BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
ĐINH VĂN TRÁNG
“NGHIÊN C
ỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG HỢP LÝ
CÁC NGHỀ KHAI THÁC THỦY SẢN TR
ÊN VÙNG BÃI
TRIỀU VEN BIỂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH”
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Công nghệ Khai thác
Mã số: 60.62.80
Người hướng dẫn khoa học: Tiến sỹ - Thái Văn Ngạn
3
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Thái Văn Ngạn- Giảng viên
cao cấp Trường Đại học Nha Trang, là người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ
và tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS. TS Nguyễn Văn Động, TS Thái Văn
Ngạn, TS Hoàng Hoa Hồng, TS Phan Trọng Huyến, Trường Đại học Nha
Trang, đã giúp đỡ tôi trong việc xây dựng và hoàn thiện đề cương nghiên cứu.
Cảm ơn sự giúp đỡ của các cơ quan đơn vị : Khoa Khai thác trường Đại học
Nha Trang, Viện Qui hoạch Kinh tế Thủy sản, Sở Thủy sản tỉnh Nam Định,
Sở Khoa học & Công nghệ, Chi cục Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản
tỉnh Nam Định, Trạm Khí tượng thủy văn Văn Lý, Hải Hậu - Nam Định,
Vườn Quốc gia Xuân Thủy, Phòng Thủy sản huyện Giao Thủy, UBND huyện
Giao Thủy, UBND xã Giao Hải, Giao Xuân huyện Giao Thủy đã giúp cho sự
thành công của đề tài này.
Xin trân trọng cảm ơn tất cả!
Nam Định, ngày 31 tháng 8 năm 2008
Tác giả
Đinh Văn Tráng
27
2.2. Tài liệu nghiên cứu
27
2.3. Nội dung nghiên cứu
28
2.4. Phương pháp nghiên cứu và xử lý số liệu
29
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
32
3.1. Kết quả khảo sát tầu thuyền và lao động khai thác thủy sản tại vùng
bãi triều huyện Giao Thủy
32
3.2. Kết quả khảo sát các nghề khai thác thủy sản tại vùng bãi triều huyện
Giao Thủy
35
3.3. Một số tác động đến nguồn lợi thủy sản ở vùng bãi triều huyện Giao
Thủy
55
3.4. Nhận xét
58
3.5. Giải pháp sử dụng hợp lý các nghề khai thác thủy sản tại vùng bãi
triều huyện Giao Thủy
59
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
PHỤ LỤC 71
BTS : Bộ Thủy sản
CT : Chỉ thị
TT : Thông tư
6
DANH MỤC CÁC BẢNG
Tên bảng Trang
Bảng 1 : Tốc độ gió trung bình theo hướng gió trong các tháng tại Văn Lý
14
Bảng 2: Nước dâng trong bão ven bờ Vịnh Bắc Bộ 16
Bảng 3: Tần suất sóng trạm Hòn Dáu (1961 - 1981) 17
Bảng 4: Độ cao sóng lớn nhất Trạm Văn Lý 17
Bảng 5: Cơ cấu tàu thuyền và lao động khai thác thủy sản của hai xã Giao
Hải, Giao Xuân
32
Bảng 6: Thông số cơ bản của tàu thuyền khai thác thủy sản tại 2 xã Giao
Hải, Giao Xuân (Phân theo vật liệu vỏ tầu và chiều dài tầu)
Hình 2: Biểu đồ cơ cấu thuyền nghề trên vùng bãi triều 34
Hình 3: Bản đồ ngư trường bãi triều huyện Giao Thủy 35
Hình 4: Tầu thuyền làm nghề lưới rê tại bãi triều huyện Giao Thủy 36
Hình 5 : Bản vẽ khai triển 1 cheo lưới rê 37
Hình 6: Lưới rê ở bãi triều huyện Giao Thủy 38
Hình 7: Biểu đồ cơ cấu đầu tư tầu thuyền nghề lưới rê 40
Hình 8: Tầu thuyền làm nghề giã đơn tại bãi triều huyện Giao Thủy 43
Hình 9: Lưới kéo đơn tại bãi triều huyện Giao Thủy 43
Hình 10: Biểu đồ cơ cấu đầu tư cho 1 đơn vị thuyền nghề giã đơn 45
Hình 11: Nghề lưới đáy tại vùng bãi triều huyện Giao Thủy 47
Hình 12: Cấu tạo lưới đáy cọc tại vùng bãi triều huyện Giao Thủy 48
Hình 13: Biểu đồ cơ cấu đầu tư 1 đơn vị thuyền nghề đáy 49
Hình 14: Nghề te thủ công tại bãi triều huyện Giao Thủy 50
Hình 15: Bàn nạo khai thác ngao tại bãi triều huyện Giao Thủy 52
Hình 16: Bàn cào khai thác ngao, don, dắt tại bãi triều huyện Giao Thủy
52
Hình 17: Khai thác ngao, don, dắt bằng bàn cào trên bãi triều huyện
Giao Thủy
53
Hình 18: Khai thác ngao bằng bàn nạo trên bãi triều huyện Giao Thủy 54
Hình 19: Bãi nuôi ngao tại vùng triều huyện Giao Thủy 55 8
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC
99
Phụ lục 11: Biểu thống kê phân tích mẫu nguồn lợi của nghề đáy
100
Phụ lục 12: Phiếu điều tra phân tích mẫu nguồn lợi các nghề tại
vùng bãi triều ven biển huyện Giao Thủy
101
Phụ lục 13: Phiếu điều tra khảo sát nghề khai thác ở khu vực bãi
triều huyện Giao Thủy – tỉnh Nam Định
102
Phụ lục 14: Phiếu điều tra lao động khai thác thủy sản ở khu vực bãi
triều huyện Giao Thủy – tỉnh Nam Định
103 9
LỜI NÓI ĐẦU
Trên phạm vi toàn cầu, các vùng bãi triều (bãi bồi ngập nước) ven biển
thường có quy mô rộng lớn, đại diện cho bãi triều thuộc nhóm đất ngập nước
châu thổ ven biển (coast delta). Đây là một kiểu hệ sinh thái có các đặc trưng
riêng về môi trường, dự trữ tài nguyên, cho nên phải có quan điểm về phương
thức sử dụng phù hợp. Các bãi triều còn là khu vực tiềm năng cho các hoạt
động phát triển, nhất là đối với các hoạt động đánh bắt, nuôi trồng thủy sản,
bảo tồn tự nhiên v.v…
Vấn đề nghiên cứu sử dụng hợp lý và có hiệu quả các vùng đất ngập
nước đã được các quốc gia đặt ra từ rất sớm, gắn liền với lịch sử khai khẩn
của loài người. Nhiều mô hình khai thác châu thổ nói chung và vùng bãi triều
năm gần đây ngày càng có nhiều nguy cơ tiềm ẩn phá hoại sự đa dang sinh
học và hệ sinh thái độc đáo ở khu vực này, làm suy giảm nguồn lợi thủy sản,
do hậu quả của việc quây vùng nuôi tôm; khai thác nguồn lợi thủy sản bừa bãi
một cách tự phát. Chính quyền địa phương đã có những hoạt động tích cực
nhằm hạn chế tình trạng này, nhưng kết quả đạt được còn rất khiêm tốn.
Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ Nam Định lần thứ XVII đã đề ra
phương hướng phát triển kinh tế thuỷ sản giai đoạn 2006 - 2010 là:
" Tiếp tục khai thác tốt các tiềm năng về lao động, đất đai và nguồn lợi
biển… phát triển kinh tế thuỷ sản trên các lĩnh vực nuôi trồng, khai thác, chế
biến xuất khẩu và hậu cần dịch vụ. Tập trung phát triển mạnh nuôi trồng thuỷ
sản theo hướng sản xuất hàng hoá, đảm bảo có hiệu quả cao và bền vững.
Cùng với nuôi trồng thuỷ sản, tiếp tục tăng cường năng lực và hiệu quả khai
thác hải sản, phát triển hậu cần dịch vụ, chế biến và xuất khẩu thuỷ sản.
Nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá, giá trị xuất khẩu, tạo việc làm tăng
thu nhập, cải thiện và nâng cao đời sống cho nhân dân, kết hợp kinh tế với an
ninh, quốc phòng".
11
Trong đó, khai thác hải sản ven bờ theo hướng : Ổn định khai thác hải
sản ven bờ, hướng dẫn cho ngư dân chuyển đổi cơ cấu nghề, phát triển đóng
mới thay thế dần các phương tiện tàu thuyền nhỏ công suất dưới 20 CV.
Trước tình trạng khai thác vùng ven biển này một cách tự phát, thiếu bền
vững và có nguy cơ làm cạn kiệt nguồn tài nguyên, vấn đề đặt ra là phải cần
có sự đánh giá một cách đầy đủ thực trạng khai thác, để có cơ sở tìm ra các
giải pháp sử dụng hợp lý các nghề khai thác thuỷ sản nhằm đảm bảo sự phát
triển bền vững. Đây là việc làm hết sức cần thiết và cấp bách vừa mang ý
giáp với huyện Xuân Trường, phía Tây Nam là huyện Hải Hậu. Bờ biển bị
chia cắt bởi các cửa sông lớn: cửa Ba Lạt (sông Hồng) ở phía Bắc, cửa Hà
Lạn (sông Sò) ở phía Nam và cửa sông Vọp. Vùng bãi triều thuộc huyện Giao
Thủy gồm có 2 phần: phần bãi bồi ngập nước diện tích 12.000 ha là bãi bồi
cửa sông ven biển điển hình nhất về hệ sinh thái đất ngập nước của châu thổ
sông Hồng. Hàng năm các con sông đã đem ra một lượng lớn phù sa (khoảng
50 triệu tấn) bồi đắp cho các khu vực bãi bồi thuộc huyện Giao Thủy, lấn ra
phía biển thêm hàng trăm mét đất và phần vùng nước ven biển bao quanh
vùng bãi bồi.
Về tiềm năng kinh tế biển, theo đánh giá của các nhà khoa học, vùng
biển bãi triều Giao Thủy có tiềm năng đa dạng sinh học cao. Tổng sản lượng
khai thác thủy sản biển hàng năm từ 5.000 - 7.000 tấn (không tính sản lượng
ngao nuôi được nhập giống từ miền Nam). Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân
Thủy với diện tích 7.680 ha nằm ở phía Bắc của Giao Thủy và xen kẽ giữa
chúng là bãi ngập triều. Cồn Ngạn là cồn cát lớn nhất, trên đó chủ yếu là các
đầm nuôi trồng thủy sản và hầu hết có rừng ngập mặn bao phủ. Cồn Lu gồm
một bãi cát rộng lớn, cùng các bãi triều lầy và một diện tích nhỏ các đầm nuôi
thủy sản. Cồn Xanh là cồn nhỏ nhất có lớp cát mỏng và vẫn đang tiếp tục bồi
đắp do phù xa từ sông Hồng đem lại. Cồn Xanh và Cồn Lu thường bị ngập
khi thủy triều lên.Trong khu vực nghiên cứu nơi cao nhất có độ cao tuyệt đối
là 3m, còn vùng biển có độ sâu từ 6 - 20 m.
13Hình 1: Bản đồ tỉnh Nam Định
1.1.2. Đặc điểm thời tiết và chế độ thủy văn của huyện Giao Thủy
2 3,2 4,5 4,9 39, 4,3 2,5 2,0 3,4
3 3,1 4,8 3,5 3,6 3,3 4,0 1,0 3,7
4 2,9 4,6 4,5 4,2 4,5 2,6 2,2 3,5
5 3,8 4,6 4,9 4,7 5,5 4,0 2,8 3,6
6 3,2 4,0 4,4 4,5 5,8 3,8 2,7 2,3
7 3,0 4,5 4,4 5,4 5,9 4,2 4,0 4,2
8 3,0 3,8 4,7 4,6 5,2 3,6 2,3 3,1
9 3,7 4,7 5,3 5,3 4,8 2,2 2,4 3,8
10 3,8 5,6 4,8 4,5 5,0 1,7 1,8 3,8
11 3,5 4,1 4,8 4,5 5,0 1,7 1,8 3,8
12 3,3 4,8 4,9 3,4 3,4 2,6 0 3,8
( Nguồn số liệu: Trạm Khí tượng thủy văn Văn Lý, Hải Hậu - Nam Định )
Vùng biển ven bờ Giao Thuỷ có địa hình tương đối bằng phẳng, đường
bờ uốn lượn và bị chia cắt các cửa sông, phía Bắc gồm các cồn cát lớn chắn
phía ngoài, trong đó Cồn Xanh và Cồn Lu thường bị ngập nước khi thuỷ triều
lên. Khu vực có địa hình thấp và bằng phẳng nên gió có thể phát triển theo
nhiều hướng khác nhau. Mùa hè, gió hướng Nam, Đông Nam thịnh hành, phát
triển mạnh vào các tháng 5 - 8, đạt tần suất lớn nhất 60% vào tháng 7, tốc độ
trung bình vào hướng này đạt 4,5 - 5,9 m/s. Mùa đông, từ tháng 10 - 12 gió
Bắc, Đông và Đông - Bắc thịnh hành.
15
1.1.2.2. Chế độ mưa, độ ẩm và nhiệt độ không khí.
Lượng mưa: khu vực huyện Giao Thủy có đặc điểm chế độ mưa chung
của dải ven biển Bắc Bộ. Trung bình năm trên toàn dải ven bờ vịnh Bắc Bộ
đạt 2020 mm với 143 ngày có mưa. Lượng mưa thay đổi theo mùa, mùa mưa
biển dâng cao, gây nên quá trình phá hủy bờ, đe dọa hệ thống đê kè và hệ
thống công trình ven biển.
16
Bảng 2: Nước dâng trong bão ven bờ vịnh Bắc Bộ
Tên cơn bão đổ bộ Nước dâng tại cửa
Ba Lạt (cm)
Nước dâng tại cửa
Đáy (cm)
Rose (1968) 150 cm 150 cm
Alice (1975) 170 cm 170 cm
Nancy (1982) 155 cm 180 cm
Cecil (1985) 160 cm 190 cm
( Nguồn số liệu: Trạm Khí tượng thủy văn Văn Lý, Hải Hậu - Nam Định)
Nếu khi bão đổ bộ trùng với kỳ nước thủy triều dâng thì hiệu ứng mực
nước biển dâng cao gấp từ 2 - 3 lần các giá trị thu được ở trên, gây nguy hiểm
lớn cho vùng đất và dân cư ven biển.
1.1.2.4. Chế độ thủy triều
Dải ven bờ biển tỉnh Nam Định có chế độ nhật triều khá điển hình, với
hầu hết số ngày trong tháng là nhật triều, bán nhật triều chỉ xuất hiện 2 - 3
ngày trong kỳ nước kém (kỳ nước thủy triều kiệt). Dọc theo ven bờ Bắc Bộ,
càng xuống phía nam, tính chất nhật triều càng kém thuần nhất hơn và biên độ
triều cực đại cũng giảm.
1.1.2.5. Chế độ sóng :
Sóng ở vùng biển tỉnh Nam Định mang đặc điểm chung của chế độ sóng
5.44
1.81
0.0615.84
7.80
0.24
0.09
18.68
6.60
0.37
0.04
6.02
6.52
0.27
0.031.65
Bảng 4: Độ cao sóng lớn nhất trạm Văn Lý.
Tháng
Đặc
trưng
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
11
12
Năm
H(m) 2.5
2.0
2.3
2.0
2.0
2.0
4.0
2.5
4.5
dòng chảy thường có hướng từ Bắc, Đông Bắc, khi triều xuống dòng chảy có
hướng ngược lại.
18
Dòng chảy vùng ven bờ thường không đồng nhất với dòng chảy ngoài
khơi về hướng cũng như về tốc độ. Dòng chảy ven bờ chủ yếu hình thành do
dòng triều và sóng vùng ven bờ. Tuy tốc độ không lớn nhưng có vai trò quan
trọng trong việc vận chuyển và phân phối bồi tích trong khu vực.
Tóm lại: Vùng biển ven bờ Giao Thủy có chế độ khí hậu, hải văn phức
tạp đặc trưng bởi sự phân hóa mạnh các yếu tố khí hậu, hải văn và thủy văn
theo các mùa trong năm. Trong quy hoạch, khai thác các bãi triều ven biển
trong khu vực cần xem xét đến các chế độ động lực phức tạp của khu vực
biến động mạnh theo không gian và thời gian.
1.2. TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN GIAO THỦY VÀ 2 XÃ GIAO
HẢI, GIAO XUÂN Ở VÙNG TRIỀU.
Dân số toàn huyện Giao Thủy tính đến năm 2007 là 207.401 người, tổng
nguồn lao động là 111.200 người. (tính cả số người trên và dưới độ tuổi lao
động đang làm việc) với khoảng gần 5.000 lao động thường xuyên và không
thường xuyên khai thác, nuôi trồng, chế biến hải sản. Lao động đã được bố trí
trong các ngành kinh tế là 84.791 người, chiếm 92,7%, còn khoảng 6.640
người chưa có việc làm chiếm 7,3%. Đây là nguồn lao động dồi dào có thể bố
trí trong phát triển thuỷ sản.
Những năm qua, kinh tế của huyện Giao thuỷ phát triển tương đối toàn
diện và vững chắc, nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân 6,5 %/năm, các nhóm
ngành công nghiệp - xây dựng - dịch vụ tăng nhanh. Trong nhóm ngành nông,
lâm, thuỷ sản, ngành thuỷ sản có tốc độ tăng cao hơn so với mức bình quân.
đất sản xuất nông nghiệp là 535,01 ha. Hàng năm sản xuất khoảng 5.500 đến
5.600 tấn thóc. Ngành sản xuất chính của xã là nông nghiệp.
Dân số toàn xã có 9.075 người, trong đó lao động trong các ngành kinh
tế là 3.912 người. Lao động sản xuất nông nghiệp 3.200 người, lao động khai
thác thủy sản 554 người và một số lao động buôn bán nhỏ
20
Nhìn chung, kinh tế - xã hội của huyện Giao Thuỷ có nhiều thuận lợi
cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp, trong đó có thuỷ sản, vùng ven biển
của huyện là vùng bãi bồi có điều kiện phát triển nuôi trồng thuỷ sản, đây là
một thuận lợi lớn cho phát triển thuỷ sản của địa phương. Hệ thống cơ sở hạ
tầng của huyện tương đối hoàn chỉnh với hệ thống đường liên tỉnh, liên
huyện, liên xã và liên thôn, điện lưới quốc gia đã về đến 100% số xã trong
huyện, thuỷ lợi đã đáp ứng cơ bản cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp.
Giao Thuỷ là một huyện có tiềm năng trong khai thác, nuôi trồng hải
sản. Nghề nuôi thủy sản mặn lợ hiện nay chủ yếu nuôi các đối tượng như tôm
sú, cua, vạng… với diện tích chỉ sau diện tích trồng lúa của huyện. Đa số
người dân vùng ven biển đều muốn chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp bấp
bênh sang nuôi trồng thuỷ sản cho năng suất, hiệu quả kinh tế cao vì người
dân đã thấy được hiệu quả kinh tế của việc nuôi trồng thuỷ sản so với sản xuất
nông nghiệp.
1.3.CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN VÙNG BÃI TRIỀU
HUYỆN GIAO THỦY
Qua điều tra, trong các năm qua đã có những đề tài nghiên cứu của các
cơ quan nghiên cứu khoa học Trung ương, địa phương và các đề tài hợp tác
với cơ quan khoa học nước ngoài tiến hành nghiên cứu các vấn đề liên quan
giống vùng ven biển và cửa sông tỉnh Nam Định và đã được công bố.
- Trong khuôn khổ đề tài nhà nước KT 03 - 08 “Điều tra nguồn lợi đặc
sản vùng ven bờ và ven đảo từ Móng Cái đến Hải Vân”, nguồn lợi động vật
thân mềm Nam Định đã được chú ý đánh giá về thành phần loài và trữ loài.
- Góp phần định hướng cho việc nghiên cứu phát triển và sử dụng bền
vững nguồn lợi sinh vật nói chung, nguồn lợi thủy sản nói riêng, hai cơ quan
nghiên cứu cấp bộ đã xuất bản hai chuyên khảo về biển và nguồn lợi thủy sản
bao gồm Chuyên khảo biển Việt Nam, tập IV “Nguồn lợi sinh vật và các hệ
sinh thái biển ” do Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia chủ
trì (1994) và nguồn lợi thủy sản Việt Nam do Bộ Thủy sản chủ trì (1996).
22
Theo tài liệu được công bố, hai loài động vật thân mềm ở Cồn Lu và Cồn
Ngạn (Giao Thủy) là Ngao và Vọp có diện tích phân bố là 1.000 và 1.400 ha
với trữ lượng tương ứng là 140 và 11.200 tấn. Tuy vậy, các số liệu đó đến nay
đã thay đổi rất nhiều.
- Năm 2005, UBND tỉnh Nam Định đã phối hợp với Viện Kinh tế và
Quy hoạch thủy sản thực hiện đề tài: Cơ sở khoa học phục vụ quy hoạch chi
tiết sử dụng hợp lý vùng nuôi trồng thủy sản, vùng sản xuất muối ven biển
huyện Giao Thủy tỉnh Nam Định. Đồng thời Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy
sản đã biên soạn Tổng quan nghề cá tỉnh Nam Định thuộc dự án đánh giá
nguồn lợi sinh vật biển Việt Nam
- Bên cạnh các chương trình, đề tài cấp nhà nước, cấp bộ do các cơ quan
khoa học Trung ương thực hiện, tỉnh Nam Định cũng có các nghiên cứu
chuyên đề phục vụ cho nhu cầu cấp thiết của địa phương. Năm 1995, Chi cục
Bảo vệ nguồn lợi thủy sản đã thực hiện đề tài điều tra nguồn lợi thủy sản vùng
được khai thác tự nhiên chỉ để giải quyết nhu cầu thực phẩm thường ngày
nhưng sau khi được xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc chúng nhanh
chóng trở thành đối tượng nuôi rộng rãi và chỉ một thời gian ngắn nguồn
giống trở lên cạn kiệt.
Nhờ có nghề nuôi ngao nhiều tỷ phú ngao đã xuất hiện. Vì vậy để duy trì
nghề nuôi trong khi nguồn giống tự nhiên tại chỗ không đủ cung cấp các hộ
nuôi đã đưa giống ngao từ Bến Tre về thả. Loài ngao Bến Tre hay còn gọi là
ngao trắng đã mau chóng thích ứng với môi trường vùng nước ven bờ gần cửa
sông Nam Định và tiếp tục mang lại lợi nhuận to lớn cho các hộ nuôi
Bên cạnh các loài có lợi ích về mặt kinh tế, nhóm thân mềm còn có một
số loài khác gây hại cho kinh tế đó là các loài thuộc Hà bùn đục thuyền làm
hỏng vỏ các tàu thuyền bằng gỗ làm giảm tuổi sử dụng của các phương tiện,
gây tổn phí bảo dưỡng cho ngư dân và tiềm ẩn gây tai họa đắm thuyền.
Có 107 loài cá ghi nhận được trong vùng nghiên cứu thuộc 76 loài, 44
họ, 12 bộ. trung bình mỗi bộ có gần 3,5 họ, mỗi họ có 2,5 loài. Trong số 12
24
bộ, chỉ có 5 bộ có số loài ít nhất (1- 2 loài ): Bộ cá nhám đầu, Bộ cá gai, Bộ cá
nóc (1 loài), Bộ cá đèn lồng và bộ cá mú lan (2 loài). Có hai loài phân bố ở
vùng cửa sông ven bờ, các bộ còn lại số loài có ít nhất cũng đạt 4 loài.
Một số bộ có số loài rất cao như: bộ cá vược – 60 loài, bộ cá trích - 12
loài, hai bộ này có tới 23 họ, 49 giống, 72 loài, chiếm 67,3% tổng số loài, các
bộ khác có từ 4 - 7 loài.
Trong thành phần loài kể trên, căn cứ vào sự thích nghi phân bố theo độ
mặn, theo tầng nước có thể phân chia thành các nhóm sinh thái khác nhau.
Nếu dựa vào độ mặn, có nhóm cá nước ngọt, cá nước lợ cửa sông và cá ven
Giống tôm phân bố cả trong tầng nước (giai đoạn sống phù du giống
nổi) lẫn trên đáy bùn mềm lân cận RNM hoặc ẩn mình dưới các khe hang, lá
mục trong rừng (hậu ấu trùng – con non, sống đáy). Đối với giống tôm rảo,
chúng di cư theo thuỷ triều lên các bãi triều kiếm ăn nhưng khi triều rút, một
bộ phận đáng kể sẽ ẩn mình trong lớp bùn bột mềm hoặc trong RNM, chờ khi
nước ngập bãi lần sau lại ra khỏi nơi trú ẩn kiếm mồi. Đây là tập tính của một
số loài tôm nước lợ thuộc giống tôm rảo (Metapenaeus). Vì lẽ đó, ở nhiều nơi
ven biển và đầm phá tôm rảo còn được mang thêm cái tên “tôm cỏ” hoặc
“tôm đất”. Trữ lượng tôm giống ở đáy: 20.000.000 con trong một kỳ nước
thuỷ triều.
- Nguồn giống cua
Cua cũng có tập tính hoạt động theo thuỷ triều, khi thuỷ triều rút chúng
sẽ di cư xuống vùng ngập nước ven các lạch triều nơi có chất đáy bùn bột
hoặc ở lại trong các thảm cỏ ngạn hoặc thảm RNM.
Trữ lượng cua giống: 600.000 con/kỳ nước thuỷ triều
- Nguồn giống ngao
Theo kết quả nghiên cứu của đề tài "Cơ sở khoa học phục vụ quy hoạch
chi tiết sử dụng hợp lý vùng nuôi trồng thủy sản, vùng sản xuất muối ven biển