quy hoạch môi trường vùng bãi bồi ven biển huyện Kim Sơn - tỉnh Ninh Bình - Pdf 31

Nguyn Th Thu Trang-Cao hc K13 Lun vn tt nghip

 xut quy hoch môi trng vùng bãi bi ven bin huyn Kim Sn, tnh Ninh
Bình
1
Mở đầu
Trong những năm gần đây vấn đề môi trường biển và đới ven bờ đã và đang
được nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau quan tâm. Môi trường của
các vùng đất ngập mặn là một phần không thể thiếu thuộc đới ven bờ của mọi quốc
gia có biển. Vùng đất ngập mặn được coi là nơi rất nhạy cảm về môi trường hiện
nay bởi lẽ ở đó có tương tác trực tiếp giữa đất liền và biển. Mọi biến động về môi
trường cả phía đất liền cũng như biển đều lưu lại dấu tích trong vùng đất đó. Vì vậy,
việc nghiên cứu, đánh giá tổng thể hiện trạng môi trường và đề xuất các giải pháp
sử dụng hợp lý các vùng đất ngập mặn ven biển nước ta hiện nay là một yêu cầu
thời sự và cấp bách.
Huyện Kim Sơn được thành lập năm 1892 và là huyện ven biển duy nhất của
tỉnh Ninh Bình. Do vị trí nằm kẹp giữa sông Đáy ở phía đông và sông Càn ở phía
tây, nên phần lớn đất đai của huyện được hình thành bởi quá trình bồi tụ của hai con
sông này tạo nên. Lịch sử phát triển huyện Kim Sơn gắn liền với 9 lần quai đê lấn
biển. Cho đến nay, tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 20.747 ha, trong đó
vùng bãi bồi Kim Sơn có diện tích khoảng 6.660 ha và chia ra 4 khu vực như sau:
- Khu vực Bình Minh 1: Khu vực trong đê Bình Minh 1 thuộc Nông trường
Bình Minh.
- Khu vực Bình Minh 2: từ đê Bình Minh 1 đến đê Bình Minh 2.
- Khu vực Bình Minh 3: từ đê Bình Minh 2 đến đê Bình Minh 3.
- Khu vực Bình Minh 4: từ ngoài đê Bình Minh 3 đến mép triều kiệt.
Trong đó, hai khu vực Bình Minh 3 và Bình Minh 4 là khu vực đất ngập mặn
chịu ảnh hưởng trực tiếp của thuỷ triều lên xuống hàng ngày do đê Bình Minh 3
chưa được khép kín.
Bãi bồi Kim Sơn là vùng đất mở. Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, mỗi
năm mảnh đất này có tốc độ lấn ra biển trung bình từ 80 - 100m. Đây là khu vực có


Nguyn Th Thu Trang-Cao hc K13 Lun vn tt nghip

 xut quy hoch môi trng vùng bãi bi ven bin huyn Kim Sn, tnh Ninh
Bình
3
CHƯƠNG 1
1.1. TổNG QUAN Về QUY HOạCH MÔI TRƯờNG
1.1.1. Khái niệm về quy hoạch môi trường
Trong tài liệu hướng dẫn về Phương pháp luận quy hoạch môi trường do Cục
môi trường thuộc Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường ban hành (tháng 12/1998)
đã đưa ra khái niệm về QHMT như sau: “QHMT là quá trình sử dụng có hệ thống
các kiến thức khoa học để xây dựng các chính sách và biện pháp trong khai thác và
sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường nhằm định hướng các hoạt động
phát triển trong khu vực, đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững.
Thực chất của công tác QHMT là việc tổ chức không gian lãnh thổ và sử
dụng các thành phần môi trường phù hợp với chức năng môi trường và điều kiện tự
nhiên trong vùng quy hoạch. Mặt khác, không gian lãnh thổ đều được sử dụng cho
các hoạt động KT - XH của con người. Vì vậy QHMT cũng có thể ngoài quy hoạch
mới về chức năng môi trường không gian còn có thể là việc điều chỉnh không gian
và các thành phần môi trường đã có làm sao để việc khai thác sử dụng chúng phù
hợp với chức năng môi trường của mình. Như vậy thực chất của công tác QHMT
lãnh thổ là điều hoà sự phát triển của hệ thống KT - XH. Môi trường đang tồn tại ở
đó. Mục tiêu của sự điều hoà này là đảm bảo một cách bền vững sự phát triển KT-

- Quy hoạch sinh thái cảnh quan (chức năng tự nhiên của cảnh quan, các hệ
sinh thái, các khu hệ động thực vật, đa dạng sinh học, các lưu vực và mạng lưới
sông ngòi).
- Quy hoạch sinh thái đô thị (sử dụng các nhiên liệu hoá thạch liên quan đến
khí nhà kính và các chất gây ô nhiễm khác, chất thải sản xuất và sinh hoạt, sinh thái
cảnh quan đô thị).
Các bước nghiên cứu trong QHMT được thể hiện trong Hình 1.
1.1.3. Các hoạt động triển khai về quy hoạch môi trường trên Thế giới và ở Việt
Nam
1.1.3.1. Quy hoạch môi trường trên Thế giới
Ngay từ những năm đầu của thế kỷ 19 đã xuất hiện quan niệm QHMT rộng
rãi trong công chúng. Lý thuyết về QHMT đã được phát triển liên tục từ nhà xã hội
học Nga Pháp, Le Play, đến nhà quy hoạch Scotlen, Sir Patrick Geddes, và sau đó là
người học trò người Mỹ của ông, Lewis Mumford, và sau này là Ian McHarg tác giả
Nguyn Th Thu Trang-Cao hc K13 Lun vn tt nghip

 xut quy hoch môi trng vùng bãi bi ven bin huyn Kim Sn, tnh Ninh
Bình
5
của Thiết kế cùng tự nhiên (Design with Nature). QHMT đã thực sự được quan tâm
từ khi xuất hiện Phong trào môi trường (Environmental Movement) ở Mỹ vào
những năm 60, khi mà các quốc gia phát triển trên thế giới quan tâm một cách
nghiêm túc tới các thông số môi trường trong quá trình xây dựng chiến lược phát
triển.
Kinh nghiệm về lý thuyết và thực hành quy hoạch vùng ở châu Âu, châu Mỹ
và châu á khác nhau rất nhiều. Ngay tại Mỹ nhiều lúc, các nhà quy hoạch vùng đã
từng bị coi là không thực tế và vai trò của khoa học môi trường đối với các nhà quy
hoạch ít gây được chú ý của công chúng. ở úc, các yếu tố môi trường được đem vào
quy hoạch vùng ngay từ năm 1941.
ở châu á, quy hoạch phát triển vùng phát triển nhất tại Nhật Bản. Khởi đầu từ

môi
trng
ánh
giá
tng
hp
cht
lng
môi
trng
Quy hoch môi trng
ánh giá hin
trng kinh t - xã
hi v môi
trng
D báo phát trin kinh
t -xã hi (nu cha
có) và dà báo biàn
ng ti nguyên v
môi trng
Phân tích, ánh
giá chc nng
môi trng
Qun lý môi trng theo
phng án QHMT. Các chính
sách, quy nh, bin pháp,
công c môi trng thích
hp
D báo
phát

cp ti
nguyên
Khu
vc
công
nghip
Cht
thi,
h
thng

thi
Phân vùng chc nng môi trng
S  QHMT cho các hnh ng phát trin
Hình 1: S  các bc nghiên cu trong QHMT
Nguyn Th Thu Trang-Cao hc K13 Lun vn tt nghip

 xut quy hoch môi trng vùng bãi bi ven bin huyn Kim Sn, tnh Ninh
Bình
7
Hiện nay, vấn đề QHMT đã được quan tâm và phát triển ở nhiều nước trên
thế giới. Một số tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát
triển châu á (ADB) đã phát hành nhiều tài liệu hướng dẫn và giới thiệu kinh nghiệm
về QHMT ở nhiều nước trên thế giới.
1.1.3.2. Quy hoạch môi trường ở Việt Nam
Trong những năm qua, cùng với sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá
đất nước, nhiều vùng kinh tế trọng điểm đã hình thành bao gồm vùng kinh tế trọng
điểm miền Bắc, vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam. Gần đây các địa phương đang đề nghị Chính phủ cho phép thành lập
vùng kinh tế trọng điểm Tây Nguyên và vùng kinh tế trọng điểm Đồng bằng Sông

Công cụ QHMT thường bao gồm công cụ thực hiện QHMT và công cụ quản
lý QHMT.
Công cụ thực hiện QHMT
- Công cụ pháp lý
Công cụ có tính tiên quyết, quyết định mọi nội dung, công việc của QHMT.
QHMT được thực hiện luôn phải xuất phát điểm từ các thể chế, chính sách của
chính đối tượng được quy hoạch (quốc gia, tỉnh, khu vực). Đó là các văn bản luật
môi trường; nghị định, thông tư, các chính sách, chiến lược quản lý môi trường. Tất
cả các công cụ này được vận dụng phù hợp trong quá trình quy hoạch.
- Công cụ kỹ thuật
Công cụ kỹ thuật là công cụ chủ đạo quyết định hiệu quả việc thực hiện
QHMT. Để lập QHMT trước hết phải có các thông tin dữ liệu nền, thường là:
+ Hiện trạng môi trường (cả tự nhiên và kinh tế - xã hội, xuất phát điểm)
+ Hiện trạng khai thác sử dụng các loại tài nguyên thiên nhiên và nhân lực
+ Các chiến lược BVMT
+ QHPTKTXH
+ Quy hoạch quản lý tài nguyên thiên nhiên
+ Quy hoạch sử dụng đất đai
+ Các thông số nền
Tiếp đến là các phương tiện, công nghệ thực hiện như: máy móc, trang thiết
bị và yếu tố quan trọng là đội ngũ cán bộ chuyên môn có trình độ, năng lực cao, am
hiểu các lĩnh vực QHMT.
Nguyn Th Thu Trang-Cao hc K13 Lun vn tt nghip

 xut quy hoch môi trng vùng bãi bi ven bin huyn Kim Sn, tnh Ninh
Bình
9
- Công cụ kinh tế
Công cụ kinh tế là công cụ có tính đảm bảo cho việc thực hiện QHMT. Khi
lập QHMT, ngay từ khâu đầu tiên (chuẩn bị, lập đề cương) phải tính đến: đầu vào

phía Bắc giáp đê Tùng Thiện và đê Cồn Thoi. Vùng bãi bồi Kim Sơn có điều kiện
thuận lợi về giao thông đó là lợi thế về con đường số 10 là huyết mạch giao thông
giữa các vùng ven biển đồng bằng châu thổ Sông Hồng.
Nguyn Th Thu Trang-Cao hc K13 Lun vn tt nghip

 xut quy hoch môi trng vùng bãi bi ven bin huyn Kim Sn, tnh Ninh
Bình
10
1.2.1.2. Đặc điểm khí hậu
Chế độ gió
Hướng gió thịnh hành trong vùng thay đổi theo tần suất xuất hiện các khối
không khí xâm nhập và thay đổi theo mùa. Chế độ gió trong vùng chịu tác động
trực tiếp của hai hướng gió thổi chính trong năm là gió đông bắc và gió đông nam.
Gió đông bắc thịnh hành vào mùa khô, tốc độ trung bình khoảng 34 m/s, còn gió
đông nam thịnh hành vào mùa mưa, tốc độ trung bình khoảng 45 m/s. Trong một
ngày gió thường thổi từ đất liền ra biển vào ban ngày và từ biển vào đất liền vào ban
đêm.
Chế độ nhiệt
Chế độ nhiệt ở Kim Sơn nằm trong nền nhiệt độ chung của Bắc Việt Nam
với sự hoạt động mạnh mẽ của cơ chế gió mùa. Nhìn chung chế độ nhiệt ở Kim Sơn
có đặc điểm phân chia theo mùa tương đối rõ rệt và có sự biến động lớn về nhiệt về
mùa đông, ổn định về mùa hạ.
Vào mùa đông được đặc trưng bởi sự hoạt động mạnh mẽ của không khí lạnh
cực đới làm cho nhiệt độ hạ thấp rõ rệt so với vùng nhiệt đới tiêu chuẩn. Mùa lạnh ở
Kim Sơn có thể bắt đầu từ tháng XII đến tháng III với nhiệt độ dao động trong
khoảng 15 - 20
0
C. Vào mùa hạ lại đặc trưng bởi các luồng không khí nóng ẩm nên
làm tăng nhanh nhiệt độ và ổn định nhanh chóng. Mùa nóng kéo dài từ tháng V đến
tháng X với nhiệt độ trung bình ổn định lớn hơn 25

bình có thể thấp hơn 60 - 70%. Vào thời kỳ ẩm (tháng II - IV) trùng với mùa mưa
phùn nên là thời kỳ rất ẩm, độ ẩm tương đối trung bình xấp xỉ 90%.
- Mùa mưa: thường xuyên duy trì tình trạng độ ẩm cao, trị số độ ẩm tương
đối trung bình mùa đều đạt trên 82%. Tuy nhiên chúng biến thiên theo các tháng
khác nhau. Vào các tháng V - VII độ ẩm tương đối có trị số thấp hơn các tháng
khác. Vào nửa sau của mùa mưa độ ẩm không khí luôn duy trì từ 85 - 90%.
Điều kiện bức xạ
Là một vùng nằm trong vùng nội chí tuyến, có độ cao mặt trời lớn, thời gian
chiếu sáng dài nên vùng ven biển Kim Sơn có được một chế độ bức xạ rất dồi dào
với bức xạ thực tế hàng năm đạt tới trị số 120 Kcal/cm
2
/năm. So với tổng lượng bức
xạ lý thuyết thì tổng lượng bức xạ thực tế chỉ chiếm 50 - 60%. Sự phân bố tổng
lượng bức xạ thực tế hàng tháng có sự biến thiên và có sự khác biệt giữa sự biến
thiên của chúng với sự biến thiên của bức xạ lý thuyết hàng tháng. Trị số bức xạ
thực tế cao nhất vào tháng VII (14,64 Kcal/cm
2
) và thấp nhất vào tháng II (5.50
Kcal/cm
2
)
Nguyn Th Thu Trang-Cao hc K13 Lun vn tt nghip

 xut quy hoch môi trng vùng bãi bi ven bin huyn Kim Sn, tnh Ninh
Bình
12
Sương mù
Sương mù ở Kim Sơn được hình thành nhiều nhất trong mùa đông, bắt đầu
xuất hiện từ tháng X (dạng sương mù bức xạ) nhưng nhiều nhất vẫn là tháng III
(chủ yếu dạng sương mù bình lưu). Trung bình tháng có từ 4 - 6 ngày sương mù;

Đồng Hướng, Kim Chính, Thượng Kiệm, Lưu Phương, Cồn Thoi, Kim Đông. Lưu
lượng nước đoạn sông này về mùa mưa khoảng 13.500 m
3
/s và vào mùa khô
khoảng 5600 m
3
/s. Sông Đáy là một trong những sông có tải lượng phù sa từ đất
liền đổ ra biển lớn khoảng 18.000.000 m
3
và tỷ lệ bùn cát đọng lại ở đới ven bờ rất
cao khoảng 7.380.000 m
3
.
- Sông Tống Càn: Sông bắt nguồn từ Bỉm Sơn Thanh Hoá, chảy qua Hà
Trung Nga Sơn rồi trở thành ranh giới tự nhiên của Kim Sơn - Ninh Bình và Nga
Sơn - Thanh Hoá từ xã Định Hoá qua xã Vân Hải, Kim Mỹ, Kim Hải rồi đổ ra biển.
Đoạn chảy qua vùng nghiên cứu của sông Tống Càn dài khoảng 9 km. Đây là một
con sông nhỏ, hẹp dòng chảy chậm. Lưu lượng về mùa mưa khoảng 2500 m
3
/s và
mùa khô khoảng 1200 m
3
/s. Sông Tống Càn chảy dọc vùng đồng bằng Hà Trung,
Nga Sơn Thanh Hoá hướng tây - đông rồi mới đổ ra biển nên lượng phù sa hàng
năm tải ra biển không nhiều. Tuy nhiên cũng góp phần tăng lượng bồi tụ cho khu
vực nghiên cứu.
- Sông Vạc: Sông này bắt nguồn từ hai nhánh sông Chanh và sông Luồn của
sông Hoàng Long (đổ ra sông Đáy ở Gián Khẩu) chảy qua các huyện Yên Khánh,
Yên Mô rồi qua Kim Sơn và đổ vào sông Đáy ở xã Thượng Kiệm (hướng chảy
chính là tây bắc - đông nam). Nhìn chung đây là một con sông nhỏ, hẹp. Lưu lượng

ở các vùng bãi triều ngập nước khi triều lên, nổi cạn khi triều xuống thường
tạo nên các dòng triều chảy gần vuông góc với đường bờ. Trong phạm vi vùng ngập
mặn Kim Sơn - Ninh Bình vì phần lớn diện tích đã được khoanh lô làm đầm, ao
nuôi thuỷ, hải sản nên các dòng triều chỉ còn quan sát thấy ở phần bãi triều có rừng
ngập mặn ở sát ngoài đê ngăn mặn cuối cùng. Qua quan sát thấy trong diện tích bãi
triều này có 3 dòng triều lớn thường xuyên có nước, nơi có các thuyền nhỏ có thể ra
vào, còn lại là các dòng tạm thời. Độ dài các dòng triều ở đây không lớn thay đổi từ
1 - 2 km. Hướng chảy gần như bắc nam hoặc lệch đông bắc - tây nam. Tại một số
chỗ tiếp xúc với đê ngăn mặn của các dòng triều lớn đã được xây cống để điều tiết
nước biển vào đầm nuôi thuỷ sản ở trong đê.
- Dòng sóng, gió
Dọc theo đới ven bờ khu vực đồng bằng Bắc Bộ thường có các dòng chảy do
hoạt động của sóng, gió tạo ra. Hướng chảy chung của các dòng chảy này là đông
bắc - tây nam. Tuy nhiên qua quan sát của nhiều nhà nghiên cứu thấy rằng dòng
chảy này khi đến gần cửa Đáy lại đổi hướng bắc nam do tác động của dòng chảy
Nguyn Th Thu Trang-Cao hc K13 Lun vn tt nghip

 xut quy hoch môi trng vùng bãi bi ven bin huyn Kim Sn, tnh Ninh
Bình
15
của sông Đáy. Yếu tố này phần nào hạn chế sự tương tác vật liệu do dòng sóng và
dòng sông đưa đến vùng và do đó làm cho các thành tạo trầm tích tầng mặt ở vùng
nghiên cứu có nguồn gốc sông trội hơn nguồn gốc biển. Tỷ lệ bùn sét nhiều hơn so
với cát.
1.2.1.4. Đặc điểm địa hình
Phạm vi của vùng nghiên cứu thuộc phần phía tây nam đồng bằng Bắc Bộ,
nhìn chung vùng có địa hình khá đơn giản, có thể phân chia thành 2 dạng sau:
Địa hình đồng bằng ven biển
Đây là dạng địa hình chiếm hầu hết diện tích của vùng nghiên cứu. Nhìn
chung địa hình này khá bằng phẳng, hơi nghiêng về phía biển. Độ cao thay đổi từ

triều không phân nhánh, là hệ thống dày đặc các kênh tưới tiêu nhân tạo và hệ thống
đầm hồ nuôi thuỷ sản rất phát triển. Các hệ thống này là kết quả của quá trình đào
đất, đắp đê lấn biển và dẫn nước phục vụ sản xuất và giao thông nội vùng.
Sông Đáy và sông Càn là hai sông có ý nghĩa lớn đối với quá trình hình
thành và phát triển bãi bồi ở đây. Đây là hai kênh chính dẫn vật liệu tới bồi tụ tại
đây. Không những vậy hai sông còn là nguồn cung cấp nước ngọt chính trong vùng
để cải tạo biến vùng đất mặn trở thành các đồng lúa, vườn cây, làng xóm trù phú
như hiện nay.
Theo tài liệu quan trắc lưu lượng của trạm khí tượng thuỷ văn Nam Định từ
năm 1996 – 2003, chỉ riêng sông Đáy hàng năm đã đổ ra biển với lưu lượng từ 213
m
3
/s đến 2.980 m
3
/s. Nếu lấy giá trị thấp nhất vào mùa khô là 213 m
3
/s thì lượng
nước mặt của sông Đáy có thể khai thác được là 18.403.200 m
3
/ngđ. Nếu ước tính
lưu lượng thấp nhất vào mùa khô của sông Càn là 100 m
3
/s thì lượng nước mặt sông
Càn có thể khai thác được là 8.640.000 m
3
/ngđ. Nếu ước tính lưu lượng thấp nhất
của hai kênh tiêu mặn là 20 m
3
/s thì lượng nước mặt của hai kênh tiêu mặn có thể
khai thác được là 1.728.000 m

 xut quy hoch môi trng vùng bãi bi ven bin huyn Kim Sn, tnh Ninh
Bình
17
- Các thành tạo địa chất rất nghèo nước
+ Các thành tạo địa chất rất nghèo nước Hệ tầng Hải Hưng trên (mQ
IV
1-2
hh
2
)
+ Các thành tạo địa chất nghèo nước Hệ tầng Vĩnh Phúc trên (Q
III
2
vp)
Trong các tầng chứa nước trong khu vực thì chỉ có tầng chứa nước lỗ hổng
Pleistocen giữa - trên, Hệ tầng Hà Nội (tầng cát hạt thô màu trắng hoặc vàng nhạt)
và tầng chứa nước khe nứt, khe nứt - karst Trias giữa Hệ tầng Đồng Giao (tầng đá
vôi màu xám) là hai phân vị địa tầng địa chất thuỷ văn duy nhất có khả năng cung
cấp nước nước ngọt phục vụ cho mục đích sinh hoạt.
Trong khu vực nghiên cứu, tầng chứa nước Pleistocen không nằm xuất lộ
trên bề mặt địa hình mà bị phủ hoàn toàn bởi các trầm tích trẻ hơn. Diện tích phân
bố của tầng chứa nước khá rộng, kéo dài từ Nam nông trường Bình Minh ra đến
biển và trải rộng từ sông Đáy đến Đông xã Thanh Hải. Chiều sâu phân bố và bề dày
tầng chứa nước tăng dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Chiều sâu cả tầng nước thay
đổi 48 - 110 m cách mặt đất, chiều dày từ 3 - 20 m.
Tầng chứa nước khe nứt, khe nứt karst phân bố ở phần Tây khu vực nghiên
cứu; chủ yếu ở phần Tây xã Kim Hải. Chúng không nằm lộ trên bề mặt địa hình mà
bị phủ hoàn toàn bởi các trầm tích Đệ tứ trẻ hơn; nằm ở độ sâu từ 54 - 60m, chiều
dày tầng chứa nước đạt 720 m.
Do tầng chứa nước khe nứt, khe nứt – karst Trias Hệ tầng Đồng Giao chưa

: Trữ lượng tĩnh trọng lực (m
3
/ngđ)
 : Hệ số khai thác vào trữ lượng tĩnh tự nhiên, lấy  = 0,3

Nguyn Th Thu Trang-Cao hc K13 Lun vn tt nghip

 xut quy hoch môi trng vùng bãi bi ven bin huyn Kim Sn, tnh Ninh
Bình
18
Trong thực tế, trong các yếu tố hình thành trữ lượng tiềm năng khai thác còn
có các nguồn từ ngoài vào gọi là “trữ lượng cuốn theo”, song với mức độ nghiên
cứu hiện tại chưa đủ điều kiện xác định chúng nên trong tính toán được tạm bỏ qua.
a/ Trữ lượng động tự nhiên
Trữ lượng động tự nhiên được tính toán bằng phương pháp mặt cắt theo công
thức sau:
Q
đ
= Km I B
tb
Trong đó: Km: hệ số dẫn nước, m
2
/ngđ
I: độ dốc thuỷ lực
B
tb
: chiều rộng trung bình của 2 mặt cắt tính toán, m
Trên cơ sở các đường thuỷ đẳng áp dễ dàng nhận thấy có ba miền cung cấp
nước dưới đất cho khu vực nghiên cứu: nước dưới đất chảy vào từ phía tây Kim
Hải; từ phía đông Kim Đông và từ phía Cồn Đen.

/ngđ
Trữ lượng động tự nhiên cả khu vực nghiên cứu là: Qđ = 812 m
3
/ngđ
b/ Trữ lượng tĩnh đàn hồi
Trữ lượng tĩnh đàn hồi được tính theo công thức sau:
* . H
a
. F
Qtdh =
10
4

Trong đó: H
a
: Mực nước áp lực, m
F : diện tích phân bố của tầng chứa nước, m
2
Nguyn Th Thu Trang-Cao hc K13 Lun vn tt nghip

 xut quy hoch môi trng vùng bãi bi ven bin huyn Kim Sn, tnh Ninh
Bình
19
* : hệ số phóng thích nước đàn hồi
10
4
: thời gian công trình có khả năng thu hồi vốn, ngđ
Kết quả bơm hút thí nghiệm trong khu vực nghiên cứu cho thấy: Hệ số
phóng thích nước đàn hồi trung bình cho cả khu vực là: * = 0,0077; Mực nước áp
lực trung bình cho cả khu vực là: H


Trong đó: K : hệ số thấm trung bình của cả khu vực
Khu vực nghiên cứu có: Hệ số thấm trung bình là K = 5,622 m/ngđ; Hệ số
nhả nước trọng lực trung bình  là: 0,1497; Bề dày trung bình của tầng chứa nước
m là: 5,0m; Diện tích phân bố của tầng chứa nước F là: 65.352.450 m
2

Trữ lượng tĩnh trọng lực của khu vực nghiên cứu là: Qttl = 4.892,7
m
3
/ngđ
Như vậy trữ lượng tiềm năng khai thác nước dưới đất của tầng chứa nước
Pleistocen Hệ tầng Hà Nội trong khu vực nghiên cứu là:
Q
kt
= 812 m
3
/ngđ + 3.070 m
3
/ngđ + 0,3 x 4.893 m
3
/ngđ = 5.350 m
3
/ngđ
Tài nguyên đất
Đặc điểm đất đai 3 xã ven biển huyện Kim Sơn:
Nguyn Th Thu Trang-Cao hc K13 Lun vn tt nghip

 xut quy hoch môi trng vùng bãi bi ven bin huyn Kim Sn, tnh Ninh
Bình

Bảng 2: Một số kết quả phân tích đất mặn trung bình ở Kim Sơn
Stt Mẫu pH
KCl
OM% N% Ca
+2
Cl
-
SO
4
-2
TMT EC Fe ts
1 LK16/1 7,36 1,32 0,128 7,20 0,273 0,051 0,62 2,07 4103
2 LK16/2 7,73 1,16 0,112 12,0 0,287 0,025 0,78 2,46 3417
3 LK37/1 7,95 0,90 0,095 11,2 0,158 0,015 0,40 1,12 3948
4 LK37/2 8,03 0,90 0,084 12,2 0,140 0,010 0,28 0,94 3849
Nguồn: Báo cáo tổng quan Dự án điều tra cơ bản huyện Kim Sơn, Ninh Bình năm 2003
- Nhóm đất bãi triều và bán bãi triều: Đất bãi triều và bán bãi triều khác biệt
với hai nhóm trên ở chỗ: đất chưa phân tầng và độ mặn cao hơn. Tổng muối tan có
mẫu lên tới 1,2%, độ dẫn điện có mẫu lên tới > 4,0 mS/cm. Đa số diện tích vùng
này là bãi triều, một phần nhỏ diện tích đang được trồng cói, sú vẹt và nuôi trồng
thuỷ sản. Thành phần đất bãi triều được trình bày ở Bảng 3.
Nguyn Th Thu Trang-Cao hc K13 Lun vn tt nghip

 xut quy hoch môi trng vùng bãi bi ven bin huyn Kim Sn, tnh Ninh
Bình
21


3
tế
bào/m
3
nước, đa số là tảo Khuê (Bacilariophyta) có 36 chi; tảo lục (Chlorophyta) và
tảo Lam (Cianophyta) có 3 chi; Tảo giáp (Pyrrophyta). Trong đó ngành tảo Khuê
chiếm 94,6%; tảo Giáp chiếm 3,1%; tảo Lam chiếm 1,2%; tảo Lục chiếm 1,1%.
Trong ngành tảo Khuê, nhóm tế bào thực vật nổi Nitzchia chiếm 42,6%; tiếp đến là
Nguyn Th Thu Trang-Cao hc K13 Lun vn tt nghip

 xut quy hoch môi trng vùng bãi bi ven bin huyn Kim Sn, tnh Ninh
Bình
22
Thalasionema; Chaetoceros và một số nhóm khác. Lượng tảo hữu ích nhiều như vậy
sẽ là nguồn thức ăn tự nhiên quý giá cho các giống loài hải sản.
- Động vật nổi: Động vật nổi trung bình 27,21.10
3
cá thể/m
3
nước bao gồm
nhóm râu ngành (Caladocera); nhóm lưỡng túc (Ampipoda); nhóm chân chèo
(Copepoda), trùng bánh xe (Potatoria); cá bột và tôm bột.
- Khu hệ cá: Khu hệ cá vùng bãi bồi Kim Sơn rất đa dạng và phong phú về
thành phần loài và số lượng loài, chúng được đặc trưng cho khu hệ cá vùng bãi bồi
ven biển Đồng Bằng Bắc Bộ.
+ Tôm riu, cá quả, lươn, cá diếc phân bố tự nhiên ở các lạch có rong đuôi
chó mật độ dày. Chúng tập trung chủ yếu ở phía Đông vùng bãi bồi phía trong đê
Bình Minh 1 nơi tiếp giáp với sông Đáy. Các đối tượng thuỷ sản này rất rộng muối,
chúng có thể sống ở nồng độ muối trên 2
0

1.2.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội
1.2.2.1. Dân cư
Là một vùng thuộc khu vực đồng bằng ven biển Bắc Bộ nên dân cư ở đây chỉ
thuần chủng một dân tộc Kinh. Nhân dân trong vùng chủ yếu là nông dân thuộc các
hợp tác xã nông nghiệp hoặc là công nhân của Nông trường Bình Minh. Nhìn chung
Nguyn Th Thu Trang-Cao hc K13 Lun vn tt nghip

 xut quy hoch môi trng vùng bãi bi ven bin huyn Kim Sn, tnh Ninh
Bình
23
dân cư ở đây khá đông. Toàn huyện có dân số khoảng 163.500 người. Mật độ
khoảng 788 người/km
2
. Nghề sống chính là trồng lúa nước, cói, nuôi trồng thuỷ sản
và một số làm việc trong các hợp tác xã, cơ sở sản xuất chế biến nông sản, thuỷ sản.
Các thị trấn, thị tứ có các hộ kinh doanh buôn bán tạp hoá hoặc nông sản, thuỷ sản.
1.2.2.2. Hoạt động kinh tế
Kinh tế huyện Kim Sơn phát triển khá đúng hướng. Kinh tế nông nghiệp phát
triển nhất là sản xuất lương thực. Trong ngành tiểu thủ công nghiệp thì ngành chế
biến cói tăng trưởng nhanh. Kinh tế biển bước đầu có chuyển biến tích cực và mở ra
nhiều triển vọng lớn. Thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 10 triệu
đồng/người/năm.
Sản xuất nông nghiệp
Cây trồng chủ yếu của ngành nông nghiệp ở khu vực nghiên cứu hiện nay
vẫn là cây lúa và cói. Khu vực bãi bồi ven biển huyện Kim Sơn có 960 ha trồng lúa,
năng suất lúa bình quân ước đạt 54 tạ/ha/năm. Cây cói luôn được quan tâm. Năm
2005, diện tích trồng cói cả năm đạt 452 ha với sản lượng cói ước đạt 2.500 tấn.
Ngoài ra, một số cây trồng khác cũng đang được đưa vào trồng thử ở khu
vực này như khoai tây, rong riềng, ngô với diện tích không đáng kể.
Chăn nuôi

Kim Sơn là một vùng có nhiều sông ngòi, luồng lạch thông với biển nên giao
thông đường thuỷ khá phát triển. Ngoài giao lưu đi lại giữa các huyện xã trong tỉnh
còn có thể thông thương với các tỉnh khác trong khu vực. Về đường bộ chủ yếu có
các đường liên huyện, xã nối với quốc lộ 10, quốc lộ 1A về phía bắc. Hệ thống
đường sá đi lại trong vùng đều đã bê tông hoá, ô tô vừa và nhỏ đều có thể đến được
các làng xã trong vùng.
1.2.2.3. Văn hoá xã hội
Vùng nghiên cứu nằm trong khu vực đất lấn biển mới được mở rộng nên
không có các trường đào tạo chuyên nghiệp mà chỉ có hệ thống các trường giáo dục
phổ thông. Toàn vùng có một trường trung học phổ thông ở thị trấn Bình Minh. Tất
cả các xã trong vùng đều có các trường tiểu học và trung học cơ sở, 100% trẻ em
đều được đến trường đi học. ở các khu thị tứ, thị trấn đều có hệ thống trạm xá từ 5
10 giường bệnh để chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân. Tất cả các thôn xã đều
đã có điện lưới, hầu hết các gia đình ở vùng đều đã có phương tiện nghe nhìn để
thưởng thức văn hoá thể thao và theo dõi tình hình thời sự trong và ngoài nước.
Nguyn Th Thu Trang-Cao hc K13 Lun vn tt nghip

 xut quy hoch môi trng vùng bãi bi ven bin huyn Kim Sn, tnh Ninh
Bình
25
Thông tin liên lạc khá phát triển. Tất cả các xã đều có điện thoại. Nhiều gia đình đã
trang bị điện thoại cá nhân.
Là một vùng có trên 50% dân số theo đạo thiên chúa nên hệ thống nhà thờ
khá phát triển, quyền tự do tín ngưỡng, hành đạo của nhân dân được đảm bảo. Trật
tự trị an đảm bảo, không có những sự việc và biến động lớn về chính trị xảy ra.
1.2.2.4. Hiện trạng sử dụng đất
Qua khảo sát thực tế và đánh giá tác động tương tác mặn, ngọt của sông và
biển, chúng tôi phân điều kiện môi trường sinh thái của vùng nghiên cứu thành ba
phân vùng khác nhau:
Phân vùng sinh thái bãi triều và rừng ngập mặn ven biển


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status