MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, vấn đề môi trường biển và đới ven bờ đã và
đang được nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau quan tâm. Môi
trường của các vùng đất ngập mặn là một phần không thể thiếu thuộc đới ven bờ
của mọi quốc gia có biển. Vùng đất ngập mặn được coi là nơi rất nhạy cảm về
môi trường hiện nay bởi lẽ ở đó có tương tác trực tiếp giữa đất liền và biển. Mọi
biến động về môi trường cả phía đất liền cũng như biển đều lưu lại dấu tích
trong vùng đất đó. Vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá tổng thể hiện trạng môi
trường và đề xuất các giải pháp sử dụng hợp lý các vùng đất ngập mặn ven biển
nước ta hiện nay là một yêu cầu thời sự và cấp bách.
Huyện Kim Sơn được thành lập năm 1892 và là huyện ven biển duy nhất
của tỉnh Ninh Bình. Do vị trí nằm kẹp giữa sông Đáy ở phía đông và sông Càn ở
phía tây, nên phần lớn đất đai của huyện được hình thành bởi quá trình bồi tụ
của hai con sông này tạo nên. Lịch sử phát triển huyện Kim Sơn gắn liền với 9
lần quai đê lấn biển. Cho đến nay, tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là
20.747 ha, trong đó vùng bãi bồi Kim Sơn có diện tích khoảng 6.660 ha và chia
ra 4 khu vực như sau:
- Khu vực Bình Minh 1: Khu vực trong đê Bình Minh 1 thuộc Nông
trường Bình Minh.
- Khu vực Bình Minh 2: từ đê Bình Minh 1 đến đê Bình Minh 2.
- Khu vực Bình Minh 3: từ đê Bình Minh 2 đến đê Bình Minh 3.
- Khu vực Bình Minh 4: từ ngoài đê Bình Minh 3 đến mép triều kiệt.
Trong đó, hai khu vực Bình Minh 3 và Bình Minh 4 là khu vực đất ngập
mặn chịu ảnh hưởng trực tiếp của thuỷ triều lên xuống hàng ngày do đê Bình
Minh 3 chưa được khép kín.
Bãi bồi Kim Sơn là vùng đất mở. Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu,
mỗi năm mảnh đất này có tốc độ lấn ra biển trung bình từ 80 - 100m. Đây là khu
vực có tốc độ bồi tụ hàng năm thuộc loại lớn nhất ở vùng ven biển nước ta.
Trước đây, việc khai thác bãi bồi hầu như chỉ theo một mục đích duy nhất là tạo
thêm đất nông nghiệp và nơi ở cho một bộ phận dân cư không có đất đai canh
1
có hệ thống các kiến thức khoa học để xây dựng các chính sách và biện pháp
trong khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường nhằm định
hướng các hoạt động phát triển trong khu vực, đảm bảo mục tiêu phát triển bền
vững.
Thực chất của công tác QHMT là việc tổ chức không gian lãnh thổ và sử
dụng các thành phần môi trường phù hợp với chức năng môi trường và điều kiện
tự nhiên trong vùng quy hoạch. Mặt khác, không gian lãnh thổ đều được sử
dụng cho các hoạt động KT - XH của con người. Vì vậy QHMT cũng có thể
ngoài quy hoạch mới về chức năng môi trường không gian còn có thể là việc
điều chỉnh không gian và các thành phần môi trường đã có làm sao để việc khai
thác sử dụng chúng phù hợp với chức năng môi trường của mình. Như vậy thực
chất của công tác QHMT lãnh thổ là điều hoà sự phát triển của hệ thống KT -
XH. Môi trường đang tồn tại ở đó. Mục tiêu của sự điều hoà này là đảm bảo một
cách bền vững sự phát triển KT-XH mà không vượt quá khả năng chịu đựng của
môi trường tự nhiên.
1.1.2. Mục tiêu, nguyên tắc và nội dung cơ bản của quy hoạch môi
trường
1.1.2.1. QHMT phải đạt được các mục tiêu chủ yếu sau đây
- Đảm bảo chất lượng môi trường phù hợp với từng đơn vị không gian
chức năng môi trường (có 4 chức năng môi trường cơ bản là cung cấp tài
nguyên, tổ chức sản xuất, tổ chức dân cư và chứa đựng chất thải).
- Điều chỉnh các hoạt động phát triển và quản lý chất thải nhằm đảm bảo
môi trường sống trong sạch cho con người.
3
- Nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên.
- Tổ chức quản lý môi trường theo khu vực hoặc theo vùng quy hoạch.
1.1.2.2. QHMT ở bất kỳ cấp nào đều phải đảm bảo các nguyên tắc sau
đây:
- Sự phù hợp của cấu trúc và bố trí cơ cấu phát triển KT - XH với luật bảo
vệ môi trường và các luật về sử dụng hợp lý từng dạng tài nguyên thiên nhiên về
triển trên thế giới quan tâm một cách nghiêm túc tới các thông số môi trường
trong quá trình xây dựng chiến lược phát triển.
Kinh nghiệm về lý thuyết và thực hành quy hoạch vùng ở châu Âu, châu
Mỹ và châu Á khác nhau rất nhiều. Ngay tại Mỹ nhiều lúc, các nhà quy hoạch
vùng đã từng bị coi là không thực tế và vai trò của khoa học môi trường đối với
các nhà quy hoạch ít gây được chú ý của công chúng. Ở Úc, các yếu tố môi
trường được đem vào quy hoạch vùng ngay từ năm 1941.
Ở châu Á, quy hoạch phát triển vùng phát triển nhất tại Nhật Bản. Khởi
đầu từ năm 1957, quy hoạch phát triển cho các vùng nông thôn kém phát triển
nhằm đạt được việc sử dụng hiệu quả đất và các nguồn tài nguyên thông qua quy
hoạch hoàn chỉnh, sự đầu tư của công chúng vào cơ sở hạ tầng, tạo môi trường
sống trong lành, và thông qua các biện pháp bảo tồn thiên nhiên.
Quy hoạch vùng ở châu Á tập trung vào cả vùng nông thôn và thành thị.
Quy hoạch vùng nông thôn thường bao gồm định cư, phát triển tài nguyên nước.
Giai đoạn nhận thức môi trường ở châu Á và các nước phát triển khác là từ khi
xảy ra hàng loạt vụ khủng hoảng môi trường những năm 50, 60 đã nổi lên do
nhiễm độc thuỷ ngân ở Minamata, Nhật Bản, những ảnh hưởng liên quan đến
thuốc trừ sâu, tràn dầu và nhiều sự cố môi trường mà ảnh hưởng của chúng đã
tác động lên một vùng rộng lớn gây sự chú ý của công chúng. Tại khu vực châu
Á – Thái Bình Dương, sau Hội nghị môi trường Liên Hợp Quốc tại Stockholm,
cuộc họp liên quốc gia tại Bankok năm 1973 đã thông qua Kế hoạch hành động
châu Á về môi trường.
5
6
Đánh
giá hiện
trạng
kinh tế
- xã hội
Đánh
phát
triển
kinh tế -
xã hội
(nếu
chưa
có)
Dự báo
biến
động tài
nguyên
theo các
phương
án phát
triển
Dự báo
biến
động
môi
trường
theo các
phương
án phát
triển
Không
gian
sống
Cung
cấp tài
nguyên
nước đến các đề tài nghiên cứu cấp địa phương.
1.1.4. Các phương pháp và công cụ dùng trong quy hoạch môi trường
1.1.4.1. Các phương pháp
Hiện nay có rất nhiều phương pháp được dùng trong QHMT, mỗi phương
pháp đều có những ưu nhược điểm và phạm vi áp dụng riêng. Việc áp dụng
phương pháp nào là tuỳ thuộc rất nhiều vào thông tin, dữ liệu đầu vào, tính chất
và các thành phần của các kịch bản, phương án phát triển cũng như các đối
tượng trong QHMT Tuy nhiên, các phương pháp có thể tổ hợp theo các nhóm
chính như sau:
- Phương pháp phân tích hệ thống
7
- Đánh giá tác động môi trường
- Kinh tế môi trường
- Lựa chọn ưu tiên
Trong mỗi phương pháp trên lại có rất nhiều phương pháp hỗ trợ được sử
dụng khác nhau, như các phương pháp danh mục, ma trận, mô hình toán học
QHMT là một lĩnh vực phức tạp, nên nó thường đòi hỏi phải có sự kết
hợp hài hoà và sử dụng hợp lý từng hệ phương pháp trong từng nội dung cụ thể.
1.1.4.2. Các công cụ
Công cụ QHMT thường bao gồm công cụ thực hiện QHMT và công cụ
quản lý QHMT.
Công cụ thực hiện QHMT
Công cụ pháp lý
Công cụ có tính tiên quyết, quyết định mọi nội dung, công việc của
QHMT. QHMT được thực hiện luôn phải xuất phát điểm từ các thể chế, chính
sách của chính đối tượng được quy hoạch (quốc gia, tỉnh, khu vực). Đó là các
văn bản luật môi trường; nghị định, thông tư, các chính sách, chiến lược quản lý
môi trường. Tất cả các công cụ này được vận dụng phù hợp trong quá trình quy
hoạch.
- Công cụ kỹ thuật
BÃI BỒI VEN BIỂN HUYỆN KIM SƠN - TỈNH NINH BÌNH
1.2.1. Điều kiện tự nhiên vùng bãi bồi ven biển huyện Kim Sơn - tỉnh
Ninh Bình
1.2.1.1. Vị trí địa lý
Vùng bãi bồi ven biển Kim Sơn được hình thành do sự bồi tụ của hai cửa
sông chính là sông Đáy ở phía Đông, sông Càn ở phía Tây, với vị trí địa lý
khoảng 19
0
56’44’’ - 20
0
00 Vĩ độ Bắc và 106
0
2’05’’ - 106
0
05’20’’ Kinh độ
Đông. Vùng bãi bồi Kim Sơn nằm ở điểm đỉnh điểm phía Đông Nam của vùng
đồng bằng Bắc Bộ; phía Nam giáp Vịnh Bắc Bộ, phía Đông giáp sông Đáy, phía
Tây giáp sông Càn, phía Bắc giáp đê Tùng Thiện và đê Cồn Thoi. Vùng bãi bồi
9
Kim Sơn có điều kiện thuận lợi về giao thông đó là lợi thế về con đường số 10 là
huyết mạch giao thông giữa các vùng ven biển đồng bằng châu thổ Sông Hồng.
1.2.1.2. Đặc điểm khí hậu
Chế độ gió
Hướng gió thịnh hành trong vùng thay đổi theo tần suất xuất hiện các khối
không khí xâm nhập và thay đổi theo mùa. Chế độ gió trong vùng chịu tác động
trực tiếp của hai hướng gió thổi chính trong năm là gió đông bắc và gió đông
nam. Gió đông bắc thịnh hành vào mùa khô, tốc độ trung bình khoảng 34 m/s,
còn gió đông nam thịnh hành vào mùa mưa, tốc độ trung bình khoảng 45 m/s.
Trong một ngày gió thường thổi từ đất liền ra biển vào ban ngày và từ biển vào
đất liền vào ban đêm.
Tổng lượng mưa mùa ít mưa chỉ chiếm từ 12 - 14% tổng lượng mưa năm,
với số ngày mưa từ 47 - 57 ngày. Lượng mưa trung bình của mùa ít mưa khoảng
200 – 230 mm với lượng mưa trung bình tháng thay đổi từ tháng XI (75 – 110
mm) sang các tháng I - II (25 – 35 mm) đến tháng III (58 mm). Thời kỳ các
tháng XII - I là thời kỳ hay xảy ra hạn kéo dài, có trường hợp suốt 60 ngày
không có mưa hoặc mưa không đáng kể.
Độ ẩm không khí
Do vị trí sát biển nên Kim Sơn là miền khí hậu thường xuyên ẩm ướt, độ
ẩm tương đối trung bình năm của các vùng đều có trị số 85 - 86%. Biến thiên độ
ẩm tương đối xảy ra theo mùa
- Mùa ít mưa: Vào thời kỳ khô hanh (tháng XII - I) độ ẩm tương đối trung
bình có thể thấp hơn 60 - 70%. Vào thời kỳ ẩm (tháng II - IV) trùng với mùa
mưa phùn nên là thời kỳ rất ẩm, độ ẩm tương đối trung bình xấp xỉ 90%.
- Mùa mưa: thường xuyên duy trì tình trạng độ ẩm cao, trị số độ ẩm tương
đối trung bình mùa đều đạt trên 82%. Tuy nhiên chúng biến thiên theo các tháng
khác nhau. Vào các tháng V - VII độ ẩm tương đối có trị số thấp hơn các tháng
khác. Vào nửa sau của mùa mưa độ ẩm không khí luôn duy trì từ 85 - 90%.
Điều kiện bức xạ
Là một vùng nằm trong vùng nội chí tuyến, có độ cao mặt trời lớn, thời
gian chiếu sáng dài nên vùng ven biển Kim Sơn có được một chế độ bức xạ rất
dồi dào với bức xạ thực tế hàng năm đạt tới trị số 120 Kcal/cm
2
/năm. So với
tổng lượng bức xạ lý thuyết thì tổng lượng bức xạ thực tế chỉ chiếm 50 - 60%.
Sự phân bố tổng lượng bức xạ thực tế hàng tháng có sự biến thiên và có sự khác
11
biệt giữa sự biến thiên của chúng với sự biến thiên của bức xạ lý thuyết hàng
tháng. Trị số bức xạ thực tế cao nhất vào tháng VII (14,64 Kcal/cm
2
) và thấp
- Sông Đáy bắt nguồn từ Hà Tây, chảy qua Hà Nam sau đó trở thành ranh
giới tự nhiên giữa hai tỉnh Ninh Bình với Nam Định bắt đầu từ xã Gia Thanh
huyện Gia Viễn đến xã Kim Đông huyện Kim Sơn. Đoạn sông Đáy chảy qua
vùng nghiên cứu dài khoảng 18 km bắt đầu từ xã Hùng Tiến qua các xã Như
Hoà, Quang Thiện, Đồng Hướng, Kim Chính, Thượng Kiệm, Lưu Phương, Cồn
Thoi, Kim Đông. Lưu lượng nước đoạn sông này về mùa mưa khoảng 13.500
m
3
/s và vào mùa khô khoảng 5600 m
3
/s. Sông Đáy là một trong những sông có
tải lượng phù sa từ đất liền đổ ra biển lớn khoảng 18.000.000 m
3
và tỷ lệ bùn cát
đọng lại ở đới ven bờ rất cao khoảng 7.380.000 m
3
.
- Sông Tống Càn: Sông bắt nguồn từ Bỉm Sơn Thanh Hoá, chảy qua Hà
Trung Nga Sơn rồi trở thành ranh giới tự nhiên của Kim Sơn - Ninh Bình và
Nga Sơn - Thanh Hoá từ xã Định Hoá qua xã Vân Hải, Kim Mỹ, Kim Hải rồi đổ
ra biển. Đoạn chảy qua vùng nghiên cứu của sông Tống Càn dài khoảng 9 km.
Đây là một con sông nhỏ, hẹp dòng chảy chậm. Lưu lượng về mùa mưa khoảng
2500 m
3
/s và mùa khô khoảng 1200 m
3
/s. Sông Tống Càn chảy dọc vùng đồng
bằng Hà Trung, Nga Sơn Thanh Hoá hướng tây - đông rồi mới đổ ra biển nên
lượng phù sa hàng năm tải ra biển không nhiều. Tuy nhiên cũng góp phần tăng
lượng bồi tụ cho khu vực nghiên cứu.
Ở các vùng bãi triều ngập nước khi triều lên, nổi cạn khi triều xuống
thường tạo nên các dòng triều chảy gần vuông góc với đường bờ. Trong phạm vi
vùng ngập mặn Kim Sơn - Ninh Bình vì phần lớn diện tích đã được khoanh lô
làm đầm, ao nuôi thuỷ, hải sản nên các dòng triều chỉ còn quan sát thấy ở phần
bãi triều có rừng ngập mặn ở sát ngoài đê ngăn mặn cuối cùng. Qua quan sát
thấy trong diện tích bãi triều này có 3 dòng triều lớn thường xuyên có nước, nơi
có các thuyền nhỏ có thể ra vào, còn lại là các dòng tạm thời. Độ dài các dòng
triều ở đây không lớn thay đổi từ 1 - 2 km. Hướng chảy gần như bắc nam hoặc
lệch đông bắc - tây nam. Tại một số chỗ tiếp xúc với đê ngăn mặn của các dòng
triều lớn đã được xây cống để điều tiết nước biển vào đầm nuôi thuỷ sản ở trong
đê.
- Dòng sóng, gió
Dọc theo đới ven bờ khu vực đồng bằng Bắc Bộ thường có các dòng chảy
do hoạt động của sóng, gió tạo ra. Hướng chảy chung của các dòng chảy này là
đông bắc - tây nam. Tuy nhiên qua quan sát của nhiều nhà nghiên cứu thấy rằng
dòng chảy này khi đến gần cửa Đáy lại đổi hướng bắc nam do tác động của dòng
chảy của sông Đáy. Yếu tố này phần nào hạn chế sự tương tác vật liệu do dòng
14
sóng và dòng sông đưa đến vùng và do đó làm cho các thành tạo trầm tích tầng
mặt ở vùng nghiên cứu có nguồn gốc sông trội hơn nguồn gốc biển. Tỷ lệ bùn
sét nhiều hơn so với cát.
1.2.1.4. Đặc điểm địa hình
Phạm vi của vùng nghiên cứu thuộc phần phía tây nam đồng bằng Bắc
Bộ, nhìn chung vùng có địa hình khá đơn giản, có thể phân chia thành 2 dạng
sau:
Địa hình đồng bằng ven biển
Đây là dạng địa hình chiếm hầu hết diện tích của vùng nghiên cứu. Nhìn
chung địa hình này khá bằng phẳng, hơi nghiêng về phía biển. Độ cao thay đổi
từ 0,8 đến 1m, một số chỗ ở các xã Văn Hải, Kim Mỹ, Cồn Thoi có địa hình cao
hơn mặt bằng chung từ 0,5 đến 1m, đó chính là vết tích các cồn cát cổ. Cấu
đây. Không những vậy hai sông còn là nguồn cung cấp nước ngọt chính trong
vùng để cải tạo biến vùng đất mặn trở thành các đồng lúa, vườn cây, làng xóm
trù phú như hiện nay.
Theo tài liệu quan trắc lưu lượng của trạm khí tượng thuỷ văn Nam Định
từ năm 1996 – 2003, chỉ riêng sông Đáy hàng năm đã đổ ra biển với lưu lượng
từ 213 m
3
/s đến 2.980 m
3
/s. Nếu lấy giá trị thấp nhất vào mùa khô là 213 m
3
/s thì
lượng nước mặt của sông Đáy có thể khai thác được là 18.403.200 m
3
/ngđ. Nếu
ước tính lưu lượng thấp nhất vào mùa khô của sông Càn là 100 m
3
/s thì lượng
nước mặt sông Càn có thể khai thác được là 8.640.000 m
3
/ngđ. Nếu ước tính lưu
lượng thấp nhất của hai kênh tiêu mặn là 20 m
3
/s thì lượng nước mặt của hai
kênh tiêu mặn có thể khai thác được là 1.728.000 m
3
/ngđ. Như vậy lượng nước
mặt ước tính có thể khai thác được từ các sông ngòi, kênh rạch trong vùng là
khoảng 28.000.000 m
3
2
)
+ Các thành tạo địa chất nghèo nước Hệ tầng Vĩnh Phúc trên (Q
III
2
vp)
Trong các tầng chứa nước trong khu vực thì chỉ có tầng chứa nước lỗ
hổng Pleistocen giữa - trên, Hệ tầng Hà Nội (tầng cát hạt thô màu trắng hoặc
vàng nhạt) và tầng chứa nước khe nứt, khe nứt - karst Trias giữa Hệ tầng Đồng
Giao (tầng đá vôi màu xám) là hai phân vị địa tầng địa chất thuỷ văn duy nhất có
khả năng cung cấp nước nước ngọt phục vụ cho mục đích sinh hoạt.
Trong khu vực nghiên cứu, tầng chứa nước Pleistocen không nằm xuất lộ
trên bề mặt địa hình mà bị phủ hoàn toàn bởi các trầm tích trẻ hơn. Diện tích
phân bố của tầng chứa nước khá rộng, kéo dài từ Nam nông trường Bình Minh
ra đến biển và trải rộng từ sông Đáy đến Đông xã Thanh Hải. Chiều sâu phân bố
và bề dày tầng chứa nước tăng dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Chiều sâu cả
tầng nước thay đổi 48 - 110 m cách mặt đất, chiều dày từ 3 - 20 m.
Tầng chứa nước khe nứt, khe nứt karst phân bố ở phần Tây khu vực
nghiên cứu; chủ yếu ở phần Tây xã Kim Hải. Chúng không nằm lộ trên bề mặt
địa hình mà bị phủ hoàn toàn bởi các trầm tích Đệ tứ trẻ hơn; nằm ở độ sâu từ 54
- 60m, chiều dày tầng chứa nước đạt 720 m.
Do tầng chứa nước khe nứt, khe nứt – karst Trias Hệ tầng Đồng Giao
chưa được nghiên cứu kỹ nên chỉ tiến hành tính toán được tiềm năng nước cho
tầng chứa nước lỗ hổng Pleistocen Hệ tầng Hà Nội. Trữ lượng tiềm năng khai
thác nước dưới đất được tính theo công thức sau:
Q
kt
= Q
đ
+ Q
tạm bỏ qua.
a/ Trữ lượng động tự nhiên
Trữ lượng động tự nhiên được tính toán bằng phương pháp mặt cắt theo
công thức sau:
Q
đ
= Km I B
tb
Trong đó: Km: hệ số dẫn nước, m
2
/ngđ
I: độ dốc thuỷ lực
B
tb
: chiều rộng trung bình của 2 mặt cắt tính toán, m
Trên cơ sở các đường thuỷ đẳng áp dễ dàng nhận thấy có ba miền cung
cấp nước dưới đất cho khu vực nghiên cứu: nước dưới đất chảy vào từ phía tây
Kim Hải; từ phía đông Kim Đông và từ phía Cồn Đen.
- Mặt cắt Tây Kim Hải có Km = 44,49 m
2
/ngđ; I = 1,0m : 600m =
0,00166; B
tb
= (4.600m + 5.500m) : 2 = 5.050m
Trữ lượng động tự nhiên Tây Kim Hải là: Q
đ1
= 373,9 m
3
/ngđ
- Mặt cắt Đông Kim Đông có Km = 33,28 m
a
: Mực nước áp lực, m
18
F : diện tích phân bố của tầng chứa nước, m
2
µ* : hệ số phóng thích nước đàn hồi
10
4
: thời gian công trình có khả năng thu hồi vốn, ngđ
Kết quả bơm hút thí nghiệm trong khu vực nghiên cứu cho thấy: Hệ số
phóng thích nước đàn hồi trung bình cho cả khu vực là: µ* = 0,0077; Mực nước
áp lực trung bình cho cả khu vực là: H
a
= 61,0m; Diện tích phân bố của tầng
chứa nước trong khu vực là: F = 65.352.450m
2
Trữ lượng tĩnh đàn hồi cả khu vực nghiên cứu là: Q
tdh
= 3070 m
3
/ngđ
c/ Trữ lượng tĩnh trọng lực
Trữ lượng tĩnh trọng lực được tính theo công thức sau:
µ . m . F
Q
ttl
=
10
4
Trong đó: M : bề dày trung bình của tầng chứa nước, m
/ngđ = 5.350 m
3
/ngđ
19
Tài nguyên đất
Đặc điểm đất đai 3 xã ven biển huyện Kim Sơn:
- Nhóm đất mặn ít: có pH
KCl
từ 6,8 đến 8,4, hàm lượng mùn, đạm trung
bình đến khá ở tầng mặt và giảm nhanh xuống các tầng dưới. Độ mặn ít, trị số
muối tan <0,3%, độ dẫn điện (EC) < 0,8 mS/cm. Cây trồng phổ biến ở đây là
lúa. Thành phần đất mặn ít được trình bày ở Bảng 1.
Bảng 1: Một số kết quả phân tích đất mặn ít ở Kim Sơn
Stt Mẫu pH
KCl
OM% N% Ca
+2
Cl
-
SO
4
-2
TMT EC Fe ts
1 LK26/1 6,83 1,84 0,145 8,00 0,091 0,013 0,24 0,60 3498
2 LK28/1 8,39 1,84 0,156 8,00
0,06
6
0,02
6
0,18 0,52 3255
8
7,20 0,273
0,05
1
0,62 2,07 4103
2 LK16/2 7,73 1,16 0,112 12,0
0,28
7
0,02
5
0,78 2,46 3417
3 LK37/1 7,95 0,90 0,095 11,2
0,15
8
0,01
5
0,40 1,12 3948
4 LK37/2 8,03 0,90
0,08
4
12,2
0,14
0
0,01
0
0,28 0,94 3849
20
Nguồn: Báo cáo tổng quan Dự án điều tra cơ bản huyện Kim Sơn, Ninh Bình
năm 2003
- Nhóm đất bãi triều và bán bãi triều: Đất bãi triều và bán bãi triều khác
0,07
2
15,2 0,304
0,02
7
0,62 2,05 2527
4 LK24/1 8,00 1,26
0,11
8
8,80 0,367 0,049 0,74 2,51 4095
5 LK24/2 8,06 1,11 0,112 12,0 0,367 0,043 0,72 2,49 3791
6 LK21/1 8,50 1,21 0,117 12,8 0,259
0,03
8
0,56 1,92 3013
7 LK21/2 8,37 0,84
0,08
9
13,1 0,227 0,035 0,48 1,65 3786
Nguồn: Báo cáo tổng quan Dự án điều tra cơ bản huyện Kim Sơn, Ninh
Bình năm 2003
Tài nguyên sinh học
Khu hệ động thực vật ở đây đặc trưng của khu hệ sinh vật ven biển nhiệt
đới với nhiều nhóm sinh thái khác nhau, đặc biệt là nhiều về thành phần loài
nhưng ít về số lượng loài với đặc điểm sinh học là rộng nhiệt và rộng muối. Tuỳ
theo điều kiện sinh thái mà sự phân bố của sinh vật khác nhau theo không gian
và thời gian.
- Thảm thực vật
21
Gồm 3 loài cây trồng chiếm diện tích chủ yếu là vẹt, cói, sậy. Ngoài ra bãi
Tôm he phân bố chủ yếu tại
phía Tây xã Kim Trung, phía Đông xã Kim Hải (phía Tây vùng bãi bồi giáp
sông Càn). Vùng này có độ muối trên 3
0
/
00
tương đối phù hợp cho tôm he. Năng
suất tôm rảo khai thác tự nhiên 100 - 120 kg/ha/năm.
+ Cua rèm sống chủ yếu trong vùng nước có độ muối từ 3,2
0
/
00
đến 9,5
0
/
00.
Điều kiện sống tốt nhất là trong vùng có độ mặn trên 5
0
/
00
. Bình quân năng suất
khai thác tự nhiên trên vùng bãi bồi khoảng 30 kg/ha.
+ Cá bớp sống chủ yếu ở các vùng bãi bồi phù sa, môi trường sống chủ
yếu là hang trong bùn nhão của bãi bồi. Ngoài ra còn có cá trích, cá cơm, bống
trắng xuất hiện tương đối nhiều.
22
+ Sinh vật đáy và nhuyễn thể bao gồm các loại giun nhiều tơ, ngao, vọp,
…
+ Các loài động vật khác có chim di cư về trú đông như: ngỗng trời, vịt
trời, cò trắng, vạc, le le, mòng, két
cầm ở dạng các hộ nhỏ lẻ hình thức trang trại lớn còn ít phát triển.
Chăn nuôi thuỷ hải sản
Hàng năm khai thác thuỷ hải sản của toàn huyện Kim Sơn đều tăng. Khai
thác hải sản vùng bãi năm 2005 ước tính trên 1.000 tấn. Khai thác hải sản xa bờ
tăng trưởng khá, năm 2005 ước đạt trên 800 tấn. Vùng bãi tiếp tục khai thác
được thế mạnh tổng hợp hải sản – cói - lúa, tổng giá trị năm 2005 ước đạt trên
40 tỷ đồng. Hiện nay, diện tích nuôi thuỷ sản trong vùng là 1288 ha mặt nước.
Việc nuôi thành công tôm sú đã mở ra một triển vọng lớn cho kinh tế biển khu
vực này.
Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của huyện Kim Sơn nói chung có tốc
độ tăng trưởng bình quân năm là 10,8%. Ngành chế biến chiếu cói được đẩy
mạnh. Khu vực bãi bồi ven biển huyện Kim Sơn có số cơ sở sản xuất công
nghiệp - tiểu thủ công nghiệp ngoài quốc doanh khoảng gần 100 hộ cá thể chủ
yếu làm nghề chiếu cói. Giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
ngoài quốc doanh trong năm 2005 đạt hơn 500 triệu đồng.
Máy móc thiết bị cơ khí phục vụ sản xuất phát triển nhanh. Hiện nay đã
có các loại máy cày, bừa, xe công nông, máy tuốt lúa.
Thương mại - dịch vụ
Hoạt động thương mại ở khu vực bãi bồi ven biển huyện Kim Sơn chủ
yếu dưới dạng buôn bán cá thể các hàng thuỷ hải sản, giao lưu hàng hoá nông
thuỷ hải sản với trung tâm thương mại của huyện, tỉnh và vươn tới các thị xã,
thành phố xa hơn như thành phố Hà Nội.
Giao thông
Kim Sơn là một vùng có nhiều sông ngòi, luồng lạch thông với biển nên
giao thông đường thuỷ khá phát triển. Ngoài giao lưu đi lại giữa các huyện xã
trong tỉnh còn có thể thông thương với các tỉnh khác trong khu vực. Về đường
bộ chủ yếu có các đường liên huyện, xã nối với quốc lộ 10, quốc lộ 1A về phía
24
bắc. Hệ thống đường sá đi lại trong vùng đều đã bê tông hoá, ô tô vừa và nhỏ
Hệ thống rừng ngập mặn ở vùng nhìn chung còn thưa, đa số là diện tích
mới trồng. Các loại cây trồng chính là sú vẹt, ít bần, trang, ở diện tích cao của
25