CHƯƠNG 2
ĐẶC DIỂM CHUNG VỀ ĐỊA CHẤT VÙNG MỎ
Mỏ Bạch Hổ nằm trong khu vực bồn trũng Cửu Long, thuộc thềm Sunda
lớn nhất ở Tây Nam Thái Bình Dương. Sự hình thành cấu trúc địa chất hiện
tại của thềm Sunda gắn liền với ba chu kì tạo địa hào Rizta, bắt đầu từ kỉ
Creta muộn. Sự mở rộng bồn Tây Nam, trong đó có thềm lục địa Nam Việt
Nam xảy ra vào chu kỳ 1 ( Paleogen muộn ). Tốc độ sụt lún đạt tới cực đại
vào thời kì Oligoxen sớm, chu kì thứ hai gắn liền với sự tạo địa hào Rizta ven
biển và sự tạo thành các bể trầm tích. Chu kì thứ ba đặc trưng bởi sự tiếp tục
sụt lún của thềm biển và sự tạo thành các bể trầm tích lớn xen kẽ với các đới
nâng có móng tiền Kalozoi. Hoạt động Mắcma xuất hiện vào thời kì Kalozoi
muộn, nó có tác động nhất định đến cấu trúc kiến tạo chung của thềm lục địa
Việt Nam. Ở phần rìa phía Tây Bắc của bồn trũng Cửu Long có tổng diện tích
các lớp phủ Bazan và Andezit đạt 1 triệu km
2
, với bề dày không lớn lắm.
Khác với bồn trũng ở vùng trũng Sunda, bồn trũng Cửu Long bị tách biệt
hẳn ra và nằm ở sườn Đông Nam ổn định của bán đảo Đông Dương. Ở phía
Tây nó bị tách ra khỏi bồn trũng Thái Lan bởi đới nâng Corat. Ở phía Nam nó
bị tách hẳn ra và có chiều dài gần 500km, rộng 150km, diện tích gần
75000km
2
.
Trong cấu trúc địa chất của bồn trũng Cửu Long có chứa các hệ trầm tích
Lục Nguyên gốc châu thổ ven biển, có tuổi từ Mioxen – Oligoxen hiện tại. Bề
dày cực đại là 7km được xác định tại hố sụt trung tâm của bồn trũng. Tổng thể
0otích của bồn trũng này là 150000km
3
. Nguồn cung cấp vật liệu chủ yếu là
sông Mêkong (sông Cửu Long). Hiện nay trung bình hàng năm sông Mêkong
đưa ra biển 187 triệu tấn phù sa.
chịu ảnh hưởng của các dòng chảy , nguồn vật liệu chính là các đá Macma
axit.Bề dày điệp này dao động từ 612 - 654m.
Dưới điệp Biển Đông là các trầm tích của thống Mioxen thuộc hệ
Neogen.
b. Trầm tích Mioxen:
Thống này chia ra làm 3 phụ thống:
- Mioxen trên (điệp Đồng Nai):
Page 2 of 107
Đất đá điệp này chủ yếu là cát dăm và cát với độ mài mòn trung bình từ
trung bình đến tốt. Thành phần Thạch anh chiếm từ 20 - 90% còn lại là Fenspat
và các thành phần khác như đá Macma , phiến cát vỏ sò… Độ kết hầu như
không có nhưng cũng gặp những vỉa sét và két dày đến 20m và những vỉa cuội
mỏng. Chiều dày điệp này tăng dần từ giữa ( 538m ) sang hai cánh( 619m ).
- Mioxen giữa (điệp Côn sơn):
Phần lớn đất đá của điệp này được tạo từ cát,cát dăm và bột kết.Phần
còn lại là các vỉa sét, sét vôi mỏng và đá vôi. Đây là những đất đá lục nguyên
dạng bở rời màu xám vàng và xám xanh, kích thước hạt từ 0,1 - 10mm, thành
phần chính là Thạch anh( hơn 80% ), Fenspat và các đá phun trào có màu
loang lổ, bở rời, mềm dẻo, thành phần chính là Montmoriolonite. Bề mặt của
điệp từ 810 - 950m.
- Mioxen dưới (điệp Bạch Hổ):
Đất đá của điệp này nằm bất chỉnh hợp góc, thành tạo Oligoxen
trên.Gồm chủ yếu là những tập sét dày và nững vỉa cát,bột mỏng nằm xen kẽ
nhau.Sét có màu tối nâu loang lổ xám,thường là mềm và phân lớp.
Thành phần của sét gồm có Kaolinit,Montmoriolonite,thuỷ Mica và các
khoáng vật Carbonate,hàm lượng xi măng từ 3 - 35%,cấu trúc xi măng lấp
đầy hoặc tiếp xúc.Mảnh vụn là các khoáng vật như Thạch anh,Fenspat với
khối lượng tương đương nhau.Ngoài ra còn có các loại khác, như Granite,
Phiến cát… Điệp này chứa các tầng dầu công nghiệp 22,23,24,25. Chiều dày
tăng từ vòm ( 600m ) đến 2 cánh ( 1270m ).
Đây là nền cơ sở cho các tập đá Oligoxen dưới phát triển trên mặt
móng. Nó được thành tạo trong diều kiện lục địa bởi sự phá huỷ cơ học của
địa hình. Đá này nằm trực tiếp trên móng do sự tái trầm tích của mảnh vụn
của đá móng có kích thước khác nhau. Thành phần gồm: Cuội cát kết hạt thô,
đôi khi gặp đá phun trào. Chiều dày của điệp Trà Cú và các điệp cơ sở thay
đổi từ 0 - 412m và từ 0 - 174m.
Page 4 of 107
2.1.3. Đá móng kết tinh Kazozoi:
Đây là các thành tạo Granite nhưng không đồng nhất mà có sự khác
nhau về thành phần thạch học, hoá học và về tuổi. Có thể giả thiết rằng có hai
thời kì thành tạo đá Granite. Vòm Bắc vào kỉ Kretta, diện tích của thể Batholit
Granite này có thể tới hàng nghìn km
2
và bề dày thường không quá 3km. Đá
móng mỏ Bạch Hổ chịu tác động mạnh của quá trình phong hoá thuỷ nhiệt và
các hoạt động kiến tạo gây nứt nẻ hang hốc và sinh ra các khoáng vật thứ sinh
khác như Kataclazit, Milonite. Sự phong hoá kéo theo sự làm giàu sắt,
Mangan, Canxi, Photpho và làm mất đi các thành phần Natri và Canxi động.
Các mẫu đá chứa dầu thu được có độ nứt nẻ trung bình 2,2%, chiầu dài khe
nứt từ 0.5 - 1mm, rộng từ 0,1 - 0,5mm, độ lỗ hổng bằng từ 1/5-1/7 độ nứt nẻ.
Đá móng bắt đầy có từ độ sâu 3888 - 4400m. Đây là một bẫy chứa dầu khối
điển hình và có triển vọng cao.
2.2. Đặc điểm kiến tạo
Đới nâng mỏ Bạch Hổ là một nếp lồi lớn kéo dài, đỉnh của nó kéo dài
về phía Đông Bắc và bị chia cắt chủ yếu bởi các đứt gãy của biên độ dọc
chiều dài và đứt gãy giảm dần về phía trên của mặt cắt. Phần vòm đường sóng
lồi bị nghiêng về hướng Đông Bắc khoảng 1
0
. Ở phía xa hơn, góc này đạt từ 3
– 4
chỉ tắt dần về phía trên của lát cắt mà còn tắt dần từ Nam đến Bắc.
2.2.5. Nếp thuận số 5 và 6
Trùng với phương vĩ tuyến, nó là ranh giới phía Nam và Bắc của khối
nhô địa. Biên độ của nếp thuận này từ 300 – 400m.
Tóm lại, nét đặc trưng của kiến tạo ở mỏ Bạch Hổ là đứt gãy có tính
đồng sinh, biên độ tắt dần về phía Bắc cũng như phía trên của lát cắt, chủ yếu
có phương dọc trục theo cấu tạo, số ít có phương ngang và có tính chất dặc
trưng của đứt gãy thuận.
Page 6 of 107
2.3. Lịch sử phát triển địa chất của mỏ
Mỏ Bạch Hổ thuộc bồn trũng Cửu Long, bồn này thuộc thềm Sunda và
nằm ở phía Đông Nam khối ổn định của bán đảo Đông Dương. Ở phía Tây bị
tách khỏi bồn trũng Thái Lan bởi đới nâng Corat, ở phía Nam bị tách khỏi
bồn trũng Nam Côn Sơn. Quá trình phát triển địa chất của cùng trải qua các
giai đoạn sau:
2.3.1. Thời kì Menzozoi – đầu Kanozoi
Bồn trũng Cửu Long xảy ra các hoạt động tạo núi mạnh, các hoạt động
Macma núi lửa với nhiều pha khác nhau. Các thành tạo trước Kainozoi bị đập
vỡ và phân cách thành từng khối với biên độ sụt lún không đồng nhất tạo nên
dạng địa lũy, địa hào. Các địa lũy và khối nâng bị bào mòn và phong hóa vật
liệu được đem đi lấp đầy ở các trũng lân cận trước Kainozoi. Cấu tạo mỏ
Bạch Hổ được tạo thành trong thời gian này, nó là một bộ phận của địa lũy
trung tâm bồn trũng Cửu Long, bị khống chế bởi các đứt gãy sâu ở sườn
Đông và sườn Tây.
Các hoạt động Macma xâm nhập làm phức tạp thêm các cấu tạo gây
nên sự khác biệt địa chất của từng đới trước Kainozoi.
2.3.2. Giai đoạn Oligoxen sớm
Điệp Trà Cú có tường lục địa lấp đầy các địa hào với bề dày trầm tích
khá lớn, điều đó chứng tỏ quá trình tách giãn gây sụt lún mạnh. Biên độ và
gradien sụt lún thay đổi theo chiều dày ở phía Tây của mỏ Bạch Hổ. Phần nhô
Bồn trũng Cửu Long được các nhà địa chất quan tâm từ trước ngày
miền Nam hoàn toàn giải phóng. Việc nghiên cứu bồn trũng Cửu Long nói
chung và mỏ Bạch Hổ nói riêng đã trải qua các giai đoạn:
- Giai đoạn trước 1975
Việc tìm kiếm thăm dò dầu khí giai đoạn này được tiến hành bởi các
công ty dầu khí tư bản, kết quả cho thấy có nhiều triển vọng dầu khí ở thềm
lục địa phía Nam Việt Nam. Mỏ Bạch Hổ được công ty dầu khí Mobil của Mĩ
Page 8 of 107
phát hiện bằng các tài liệu địa chấn, đến năm 1974 thì công ty này khoan
giếng thăm dò đầu tiên và tìm thấy sản phẩm trong tầng mioxen dưới.
- Giai đoạn 1975 – 1980
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng chúng ta tiến hành thăm dò
lại địa chấn và khoan thăm dò các giếng trên mỏ.
- Giai đoạn 1980 đến nay
Ngày 19/6/1981, xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro được thành lập
đánh dấu bước phát triển quan trọng trong ngành công nghiệp dầu khí Việt
Nam.
Cuối năm 1983, đầu năm 1984 khoan giếng BH5 tại vòm Trung Tâm,
tìm thấy sản phẩm của tầng Mioxen dưới.
Tháng 7/1984 khoan giếng BH4 tại vòm Bắc tìm thấy sản phẩm ở tầng
Oligoxen và Mioxen.
Tháng 8/1985 khoan giếng BH3 ở phía Đông vòm Trung Tâm, đánh
giá sự phát triển của tầng chứa về phía Đông Nam.
Năm 1986 XNLD khoan giếng BH10 ở vòm Bắc, sâu 4400m để chính
xác hóa các tài liệu địa chất về mỏ.
Năm 1987 XNLD khoan giếng BH6 ở giữa vòm Trung Tâm và vòm
Bắc và giếng BH9 ở cánh Đông Bắc của mỏ.
Năm 1988 XNLD khoan giếng BH15 ở vòm Nam.
Năm 1989 XN khoan giếng BH12 ở cánh Đông, phát hiện dầu ở tầng
móng.
chứa dầu khí sau:
Phức hệ Bạch Hổ dưới ( trầm tích Mioxen hạ ),
Phức hệ Trà Tân (trầm tích Oligoxen trên),
Phức hệ Trà Cú (trầm tích Oligoxen dưới),
Phức hệ móng kết tinh,
Page 10 of 107
Phức hệ Bạch Hổ dưới là các hạt rừ hạt trung đến hạt thô, độ thấm cao,
chứa các tầng sản phẩm 23, 24 và 26. Tầng 23 cho sản lượng cao nhất
(381m
3
/ngđ), các tầng tầng còn lại chỉ chứa dầu ở phía Bắc và phần trung tâm
phía Nam.
Phức hệ Trà Tân là các điệp cát thấm hạt nhỏ và trung bình, phân bố
rộng ở cánh phía Bắc của cấu tạo. Nhiều vỉa cát của phức hệ này bị vát nhọn
hoặc có dạng thấu kính, độ thấm kém. Phức hệ có các tầng sản phẩm 1, 2, 3, 4
và 5, cho lưu lượng thay đổi từ 0,8 – 110,5m
3
/ngđ. Đặc trưng của phức hệ là
dị thường gradien áp suất vỉa cao, có thể lên đến 0,172at/m.
Phức hệ Trà Cú là các vỉa cát có độ hạt trung bình, đôi chỗ ở cánh Bắc
có chứa nứt nẻ, chứa các tầng sản phẩm 6, 7, 8, 9 và 10. Lưu lượng thu được
từ 180,4 – 337m
3
/ngđ.
Phức hệ móng kết tinh là Granitoid bị phong hóa và nứt nẻ mạnh, độ
hang hốc lớn, gặp trong rất nhiều giếng khoan ở vòm Bắc và vòm Trung Tâm.
Lưu lượng lớn nhất ở phần đỉnh của vòm Trung Tâm có thể đạt tới
700m
3
/ngđ, còn phần sụt lún của móng lưu lượng thấp, chỉ đạt 4m
Page 12 of 107
đồng thời cũng tránh xảy ra sự cố trong quá trình khoan các đoạn còn
lại.
d. Cột ống khai thác φ 245 mm:
Cột ống này có mục đích ngăn cách tầng nham thạch Oligoxen trong
quá trình khoan tầng đất đá này, chống sập lở, bó hẹp thành giếng khoan.
2. Tính toán cấu trúc giếng khoan,xác định chiều sâu đặt chân
đế ống chống:
Phần này nêu lên những công việc cần làm khi xác định chiều sâu đặt
chân đế cho bất kỳ cột ống chống nào được hạ xuống trong giếng gồm các
bước sau:
+ xác lập những yêu cầu của giếng
+ thu thập dữ liệu liên quan đến giếng thiết kế
+ xác định biểu đồ gradient áp suất vỉa và vỡ vỉa tương ứng với cột địa
tầng trên cùng một biểu đồ để xác định những khoảng có dị thường
+ xác định độ sâu tối thiểu đặt ống chống kỹ thuật
+ Điều chỉnh độ sâu đặt ống kỹ thuật dựa vào địa tầng hoặc yêu cầu của
giếng
+ Lặp lại các công việc trên cho ống chống kỹ thuật kế tiếp căn cứ vào tài
liệu địa chất của đất đá khoan qua và ảnh hưởng của nó đến công tác thi công
giếng khoan .
Để xác định độ sâu đặt chân đế ống chống thích hợp, cho phép thiết kế
một cấu trúc giếng tối ưu .Chiều sâu đặt chân đế ống chống được xác định
dựa trên yêu cầu địa chất và kỹ thuật đảm bảo chân đế đặt vào đất đá bền
vững để chống lại áp lực của hỗn hợp phun từ lòng giếng tại thời điểm nguy
hiểm nhất tương ứng với độ sâu đặt chân đế ống chống trước nó (tính từ dưới
lên)
Chiều sâu đặt chân đế ống chống được xác định bằng công thức sau:
Page 13 of 107
L
Dựa vào kết quả các giếng đã khoan gần đó và kinh nghiệm qua thực tế
khoan tại mỏ Bạch Hổ để thiết kế cấu trúc giếng tối ưu cho giếng số: BH
2.1: Xác định chiều sâu đặt chân đế ống chống thứ II (từ dưới lên) φ 245 mm:
Đây là ống chống có đường kính φ 245 mm, cũng là ống chống khai
thác. Dựa vào tài liệu địa chất, theo mặt cắt của giếng đoạn từ 2140 m
→
3240 m thuộc tầng mioxen, đất đá bở rời, có áp suất vỉa thấp. Nếu đặt chân
đế chưa hết tầng mioxen, thì việc thi công giếng tiếp theo sẽ xảy ra hiện tượng
mất dung dịch tại ngay bên dưới chân đế ống chống này .
*Các tiêu chuẩn để xác định độ sâu đặt chân đế ống chống:
- Đảm bảo ngăn cách các thành hệ đất đá khác nhau hay các tầng có sự
thay đổi nhiều về gradient áp suất.
- Khống chế hiện tượng phun trào tại thời điểm nguy hiểm nhất. Để xác
định độ sâu đặt chân đế ống chống theo tiêu chuẩn sập lở, phun trào ta cần
phải xác định được tỷ trọng phun trào tại chân đế ống chống dưới .
L
o
=
[ ]
0
.1,0
..)(..1,0
γ
γ
−
+−−
m
LmHLHKn
Oa
0,02 ÷ 1,20 ± 0,02 g/cm
3
). Việc đặt chân đế ống ở độ sâu nào còn phụ thuộc
vào kinh nghiệm thực tế thi công các giếng khoan tương tự gần đó, để đạt
hiệu quả kinh tế và an toàn
Với : n = 1,1
K
a
= 1,15
H = 3240 m
m = 0,16
γ
o
= 0,85 T/m
3
L
3
=
[ ]
85,0.1,016,0
35.16,03240.85,0)353240(.1,1.1,0
−
+−−
L
3
= 736,133 m
Trên thực tế theo mặt cắt địa chất tại 3 điểm 730 m , 1285 m, 2140 là ba điểm
thuộc địa tầng sét vững chắc đảm bảo cho việc đặt chân đế ống chống, đồng thời
khi khoan đoạn này tỷ trọng dung dịch không đổi γ = 1,10 ±0,02 g/cm
3
0 ÷ 120 0 ÷ 120
Dẫn hướng 508
0 ÷ 400 0 ÷ 400 0 ÷ 400
Trung gian 340
0 ÷ 2140 0 ÷ 2440 0 ÷ 2140
Khai thác 245
0 ÷ 3240 0 ÷ 3610 1940 ÷ 3240
3.Thiết kế profin giếng khoan
3.1. Mục đích và yêu cầu của Profin giếng khoan.
Page 16 of 107
Thiết kế Profin giếng khoan là ta chọng kiểu và hình dáng của giếng phụ
thuộc váo chiều sâu và khoảng lệch đáy .Sau đó tính toán quỹ đạo của nó sao
cho phù hợp với mục đích thiết kế giếng ,các điều kiện kỹ thuật và công nghệ
mà chúng ta đang có .Giếng được thiết kế là giếng khoan xiên định hướng
,như vậy Profin của nó phải thỏa mãn các yêu cầu sau :
• Đảm bảo thi công giếng đạt đến độ sâu và khoảng lệch đáy thiết kế (
).Với chất lượng đảm bảo ( sai số trong phạm vi cho phép ) ,chi phí về
thời gian ,nhân lực vật tư ít nhất ,giá thành rẻ .
• Đảm bảo độ cắt xiên hợp lý để dụng cụ cắt xiên làm việc có hiệu quả
tốt ,đảm bảo cho sự đi qua tự do của các bộ khoan cụ ,ống chống trong
quá trình khoan và khai thác ,sửa chữa ngầm trong quá trình khai thác .
• Giảm tối đa khả năng xẩy ra sự cố trong quá trình thi công giếng
khoan.
3.2. Lựa chọn Profin giếng khoan.
Căn cứ vào mục đích và yêu cầu của giếng như ở trên, cũng như các điều
kiện địa chất của các tầng đất đá khoan qua như: Nhiệt độ áp suất vỉa, tính
chất cơ lý của đất đá. Đặc biệt là tầng có áp suất dị thường áp suất, các vùng
phức tạp và các yếu tố cong tự nhiên tại vị trí thi công lỗ khoan. Dựa vào kinh
nghiệm khi khoan hàng loạt các giếng khoan tại mỏ BẠCH hổ, ta có thể chọn
profin của giếng khoan như sau:
θ = arcsin
)2()(
)2()(
0
0
22
0
2
0
SRSRH
SRSHSRHR
O
−−+
−−−−
Trong đó:
R
0
= R
2
+ R
4
R
2
là bán kính đoạn cong H
2
R
4
là bán kính đoạn cong H
4
H = H
− Cường độ cong ∆θ
2
:
∆θ
2
= 0,3
0
/10m.
R
4
= 573/∆θ
2
= 1910m.
Để đảm bảo khả năng đi qua tự do của bộ dụng cụ khoan qua ồng chồng trong
quá trình khoan, các thiết bị khai thác thì R
2
> R
min
, R
4
> R
min
.
R
min
là bán kính cong cực tiểu cho phép.
R
min
= 167.
)(
.q
T
.
T
T
IE
L
.
2
Trong đó:
q
T
là trọng lượng 1cm tuabin (3KG).
E là môđun đàn hồi của thép.
E= 2,1.10
6
(kg/cm
2
).
I
T
là mômen quán tính của tuabin.
I
T
= 0,049.d
T
4
= 17511cm
4
.
5
- (R
2
+ R
4
).sinθ = 1147m
H
4
= R
4
.sinθ = 1108m
H
5
= 148m
H
0
= 3387m
Chiều dài theo thân giếng là:
Page 19 of 107
l
1
= H
1
= 430m
l
2
= 0,01745.R
2
.θ = 591m
l
2
= H
3
. tgθ = 817,5m
S
3
= R
4
.(1- cosθ) = 355m
S = 1350m
Kết quả tính toán Profin giếng N
0
ABC Bảng (I-2)
TT Các đoạn profin
Chiều dài
thân giếng
(m)
Khoảng dịch
đáy (m)
Chiều sâu
thẳng đứng
(m)
1 Đoạn thẳng đứng 430 0 430
2 Đoạn tăng góc 591 177,5 554
3 Đoạn ổn định góc 1409 817,5 1147
4 Đoạn giảm góc 1183 355 1108
5 Đoạn thẳng đứng 148 1350 3387
Page 20 of 107
0
750
1350 departure
Bottom hole
3760 MD 3387TVD
0.00° 338.00°az
1350 departure
GI? NG 2008
M? B? CH H?
GIÀN 4
PROFIN giếng khoan N
ô
ABC
Page 21 of 107
GIẾNG 2008
MỎ BẠCH HỔ
Cột địa
tầng
Mặt phản
xạ
Đương lượng Gradiên
áp suất vỉa, vỡ vỉa
Cấu trúc giếng khoan
Tỷ trọng dung
dịch (g/cm )
3
Nước biển
Plioxen + Q
(N1 + Q) BH
mioxen
N Đồng Nai
MZ
phà hủy đất đá nhờ có các tuabin lắp ở bên trong cột cần khoan đáy lỗ khoan,
nó có nhiệm vụ truyền dung dịch từ bề mặt xuống đáy lồ khoan để cho tuabin
làm việc, khi kéo thả bộ động cơ đáy…Vì vậy ứng suất phát sinh trong quá
trình làm việc nhỏ ( đặc biệt là ứng suất mỏi và uốn ) dẫn đến giảm sự cố và
đứt cần khoan, tránh mài mòn các bộ phận của cột cần khoan và các thiết bị
quay trên bề mặt. Đặc biệt phương pháp này rất thuận lợi cho khoan định
hướng. Nhưng khoan tuabin có nhừng nhược điểm sau:
− Đặc tính làm việc của tuabin là có số vòng quay lớn do đó điều
rất hạn chế khi sử dụng choòng chóp xoay thời gian sử dụng
ngắn do sự mài mòn của ổ tựa.
− Ở những tầng đất đá đòi hỏi mômen phá đá lớn lên một sồ loại
tuabin không đạt được điều này.
− Vùng làm việc ổn định của sồ vòng quay tuabin hẹp, nếu ra
ngoài tuabin sẽ không ổn định.
Page 23 of 107
− Trong khoan tuabin công suất thủy lực của máy bơm lớn hơn nhiều
so với khi khoan Roto. Hạn chế chiều sâu làm việc của tuabin.
Những chí phí cho quá trình bảo dưỡng và sửa chữa lớn dẫn đến làm tăng
giá thành 1m khoan.
- Khi khoan đến chiều sâu giếng khoan lớn, công suất máy bơm không
đáp ứng được yêu cầu phá hủy của đất đá do bị mất năng lượng thủy
lực quá nhiều.
Căn cứ vào ưu nhược điểm của từng phương pháp khoan, đặc điểm do địa
chất của mặt cắt giếng khoan, hình dạng thân giếng khoan người ta còn xét
đến điều kiện kinh tế, kỹ thuật của vùng mỏ. Vì vậy để đảm bảo các yêu cầu
trên ta có thể chọn phương pháp khoan cho từng đoạn khoan như sau:
- Đoạn thân giếng khoan thẳng đứng từ 85 ÷ 430m, ở đoạn này chúng ta
tiến hành mở lỗ, đất đá mềm, bở rời, đường kính lỗ khoan lớn đòi hỏi
mômen quay lớn, hiệu quả khi sử dụng choòng có vòi phun thủy lực ta
chọn phương pháp khoan rôto.
- Đường kính lỗ lớn nhất 700 mm
- Tốc độ quay lớn nhất 350 vòng/phút
- Công suất dẫn động 5000 KN
4: Hệ thống tuần hoàn:
*Máy bơm khoan YHB-600
- Đường kính xi lanh 130 - 170 mm
- Công suất 600 KW
- Công có ích 475 KW
- Áp suất cực đại 250 KGf/cm
2
Bảng 1
Đường kính xi lanh (mm) Lưu lượng bơm ( L/s) Áp suất bơm (KG/cm
2
)
Page 25 of 107