Vận dụng quan điểm dạy học kiến tạo vào dạy học số thập phân ở tiểu học - Pdf 31

1

B ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYÊN HÒNG PHƯƠNG

VẬN DỤNG Lí THUYÉT PHÁT TRIẺN BÀI TẠP VẠT Li
DẠY HỌC CHƯƠNG “ĐỌNG

Lực HỌC CHÁT ĐIẺM”

VẬT Lí LỚP 10 CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CAO

LUẬN VĂN THẠC s i KHOA HỌC GIẢO DỤC

NGHẸ AN, NĂM 2013


2

MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐÈ TÀI
Trong dạy học vật lí , bài tập là một phương tiện, phương pháp có hiệu
quả thực hiện các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục, phát triển tư duy và
nhiệm vụ giáo dục kĩ thuật tổng hợp. Chính vì vậy trong thực tế, nhiều lúc,
nhiều nơi đã tuyệt đối hóa bài tập vật lí, coi DHVL có nhiệm vụ chính là
dạy HS giải BTVL( Đặc biệt là các lớp luyện thi tốt nghiệp , luyện thi đại
học, bồi dưỡng học sinh giỏi...); Trong hiệu sách ngoài bộ sách giáo khoa
( 2 quyển) thì đa số là sách bài tập các loại, có khi cùng một nội dung vật lí
có đến hàng chục sách bài tập của nhiều tác giả; Phụ huynh và HS hoang



tinh thần cơ bản của lý thuyết này là từ một bài tập cơ bản phát triển

thành các bài tập tổng hợp khác nhau theo nhiều phương án khác nhau
nhằm phát huy các kiến thức cơ bản khác trong việc giải bài tập; GV xây
dựng BT và dạv cho HS cũng xây dựng BT; phân tích BT tổng hợp thành
bài tập cơ bản; kết quả HS vừa biết củng cố kiến thức lí thuyết, vừa biết
phương pháp giải BT và đặc biệt HS còn biết tự đặt bài tập để giải theo yêu
cầu của GV; biến HS từ chỗ thụ động giải BT do GV yêu cầu thành chủ
động đặt BT đế giải; đóp là một cách cụ thể thực hiện chiến lược dạy học
tập trung vào người học.
Chương “ Động lực học chất điểm” là một chương rất quan trọng trong
chương trình vật lí 10 THPT. Lượng bài tập nhiều và khó, rất nhiều HS
lúng túng không biết giải quyết bài tập như thế nào.
Với nhũng lí do trên tôi chọn đề tài: Vận dụng lý thuyết phát triển bài
tập vật lí dạy học chương “ Động lực học chất điểm ” Vật lí lớp 10
chương trình nâng cao.

2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN c ứ u


4

Vận dụng lý thuyết phát triển bài tập vật lý vào dạy học bài tập chương
“Động lực học chất điểm” lớp 10 chương trình nâng cao. nhằm nâng cao chất
lượng lĩnh hội kiến thức và rèn luyện kỹ năng giải bài tập của học sinh .
3. ĐỎI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN c ứ u
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Quá trình dạy học vật lý ở trường THPT.

6.3.Phương pháp thống kê toán học
Để xử lí kết quả điều tra và thực nghiêm sư phạm bằng công cụ toán học.
7. KÉT QUẢ NGHIÊN c ứ u
* về mặt lí lu ậ n: Hệ thống cơ sở lí luận về bài tập vật lí và lý thuyết phát
triển bài tập trong dạy học bài tập vật lý ở trường phổ thông.
* về mặt nghiên cứu thực tiên: Xây dựng được hệ thống bài tập chương
“Động học lực chất điểm” theo lí thuyết phát triển bài tập vật lí,từ 03 bài tập
cơ bản phát triển được 28 bài tập theo mức độ từ dơn giản đến phức tạp;thiết
kế 03 giáo án dạy học BTVLtheo lí thuyết phát triển bài tập . Tiến trình dạy
học bài tập vật lí sử dụng lý thuyết phát triển bài tập trong ôn tập, hệ thống
hóa kiến thức cho học sinh.

8. CẢU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận luận văn có 03 chương
Chương 1. Lý thuyết phát triển bài tập trong dạy học vật lý ở trường p h ổ
thông.
Chương 2. Xây dựng và sử dụng hệ thong bài tập chương ‘ Động học lực
chất điểm ” theo lý thuyết phát triển bài tập vật lý
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm
Tài liệu tham khảo
Phụ lục


6

Chương 1
DẠY HỌC BÀI TẬP VẬT LÍ THEO LÝ THUYÉT PHÁT TRIỀN BÀI TẬP
1.1 Chức năng của lí luận dạy học BTVL [14],[15],[17]
1.1.1. Khái niệm bài tập vật lí [15],[17]
Bài tập vật lí được hiểu là vấn đề được đặt ra đòi hỏi phải giải quyết

quan đến hiện tượng, quá trình vật lí sắp được nghiên cún, vừa tạo cho các em
cảm giác hưng phấn, kích thích tính tò mò, ham học, vừa định hướng cho các
em cái đích mà các em cần đạt được sau khi nghiên cứu vấn đề đó. Khi đã
định hướng được thì sự quan sát, chú ý có chủ định sẽ được nâng cao mà
không bị “loãng”, khắc phục được tình trạng GV giảng bài, HS không biết
thầy cô đang làm gì? Tại sao lại làm như thế? Bài học này có mục đích gì?
+ Hình thành tri thức, kỹ năng mới cho HS:
Một số bài tập thực hiện được chức năng này nhưng không phải nhiều. Có
lúc trong dạy học một số đề tài mà việc hình thành tri thức mới thực chất là hệ
thống hóa nhiều vấn đề riêng lẻ đã học để khái quát hóa quy nạp mà có (Ví dụ
như bài “Định luật bảo toàn cơ năng” vật lí lớp 10 cơ bản). Kết quả của những
bài tập loại này sẽ được khái quát hóa lại thành định luật, hệ quả, tri thức mới
cho HS. Cũng có trường hợp ngược lại, có những đề tài, bài học mà nội dung
của nó chính là sự diễn dịch: vận dụng trường hợp tổng quát cho từng trường
hợp cụ thể (Ví dụ: Khi dạy kiến thức “Động cơ phản lực” vật lí 10 cơ bản).
+ Ôn luyện, củng cố kiến thức, kỹ năng cho HS:
Đây là lĩnh vực mà BTVL phát huy tác dụng tốt nhất. Bởi vì BTVL là
phương tiện để GV giao cho HS những nhiệm vụ gắn liền với việc củng cố
các đường mòn liên hệ tạm thời của thần kinh trung ương về tri thức và kỹ
năng vừa học ở lớp, để họ tập dượt việc tìm kiếm các mối liên hệ giữa kiến


8

thức đã học và vận dụng chúng vào các tình huống: từ quen biết, quen biết có
biến đổi đến tình huống mới lạ.
Qua việc làm bài tập, không những rèn luyện cho HS năng lực ghi nhớ.
củng cố tri thức, kỹ năng đã học mà còn bắt buộc họ phải có những hoạt động
sáng tạo, như tìm ra mối liên hệ, những kỹ năng mà trong dạy học vật lí họ
chưa có điều kiện thực hành, thử nghiệm...

Điều này được thực hiện khi HS quen với bài tập thí nghiệm, các bài tập gắn
với giải quvết các vấn đề thực tiễn sản xuất và đời sống. Nhờ đó mà BTVL
góp phần đào tạo HS thành những người biết nhận thức thực tiễn và cải tạo
thực tiễn.
+ Giáo dục tư tưởng, đạo đức và nhân cách cho HS:
BTVL cũng là phương tiện giúp HS rèn luyện được những phầm chất tâm
lý quan trọng như sự kiên trì, nhẫn nại, có tính kế hoạch trong hoạt động nhận
thức, rèn luyện tính tự lực, tự giác trong hoạt động học tập.
+ Giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp:
Nhiều BTVL có nội dung kỹ thuật, nhiều bài gắn với thực tễ và nhiều bài
tập thí nghiệm có tác dụng giúp cho HS củng cố được những kỹ năng thực
hành, những hiểu biết cần thiết theo nội dung của giáo dục kỹ thuật tổng hợp
và hướng nghiệp.
1.1.3. Phân loại bài tập vật lí [14]
Có nhiều cách phân loại bài tập vật lí. Nếu dựa vào các phương tiện giải có
thể chia bài tập thành bài tập định tính, bài tập tính toán, bài tập thí nghiệm,
bài tập đồ thị. Nếu dựa vào mức độ khó khăn của bài tập đối với học sinh, có
thể chia bài tập vật lí thành bài tập tập dượt, bài tập tổng hợp, bài tập sáng tạo.
1.1.3.1. Bài tập định tính.


10

- Bài tập định tính là những bài tập mà khi giải, HS không cần phải thực
hiện các phép tính phức tập hay chỉ phải làm các phép tính đơn giản, có thể
tính nhấm được. Muốn giải những bài tập định tính, HS phải thực hiện những
phép suy luận logic, do đó phải hiểu rõ bản chất (Nội hàm) của các khái niệm,
định luật vật lí và nhận biết về những biểu hiện của chúng trong các trường
hợp cụ thể. Đa số các bài tập đính tính yêu cầu HS giải thích hoặc dự đoán
một hiện tượng xẩy ra trong những điều kiện xác định.

nhiều khái niệm, định luật, dùng nhiều công thức. Những kiến thức cần sử
dụng trong việc giải bài tập tổng hợp có thể là nhũng kiến thức đã học trong
nhiều bài trước. Loại bài tập này có tác dụng đặc biệt giuso HS đào sâu. mở
rộng kiến thức, thấy rõ những mối liên hệ khác nhau giữa các phần của
chương trình vật lí, tập cho HS biết phân tích những hiện tượng thực tế phức
tạp ra thành những phần đơn giản tuân theo một định luật xác định.
1.1.3.3. Bài tập thí nghiệm.
Bài tập thí nghiệm là bài tập yêu cầu xác định một đại lượng vật lí, cho
biết dụng cụ và vật liệu sử dụng, yêu cầu HS giải bài tập hoàn toàn theo con
đường thực nghiệm

hoặc là bài tập đòi hỏi phải làm thí nghiệm để kiểm

chứng lời giải lí th uyết.
Các BTTN ở trường phổ thông, thường khai thác sử dụng các dụng cụ thiết
bị thí nghiệm ở phòng thí nghiệm trong nhà trường hoặc HS sử dụng các thiết
bị tự làm.
Bài tập thí nghiệm cũng có thể có dạng định tính hoặc định lượng.
Ví dụ 1. Cầm đầu trên của một sợi dâv cao su có buộc quả nặng ở đầu dưới.
Sợi dây cao su dãn ra hay co lại , nếu ta đột ngột nâng lên cao hay hạ xuống
thấp? Hãy làm thí nghiệm kiểm tra dự đoán ( là BTTN định tính).
Ví dụ 2. Cho một khối gỗ hình hộp chữ nhật và một tấm ván phắng, hãy xác
định hệ số ma sát giữa khối gỗ và tấm ván? (là BTTN định lượng)


12

Bài tập thí nghiêm có nhiều tác dụng tốt về cả ba mặt giáo dưỡng, giáo dục và
giáo dục kỹ thuật tổng hợp, đặc biệt giúp làm sáng tỏ mối quan hệ giữa lv
thuyết và thực tiễn.

sinh chấp hành các hành động mà giáo viên chỉ ra, cứ theo đó học sinh sẽ giải
được các bài tập đã cho. Kiểu hướng dẫn này đòi hỏi giáo viên phải phân tích
một cách khoa học việc giải bài toán để xác định một trình tự chính xác, chặt
chẽ của các hành động cần thực hiện để giải các bài toán, cần đảm bảo cho
các hành động đó là hành động sơ cấp đối với học sinh, nghĩa là kiểu hướng
dẫn này đòi hỏi phải xây dựng được Algorit bài toán.
- Kiểu hướng dẫn Algorit thường được áp dụng khi cần dạy cho học sinh
phương pháp giải một bài tập điển hình nào đó, nhằm luyện tập cho học sinh
kỹ năng giải một bài toán xác định. Người ta xây dựng các Algorit giải cho
từng loại bài toán cơ bản, điển hình và luvện tập cho học sinh kỹ năng giải các
bài toán đó dựa trên việc làm cho học sinh được các Algorit giải.
- Kiểu hướng dẫn Algorit có ưu điểm là bảo đảm cho học sinh giải bài
taosn đã cho một cách chắc chắn, nó giúp cho việc rèn luvện kỹ năng giải bài
toán của học sinh có hiệu quả. Tuy nhiên, nếu chỉ hướng dẫn học sinh luôn
luôn áp dụng kiểu Algorit để giải bài toán thì học sinh chỉ quen chấp hành
những hành động đã được chỉ dẫn theo mẫu đã có sẵn, do vật lí có tác dụng
rèn luyện cho học sinh khả năng tìm tòi, sáng tạo và sự phát triển tư duy bị
hạn chế.
1.1.4.2. Hướng dẫn tìm tòi (oTÌxtic)
-

Hướng dẫn tìm tòi là kiểu hướng dẫn mang tính chất gợi ý cho học

sinh suy nghĩ, tìm tòi, phát hiện cách giải quyết vấn đề. Ở đây không phải là
giáo viên chỉ dẫn cho học sinh chấp hành các hành động theo hướng đã có để


14

đi đến kết quả. mà giáo viên gợi mở để học sinh tự tìm cách giải quyết, tụ’ xác

nhằm giúp học sinh tự giải được bài toán đã cho, đồng thời dạv cho học sinh
cách suy nghĩ trong quá trình giải bài toán.
- Kiểu hướng dẫn này có ưu điểm kết hợp được việc thực hiện các yêu
cầu:
+ Rèn luyện tư duy của học sinh trong quá trình giải toán.
+ Đảm bảo để học sinh giải được bài toán đã cho.
- Đe làm tốt thì vêu cầu giáo viên phải theo sát tiến trình hoạt động giải
toán và có sự điều chỉnh thích hợp với từng đối tượng học sinh.
1.1.5. Các hình thức dạy học bài tập vật lí.
1.1.5.1. Dạy học bài tập vật lí trong tiết học tài liệu mới
Vào đầu tiết học, các bài tập được đưa ra cho học sinh nhằm mục đích
kiểm tra kiến thức, hoặc để củng cố tài liệu đã học. Giáo viên thường sử dụng
các biện pháp sau:
- Cho học sinh lên bảng và yêu cầu học sinh giải bài tập do giáo viên
đưa ra. Tùy thuộc vào mức độ nội dung của bài tập mà có thể cho học sinh lên
bảng lần lượt từng em hoặc đồng thời vài ba em.
- Cho học sinh giải bài tập mà giáo viên đưa ra vào giấy nháp, sau đó trình bày.
- Sử dụng các bài tập nhằm mục đích khái quát hóa kiến thức đã cho. nêu
được vấn đề sắp được nghiên cứu trong tiết học. Khi nghiên cứu tài liệu mới,
tùy theo nội dung của tài liệu và phương pháp giảng dạy, các bài tập có thể là
một phương tiện đóng vai trò minh họa cho kiến thức mới hoặc là một phương
tiện để rút ra kiến thức mới. Ở giai đoạn củng cố tài liệu mới, các bài tập được
đưa ra yêu cầu học sinh phải vận dụng kiến thức mới để giải quyết với thời
lượng khoảng 10 phút. Ở đây, tốt hơn cả là giáo viên phân tích bài tập tạo cho
được không khí hứng khởi đối với học sinh để giải quyết vấn đề bài tập đặt ra.


16

1.1.5.2. Dạy học bài tập trong tiết thực hành giải bài tập vật lí.

phút. Trong quá trình giải bài tập. giáo viên phải luôn lun ý tới những học sinh
còn yếu, nhắc nhở, động viên, khích lệ và đặt ra những câu hỏi nhằm giúp các
em gỡ bỏ được những khúc mắc mà do tâm lí e ngại không dám thể hiện ra.
4. Tổng kết ra bài tập về nhà (5 phút)
1.1.5.3. Dạy học bài tập trong tiết ôn tập tổng kết hệ thống hóa kiến thửc.
Trong tiết ôn tập, loại bài tập thường sử dụng là các bài tập có tính phát
triển, cho phép khái quát hóa nội dung các bài tập tạo điều kiện đi sâu vào giải
thích các hiện tượng vật lí. Đặc biệt là các bài tập có tính chất tổng hợp giúp
học sinh liên hệ rộng tới các đơn vị kiến thức đã học, khắc sâu thêm kiến thức,
hệ thống hóa các khái niệm, các định luật, các công thức cần nắm để vận dụng
chúng.
Chúng tôi đề xuất cấu trúc của tiết học theo qui trình:
1. HS giải bài tập trắc nghiệm khách quan ( 10 phút)
2. Học sinh giải bài tập cơ bản (10 phút)
3. Giải bài tập tổng hợp (20 phút)
4. Tổng kết ra bài tập về nhà ( 5 phút)
1.1.5.4. Bài tập trong kiểm tra đánh giá kiến thức, kỹ năng của học sinh
Bài tập kiểm tra là một phương tiện để đánh giá mức độ nắm vững kiến
thức, khả năng vận dụng kiến thức của học sinh. Khi giải bài tập, học sinh
phải làm việc hoàn toàn độc lập. Tùy theo việc đánh giá mà giáo viên có thể
vận dụng một trong hai hình thức sau đây:
-

Kiểm tra nhanh: Hình thức này thường dùng để tìm hiểu trình độ, khả

năng xuất phát của học sinh để làm cơ sở cho việc nghiên cứu, chọn lựa nội
dung cũng như phương pháp giảng dạy cho phù hợp, sát đúng với đối tượng


18



19

bài tập phức tạp, được cung cấp những thông tin hấp dẫn về bộ môn từ phía
giáo viên hoặc từ những thành viên khác của nhóm như các bản tổng kết, các
báo cáo nêu lên ý nghĩa của các hiện tượng vật lí đã được nghiên cứu, thực
hành về vật lí nhiều hơn.....Như vậy, giải bài tập vật lí theo nhóm có tác dụng
tích cực và trực tiếp đến kết quả học tập của học sinh, phát triển thế giới quan,
bồi dưỡng được phương pháp nhận thức khoa vật lí, trang bị các kĩ năna giải
bài tập, tinh thần hợp tác giải quyết vấn đề, v.v...
Các cuộc thi học sinh giỏi vật lí của chúng ta hiện tại là một dạng của ngoại
khóa vật lí. Vì đề thi chưa thể hiện được phần thực hành của học sinh, nên tác
dụng giáo dục bộ môn này còn hạn chế.
Vì vậy, để công tác ngoại khóa vật lí đúng nghĩa của nó, giáo viên nên lập
nhóm học sinh yêu thích môn vật lí, tổ chức cho các em làm việc với bài tập
sáng tạo tuyển chọn từ nhiều nguồn, trong đó phải lun ý tới các bài tập sáng
tạo được xây dựng từ những bài tập luyện tập, bài tập có nội dụng thực tế.
BTVL rất đa dạng và phong phú, mang đầy đủ ý nghĩa giáo dục, phát
triển tư duy, giáo dưỡng và giáo dục kĩ thuật tổng hợp. Giải BTVL đòi hỏi ở
học sinh hoạt động trí tuệ tích cực, tự lập và sáng tạo.
Dạy học bài tập vật lí phát huy được các chức năng lí luận dạy học của bài
tập và khai thác ở các hình thức dạy học khác nhau như đã trình bày ở mục 1.1
đòi hỏi tự nghiên cún và trải nghiệm. Có nhiều con đường xây dựng BT dùng
cho dạy học song việc tổng kết thành lí thuyết thì còn chưa được công bố
nhiều.
Tác giả Phạm Thị Phú sau nhiều năm nghiên cứu, tổng kết, thực nghiệm
qua một số đề tài luận văn cao học đã công bố lý thuyết phát triển BTVL[11],
Lý thuyết này cho phép vận dụng dạy học BTVL khá thành công trong nhiều
chương của giáo trình vật lí phổ thông. Trong khuôn khổ đề tài luận văn


+ Chọn hoặc đặt đề bài tập.
+ Xác định dữ kiện, ẩn số
+ Mô hình hóa đề bài và hướng giải.

-

Từ BTCB, có thể phát triển thành những BTTH muôn hình, muôn vẻ. v ề

mặt lý luận có thể khái quát thành năm hướng phát triển bài tập như sau:
Phương án 1: Hoán vị giả thiết và kết luận của BTCB để được BTCB
khác có độ khó tương đương.

-

Dữ kiện bài toán không liên hệ trực tiếp với ấn số bằng phương trình biểu

diễn kiến thức cơ bản mà liên hệ gián tiếp thông qua cái chưa biết trung gian
a, b,.. nhờ phương trình biểu diễn kiến thức cơ bản khác. Phát triển giả thiết
BTCB là thay giả thiết của bài tập đó bằng một số BTCB khác buộc tìm các
đại lượng trung gian là cái chưa biết liên hệ dữ kiện với ấn số.


22

- Mức độ phức tạp phụ thuộc vào số bài toán trung gian (số cái chưa biết).
Tùy thuộc vào đối tượng học sinh mà tăng hoặc giảm số bài toán trung gian.
Phương án 3: Phát triển kết luận BTCB
-


Mức độ phức tạp phụ thuộc số bài toán trung gian (số ẩn sô trong bài

toán trung gian).
Phương án 4: Đồng thời phát triển giả thiết và kết luận của BTCB (Kết
hợp hướng 1 và hướng 2).


23

Phương án 5: Đồng thời phát triển giả thiết, kết luận và hoán vị giả thiết kết
luận (kết hợp cả 4 hướng trên).
1.2.3. Tại sao trong dạy học BTVL cần vận dụng lý thuyết phát triển BTVL?
- Vai trò của BTVL trong dạy học vật lí là hết sức quan trọng, việc sử dụng
chúng trong giờ học lại càng quan trọng trong việc phát triển tính tích cực
nhận thức của học sinh.
- Để nâng cao hiệu quả của một giờ dạy BTVL, đặc điểm nâng cao hiệu quả
của BTVL có sự hướng dẫn của GV, chúng ta không nên thỏa mãn với việc
tìm ra lời giải và đáp số mà hãy nhìn nhận bài tập dưới góc độ khác nhau, với
những lời giải khác nhau (nếu có), hãy xem xét ý nghĩa các số liệu, đối chiếu
chúng VỚI thực tế, rút ra những nhận xét bổ ích, chỉ ra được mấu chốt của từng
lời giải, đâu là cái mới, cái cũ... Nói cách khác, chúng ta phải mổ xẻ bài tập
vừa chữa cũng như lời giải bài tập đó để tìm ra cái mới trong đó.


24

- Mặt khác, trong thực tế dạy học học sinh, thường gặp nhiều bài tập cùng
dạng tuy chúng có thể khác nhau về cách diễn đạt nhưng lại dùng những công
thức, kiến thức giống nhau để lập luận và tìm ra lời giải. Nếu như vậy thì sẽ
không hiệu quả khi chúng ta yêu cầu học sinh cứ giải hết bài tập này đến bài

1.2.4.

Quy trình dạy học một bài học BTVL theo lý thuyết phát triển DHVL

Dạy học một bài học BTVL theo lý thuyết phát triển DHVL thực hiện theo
quy trình sau:
- Giáo viên xác định hệ thống BTCB của chương
+ Xác định nội dung kiến thức cơ bản của chương
+ Các phương trình biểu diễn
+ Lựa chọn BTCB
+ Mô hình hóa bài tập
- Học sinh giải BTCB (tập dượt để hiểu rõ và ghi nhớ kiến thức cơ bản)
- Giáo viên khái quát hóa phương pháp giải BTCB và phân tích bài tập các
dữ kiện a, b, c... liên hệ với X bằng những phương trình, kiến thưc cơ bản là
f(a,b,c) = f. Nắm được phương trình này sẽ giải quyết được hàng loạt bài tập
khác.
- Giáo viên phát triển bài tập bằng cách hoán vị giả thiết, kết luận để được
BTCB có độ khó tương đương.
- Giáo viên yêu cầu học sinh phát triển bài tập theo hướng 1 (làm theo mẫu)
bằng ngôn ngữ nói. Điều này có tác dụng tốt trong việc học sinh nắm vững
kiến thức cơ bản và bồi dưỡng năng lực diễn đạt bằng ngôn ngữ nói cho học
sinh.
Giáo viên phát triển BTCB theo hướng phát triển giả thiết hoặc phát triển
kết luận, giáo viên có thể phân tích: nếu trong BTCB không cho a mà cho ah
a2,a3 (a liên hệ với aj,a 2,a.Ị bằng kiến thức cơ bản mà học sinh đã học) thì các


Trích đoạn Giáo án số 2: Tiết 32(Theo PPCT) Bàitập về các lực cơ học Phương pháp thực nghiệm sư phạm Phân tích kết quả thực nghiệm KÉT LUẬN CHƯƠNG
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status