
1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 phản ánh chính sách hình sự của Nhà nước về việc truy
cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niên phạm tội. Theo đó, luật Hình sự Việt
Nam không truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa đủ 14 tuổi. Với quy định về tuổi

Nghiên cứu một cách hệ thống lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tuổi chịu trách
nhiệm hình sự sẽ giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện và tổng quát về quá trình phát triển
của chế định tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam. Nhờ đó,
chúng ta rút ra được những giá trị cần được kế thừa, qua đó sẽ tạo ra cơ sở để có sự đánh
giá đúng đắn thực trạng của pháp luật hình sự hiện hành về tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
1.4.1.

Quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự thời phong kiến

Thành tựu lập pháp nổi bật trong thời kì phong kiến nước ta được thể hiện tập trung
vào hai bộ luật: Bộ Quốc triều Hình luật (Bộ luật Hồng Đức) và Bộ Hoàng Việt luật lệ
(Bộ luật Gia Long). Điểm chung giữa hai bộ luật này là các nhà lập pháp đều khẳng định
nhất quán việc không buộc tội đối với người dưới 7 tuổi và người trên 90 tuổi, điều này
thể hiện sự tiến bộ trong việc đánh giá mối quan hệ giữa năng lực nhận thức của con
người đối với hành vi mà họ đã thực hiện. Điều 16 Luật Hồng Đức quy định “những
trường hợp phạm tội ở độ tuổi 80 trở lên, 10 tuổi trở xuống và đáng bị tử hình cũng phải
tâu lên Vua để xét định, còn người từ 90 tuổi trở lên, 7 tuổi trở xuống dẫu có bị kết án tử
hình cũng không được hành hình”.15 Với quy định này các nhà lập pháp hình sự triều Lê
đã xác định trẻ em dưới 7 tuổi và người già 90 tuổi trở lên là đối tượng đặc biệt không
15

Phan Huy Lê: Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, Nxb Giáo dục, 1960, Tr.161.

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

13

SVTH: Nguyễn Ngọc Huỳnh Phương



Pháp ban hành thông qua sửa đổi một số nội dung nhưng vẫn dựa trên Bộ luật Hình sự
Pháp nên hai bộ luật này không có gì khác biệt lớn về mặt nội dung, mà chủ yếu khác
nhau về mặt hình thức. Do đó, về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự cũng tương tự như quy
định tại Hình luật canh cải.
Ở Trung Kỳ, bằng Dụ số 43 ngày 31/7/1933 của Bảo Đại, Hoàng Việt hình luật
được ban hành. Hoàng Việt đã có quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại Điều 84
như sau “Phàm người nào, phạm tội mà khi sự phát mới đầy 10 tuổi trở xuống, hoặc đã
16
17

Hoàng Việt: Luật lệ tập II, Nxb Văn hóa – Thông tin, 1994, Tr.151.
Phan Khắc Giảng: Luật hình giải nghĩa và quy hình, Nxb Vĩnh Long – Sài Gòn, 1933, Tr.13.

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

14

SVTH: Nguyễn Ngọc Huỳnh Phương


Luận văn tốt nghiệp

Tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong luật Hình sự Việt Nam

90 tuổi trở lên, thời (thì) khỏi phải chịu tội về mặt hình, trừ ra người già phạm tội đại
hình có phương hại đến sự trị an của Nhà nước thời (thì) không kể”.18
Từ sự phân tích trên, có thể thấy, pháp luật hình sự thời kỳ thực dân Pháp xâm lược
chịu ảnh hưởng nặng nề của pháp luật hình sự Pháp, nó thực sự là công cụ để thực dân
Pháp và bọn tay sai duy trì chế độ thực dân xâm lược ở nước ta. Tuy nhiên, xét về mặt
khoa học pháp lý, một số chế định trong giai đoạn này cũng cần được nghiên cứu để rút


Tr.283.
19

Tập hệ thống hóa luật lệ hình sự, Tòa án nhân dân tối cao xuất bản, 1975, Tr.13.

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

15

SVTH: Nguyễn Ngọc Huỳnh Phương


Luận văn tốt nghiệp

Tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong luật Hình sự Việt Nam

năng lực trách nhiệm hình sự mà là điều chủ yếu phải nhìn nhìn cả dưới giác độ yêu cầu
của xã hội đối với việc giáo dục thiếu niên”.
Qua các hướng dẫn trên, tuổi chịu trách nhiệm hình sự không những được xác định
dựa trên khả năng nhận thức ý nghĩa xã hội của hành vi cũng như khả năng điều khiển
hành vi mà còn căn cứ vào yêu cầu của xã hội trong việc giáo dục thanh thiếu niên.
Khác với chính quyền cách mạng, chính quyền Việt Nam Cộng hòa xác định tuổi
chịu trách nhiệm hình sự là 13 tuổi. Điều 77 Bộ luật Hình sự quy định “tội phạm không
cấu thành, nếu can phạm là vị thành niên 13 tuổi khi phạm pháp”. Theo quy định của Bộ
luật này có thể hiểu rằng người phạm tội nếu đủ 13 tuổi hoặc từ 13 tuổi trở xuống thì dù
thực hiện hành vi phạm tội nguy hiểm đến mấy cho xã hội cũng không bị coi là người
phạm tội và cũng không chịu sự trừng phạt của pháp luật. Nếu đem so quy định độ tuổi
chịu trách nhiệm hình sự trong Bộ luật này với quy định của chính quyền Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa thì có thể nhận thấy, độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của bộ luật này rộng

Luận văn tốt nghiệp

Tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong luật Hình sự Việt Nam

mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên 5 năm tù, tù chung thân hoặc
tử hình, những tội phạm khác là tội ít nghiêm trọng”.
Như vậy, dựa trên hai điều luật này Bộ luật Hình sự 1985 đã phân hóa trách nhiệm
hình sự dựa vào độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Nếu người phạm tội là người là người
đủ 16 tuổi trở lên thì họ phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi hành vi phạm tội mà họ
thực hiện. Nếu họ là người đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì họ chỉ phải chịu trách nhiệm
hình sự khi tội mà họ thực hiện là tội nghiêm trọng và được thực hiện với lỗi cố ý. Trong
trường hợp họ phạm tội với lỗi vô ý hoặc tội mà họ thực hiện là tội ít nghiêm trọng thì
không phải chịu trách nhiệm hình sự. Ngoài ra, đối với chủ thể thực hiện hành vi phạm
tội mặc dù là tội ít nghiêm trọng hay tội nghiêm trọng với lỗi cố ý hay vô ý mà người
thực hiện hành vi phạm tội lại là người dưới 14 tuổi thì vấn đề trách nhiệm hình sự vẫn
không được đặt ra. Do đó, không áp dụng trách nhiệm hình sự đối với nhóm đối tượng
này.
1.4.5.

Quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định trong Bộ luật

Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009
Từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, sự nghiệp đổi mới do Đảng
ta khởi xướng và lãnh đạo đã giành được những thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực.
Đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước đã có nhiều khởi sắc, được nhân
dân ta và bạn bè quốc tế đánh giá cao.
Tuy nhiên, trong quá trình chuyển đổi cơ chế, bên cạnh những mặt tích cực, mặt trái
nền kinh tế thị trường cũng đã làm nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực, trong đó tình hình tội
phạm diễn biến phức tạp. Trong tình hình đó, Bộ luật Hình sự năm 1985, dù đã được sửa
đổi bổ sung 4 lần, nhưng còn nhiều điểm bất cập cần phải được sửa đổi, bổ sung một


Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên Hợp quốc thông
qua ngày 20/11/1989 có ghi nhận:“trong phạm vi công ước này, trẻ em có nghĩa là
người dưới 18 tuổi”. Tuy nhiên, công ước này không thiết lập được một độ tuổi cụ thể
chung mà độ tuổi này được ghi nhận một cách khác nhau trong luật pháp của các quốc
gia khác nhau. Độ tuổi theo đó trẻ em bị coi là phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình
cũng thay đổi theo thời gian, và nó được phản ánh theo cách chúng được đối xử tại các
phiên toà của pháp luật.
Thời La Mã, trẻ em bị coi là không có lỗi về các tội phạm, một lập trường sau này
được Nhà thờ chấp nhận. Ở thế kỷ 19, trẻ em chưa tới bảy tuổi được cho là không phải
chịu trách nhiệm về mọi tội lỗi. Trẻ em từ bảy tuổi trở lên bị coi là phải chịu trách nhiệm
về các hành vi phạm tội. Vì thế, chúng có thể phải đối mặt với các trách nhiệm tội phạm,
bị gửi tới nhà tù của người lớn, và bị trừng trị như người lớn như đánh roi, đóng dấu ô
nhục hay treo cổ.
Tại Mỹ, độ tuổi của trách nhiệm hình sự được thành lập theo quy định của pháp luật
của từng tiểu bang. Chỉ có 13 tiểu bang đã thiết lập độ tuổi tối thiểu, khoảng từ 6 đến 12
tuổi (riêng ở North Carolina là 6 tuổi). Hầu hết các bang dựa vào luật Anh – Mỹ
(Common law), là từ 7 tuổi đến 14 tuổi.
Tại Nhật Bản, người phạm tội dưới 20 tuổi được xét xử tại một tòa án gia đình,
chứ không phải là trong hệ thống tòa án hình sự. Trong tất cả các nước Bắc Âu, tuổi trách
nhiệm hình sự là 15, và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi có thể đến một hệ thống tư pháp là
hướng chủ yếu đối với các dịch vụ xã hội, giam giữ như là phương sách cuối cùng. Tính
đến tháng 4 năm 1997, chỉ có 15 người chưa thành niên đang chấp hành hình phạt tù ở
Thụy Điển.
Ở Trung Quốc, trẻ em từ 14 đến 18 tuổi được xử lý bằng hệ thống tư pháp vị thành
niên và có thể bị kết án tù chung thân đối với tội đặc biệt nghiêm trọng.

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status