Mục lục
A. phần mở đầu
I. Lí do chọn đề tài
1. Lớ do khỏch quan
2. Lớ do ch quan
II. Mục đích nghiên cứu
III. NHiệm vụ nghiên cứu
IV. Đối tợng nghiên cứu
V. Phơng pháp nghiên cứu
b. nội dung
I. Nội dung chơng trình
II. quy trình dạy tiết tập đọc
III. Điều tra thực trạng
1, V phớa giỏo viờn
2, V phớa hc sinh
IV. những biện pháp rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh
1, Trong gi tp c:
a, Rốn k nng c thm
b, Yờu cu hc sinh c ỳng, lu loỏt v nm c ni dung, ý ngha cỏc bi
tp c
c, Hng dn hc sinh c din cm
2, Ngoi gi tp c
3, Giỏo ỏn minh ha
c. Kết luận
I, Kết quả
II, Một số kiến nghị
-1-
Đọc diễn cảm được thực hiện trong mọi giờ học của bậc tiểu học nhưng đặc
biệt nhất là ( lớp 4 + 5 ). Các em đã đọc thông viết thạo rồi nhưng chưa đọc diễn cảm
-2-
được. Chính vì vậy nên các em không cảm thụ và tiếp xúc được với ngôn ngữ nghệ
thuật, cảm thụ hết cái hay, cái đẹp của văn chương. Do vậy các em cần sự giúp đỡ
của người thầy, người cô để giúp các em có kỹ năng đọc tốt, tạo điều kiện cho các em
đọc để cảm nhận được tốt môn Tiếng Việt cũng như những môn khác.
2. Lý do chủ quan:
- Nhiều người cho rằng học sinh tiểu học chỉ cần đọc thông viết thạo. Chính vì lẽ đó
hoạt động của các em chưa được coi trọng đúng mức
- Một số em còn mải chơi, chưa chăm chỉ học tập. Phần đa gia đình còn khó khăn
chưa có đủ đồ dùng sách vở khi đến lớp.
- Mặt khác do từ ở lớp 1 - 2 - 3 các em mới chỉ đọc thông viết thạo. Lên lớp 4 các em
còn nhiều bỡ ngỡ khi thể hiện giọng đọc của mình để người nghe cảm nhận được
ngay. Các em có đọc diễn cảm hay 1 đoạn thơ, 1 đoạn văn các em mới cảm nhận
được cái hay, cái đẹp của bài thơ, bài văn đó và qua đó các em mới áp dụng vốn kiến
thức của mình để viết văn hay. Làm bài tập luyện từ và câu tốt, học tốt các phân môn
Tập đọc Luyện từ và câu, Tập làm văn... chính là góp phần nâng cao chất lượng của
bộ môn Tiếng Việt.
Xuất phát từ mục tiêu trên tôi thấy thật cần thiết phải giúp các em cảm nhận
được cái hay, cái đẹp của văn chương góp phần nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt
cho nên tôi đã tiến hành nghiên cứu: “Một số biện pháp rèn đọc diễn cảm cho học
sinh lớp 4”.
II/ Môc ®Ých nghiªn cøu:
- Rèn kỹ năng đọc diễn cảm cho học sinh
- Giúp học sinh đọc đúng, đọc diễn cảm không chỉ trong phạm vi một văn bản của tiết
tập đọc mà biết đọc diễn cảm bất kì một bài văn nào.
- Biết vận dụng kiến thức, hiểu biết của mình trong giao tiếp hàng ngày để nói hay,
B/ NỘI DUNG
I. néi dung ch¬ng tr×nh:
SGK Tiếng Việt 4 gồm 10 đơn vị học, mỗi đơn vị ứng với một chủ điểm, học
trong 3 tuần ( riêng chủ điểm Tiếng sáo diều học trong 4 tuần).
Nếu như ở các lớp dưới, chủ điểm học tập xoay quanh những lĩnh vực rất gần
gũi với học sinh thì ở lớp 4 chủ điểm là những vấn đề đời sống tinh thần của con
người như tính cách, đạo đức, năng lực, sở thích,.. cụ thể:
Tập I gồm 5 chủ điểm, học trong 18 tuần:
- Thương người như thể thương thân (tuần 1, 2, 3)
- Măng mọc thẳng (tuần 4, 5, 6)
- Trên đôi cánh ước mơ ( tuần 7, 8, 9)
- Có chí thì nên (tuần 11, 12, 13)
- Tiếng sáo diều ( tuần 14, 15, 16, 17)
Tuần 10 dùng để ôn tập giữa học kì I, tuần 18 ôn tập cuối học k ì I
Tập II gồm 5 chủ điểm, học trong 17 tuần
- Người ta là hoa đất ( tuần 19, 20, 21)
- Vẻ đẹp muôn màu ( tuần 22, 23, 24)
- Những người quả cảm (tuần 25, 26, 27)
- Khám phá thế giới ( tuần 29, 30, 31)
- Tình yêu cuộc sống ( tuần 32, 33, 34)
Tuần 28 dùng để ôn tập giữa học kì II, tuần 35 ôn tập cuối học kì II
Phân môn Tập đọc được dạy 2 tiết/ tuần.
II. Quy Tr×nh d¹y tiÕt tËp ®äc :
1. Kiểm tra bài cũ:
- GV cho 2 – 3 HS đọc thành tiếng hoặc đọc thuộc lòng bài tập đọc hoặc bài học
thuộc lòng trước đó, sau đó đặt một số câu hỏi về nội dung bài để kiểm tra kĩ năng
đọc - hiểu.
2. Dạy bài mới:
+ HS tự nhẩm HTL các khổ thơ, bài thơ hay đoạn văn theo chỉ định trong SGK.
+ GV tổ chức thi đọc thuộc lòng các khổ thơ, bài thơ hay đoạn văn vừa học thuộc
-6-
c, Củng cố, dặn dò:
- Hướng dẫn HS chốt lại nội dung chính hoặc ý nghĩa của bài tập đọc
- Nêu nhận xét tiết học
- Nêu yêu cầu tiếp tục luyện tập và chuẩn bị bài sau
III. §iÒu tra thùc tr¹ng:
1. Về phía giáo viên:
Trước đây, phân môn Tập đọc của môn Tiếng Việt ở chương trình cũ vẫn còn
đề cao quá mức về cảm thụ văn học nên một số giáo viên đã biến tiết Tập đọc thành
giờ giảng văn. Trong tiết học, giáo viên quá lạm dụng phần tìm hiểu bài, giảng giải là
chính còn học sinh chỉ nghe, ít có thời gian để luyện đọc; hậu quả là có một số em
học hết chương trình Tiểu học mà vẫn chưa đọc thông thạo. Song ở chương trình
tiếng Việt Tiểu học mới hiện nay, nội dung các bài đọc trong sách giáo khoa tương
đối phù hợp với nhận thức của học sinh, các bài đọc được sắp xếp khá lôgic, chặt chẽ
theo từng chủ điểm, đa dạng các thể loại và nội dung phong phú ; hơn nữa giáo viên
đã nắm được Chuẩn cần đạt về kĩ năng đọc và hiểu của học sinh. Vì thế, trong quá
trình dạy phân môn Tập đọc thì người giáo viên đã hướng dẫn các em thực hiện khá
nhịp nhàng giữa các hoạt động.
Mặt khác giáo viên còn chưa hiểu rõ được vai trò của đọc diễn cảm trong phân
môn tập đọc lớp 4. Chưa đổi mới phương pháp trong giảng dạy còn quá lệ thuộc vào
sách vở, giảng dạy dập khuôn máy móc không có sự linh hoạt sáng tạo trong giảng
dạy. Chưa biết phát huy tính tích cực của học sinh trong giờ học từ đó hạn chế hiệu
quả giảng dạy. Đa số các bài đọc lớp 4 ; 5 tương đối dài mà thời gian một tiết học quá
ít nên hầu như giáo viên chỉ mới dừng lại ở luyện đọc đúng cho các em, bước hướng
dẫn các em đọc diễn cảm còn ít. Chính vì thế, việc yêu cầu các em tham gia thể hiện
đọc diễn cảm trước lớp chỉ thực hiện được ở một số học sinh khá, giỏi.
IV. NHững biện pháp rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh:
Xut phỏt t cỏc nguyờn nhõn trờn, hng nm trong quỏ trỡnh ging dy, bn
thõn tụi ó thc hin mt s gii phỏp nhm rốn k nng c din cm cho cỏc em lp
4. C th : c vo u mi nm hc, sau khi nhn lp v n nh t chc lp xong, tụi
ó tin hnh kho sỏt cht lng hai mụn Toỏn, Ting Vit nm c cht lng
-8-
đại trà từng môn của lớp ; sau đó tôi tiếp tục đưa ra một đoạn văn ngắn yêu cầu các
em đọc để khảo sát kĩ năng đọc của từng học sinh. Kết quả khảo sát đầu năm học
2011 – 2012 là :
Thời gian
Đọc chưa lưu loát
Đọc đúng
Đọc hay
kiểm tra
KSCL
(có diễn cảm)
SL
%
SL
%
văn bản.
- Đọc thầm chỉ được thực hiện khi người đó đã biết đọc thành tiếng một cách thành
thạo. Khi đọc thầm, do không phải phát âm thành tiếng nên người đọc đỡ hao tốn sức
lực hơn so với đọc thành tiếng, tốc độ nhanh hơn từ 1,5 đến 2 lần, người đọc có điều
kiện tập trung tư tưởng để suy ngẫm, tìm hiểu ý tứ nội dung văn bản đọc. Vì thế đọc
thầm giúp người đọc thông hiểu, tiếp nhận tốt hơn nội dung thông tin của văn bản.
- Chính vì thế mà để dạy đọc hiểu được cho học sinh thì giáo viên cần rèn cho các em
kỹ năng đọc thầm. Khi tổ chức cho học sinh đọc thầm, theo chúng ta cần chú ý.
- Tư thế ngồi đọc của học sinh ngồi ngay ngắn khoảng cách giữa mắt và sách từ 30
đến 50 cm
-9-
- Thường xuyên củng cố cho học sinh về cách đọc thầm, đọc hoàn toàn bằng mắt,
không mấp máy mắt, không phát ra tiếng. Lúc đầu có thể di chuyển mắt theo que trỏ
hoặc ngón tay, khi đạt thành thạo chỉ có mắt di chuyển mà thôi, và quan trọng hơn là
mắt đọc nhưng đầu phải suy nghĩ về những điều mình đang đọc ( tránh tình trạng học
sinh chỉ di chuyển mắt theo chữ mà tâm lại hoàn toàn nghĩ về chuyện khác ).
- Cần kiểm soát quá trình đọc thầm của học sinh. Quy định thời gian đưa ra câu hỏi
(đơn giản) yêu cầu học sinh trả lời về hình thức về nội dung của bài đọc.
b. Yêu cầu học sinh đọc đúng, lưu loát và nắm được nội dung, ý nghĩa các bài
đọc
Muốn đọc diễn cảm một tác phẩm trước hết đòi hỏi các em cần phải biết đọc
đúng, lưu loát và nắm được nội dung, ý nghĩa của tác phẩm đó. Vì khi đọc đúng, các
em sẽ phát âm chính xác các từ ngữ, biết ngắt nghỉ giọng đúng chỗ trong từng câu,
từng đoạn để giúp người nghe hiểu đúng nghĩa các từ ngữ cũng như các câu văn của
bài đọc. Còn khi các em nắm được nội dung, ý nghĩa bài đọc sẽ giúp các em biết nhấn
giọng các từ ngữ biểu cảm và tự xác định được giọng đọc phù hợp cho từng đoạn hay
cả bài đọc đó. Hơn nữa, có hiểu thấu đáo nội dung và ý nghĩa của bài đọc thì các em
mới có những cảm xúc thực để truyền đạt được những tâm tư tình cảm hay ý đồ của
được thực hành đọc. Qua thực hành mà học sinh được giáo viên hướng dẫn, uốn nắn
hay động viên, khích lệ để đạt được vững chắc kĩ năng đọc, chuẩn bị luyện tập kĩ
năng mới: Đọc diễn cảm.
Với những học sinh phát âm chưa đúng, giáo viên cần sửa phát âm cho học sinh. Cụ
thể:
Ví dụ: Khi dạy bài Hoa học trò học sinh phát âm sai từ “ nỗi niềm”, “lá me non”, “lúc
nào”, “làm sao” thành các từ “ lỗi liềm”, “ná me lon”, “núc lào”, “nàm sao”… Đây là
lỗi sai khi nói lẫn lộn phụ âm đầu l/n do cách phát âm của địa phương. Đối với những
lỗi như thế này tôi gọi một hoặc hai học sinh đọc chuẩn đọc lại hoặc tôi đọc lại từ đó
và yêu cầu học sinh phát âm theo. Nếu học sinh không sửa được tôi dùng cách trực
quan mô tả âm vị và hướng dẫn học sinh quan sát, tự kiểm tra. Vì âm “ n ” là âm mũi
khi phát âm sờ tay vào mũi thấy rung. Tôi yêu cầu học sinh đọc lại các từ “ nỗi
- 11 -
niềm”, “lá me non”, “lúc nào” một cách chính xác. Ngược lại, khi bịt mũi học sinh
không thể đọc được “ nỗi niềm”.
Đối với những học sinh đọc sai dấu thanh: thanh “ hỏi” thành thanh “ nặng”, thanh
“ngã” thành thanh “sắc”.
Ví dụ: Khi đọc “ đỏ rực” thành “đọ rực”, “xã hội” thành “ xá hội”, “ đưa đẩy” thành
“đưa đậy”, “mạnh mẽ” thành “mạnh mé”.
Đây là những lỗi sai rất khó sửa nên tôi đã rất kiên trì đồng thời phải có sự phối hợp
tích cực giữa học sinh, phụ huynh. Tôi hướng dẫn học sinh cách đặt vị trí của đầu
lưỡi khi phát âm “ đỏ”, “đẩy” đầu lưỡi đặt lên vị trí hàm trên hai môi khép kín khi
đọc lưỡi bật xuống và phát âm. Còn nếu học sinh phát âm sai “đọ”, “đậy” trong khi
phát âm nếu khép hai môi như trên thì không thể phát âm được. Tôi cũng hướng dẫn
cho phụ huynh cách luyện thêm ở nhà cho các em. Đối với từng bài tôi tìm ra những
tiếng khó, từ khó để các em luyện đọc.
Ví dụ:
+ Trong bài “ Đường đi Sa Pa” ( TV 4- tập 2 trang 102 ) các em cần đọc đúng các từ:
đúng nội dung. Có thể kết hợp cho học sinh đọc thành tiếng, những học sinh khác đọc
thầm thảo luận vấn đề do giáo viên đưa ra. Ví dụ: Giáo viên yêu cầu học sinh đọc
thầm khổ thơ 3 trong bài thơ "Mẹ ốm"( lớp 4) để trả lời câu hỏi: Sự quan tâm chăm
sóc của xóm làng đối với mẹ bạn nhỏ được thể hiện qua những câu thơ nào?
- Với trình độ học sinh trong lớp, tôi chia câu hỏi thành các ý nhỏ để học sinh dễ thực
hiện hoặc bổ sung câu hỏi phụ có tác dụng dẫn dắt học sinh trả lời câu hỏi.
Ví dụ: Câu hỏi 1 trong bài "Tre Việt Nam"(lớp 4) tôi tách thành 3 ý nhỏ để học sinh
dễ trả lời.
+ Những hình ảnh nào của tre gợi lên phẩm chất cần cù của người Việt Nam?
+ Những hình ảnh nào gợi lên phẩm chất đoàn kết của người Việt Nam?
+ Những hình ảnh nào gợi lên phẩm chất ngay thẳng của người Việt Nam?
- Bằng nhiều hình thức khác nhau ( làm việc cá nhân, theo cặp hoặc theo nhóm..), tôi
tạo điều kiện cho học sinh luyện tập một cách tích cực. Trong quá trình tìm hiểu bài,
tôi rèn luyện cho học sinh cách trả lời câu hỏi, trao đổi ý kiến.
- Muốn đọc diễn cảm một văn bản, phải lựa chọn được giọng điệu, ngữ điệu phù hợp
với tình huống miêu tả, thể hiện được tình cảm, thái độ, đặc điểm của nhân vật hay
tình cảm, thái độ của tác giả đối với nhân vật và nội dung, ý nghĩa bài đọc. Tôi yêu
cầu học sinh đọc thật tốt một đoạn văn nhằm "thăm dò" khả năng thể hiện sự cảm
nhận nội dung bằng giọng đọc của học sinh. Qua kết quả đọc của học sinh, tôi dẫn
- 13 -
dắt, gợi ý để học sinh phát huy những ưu điểm, khắc phục những hạn chế và tìm ra
cách đọc hợp lí. Ví dụ: Đoạn vừa rồi đọc với giọng như thế nào? Để nêu đặc điểm
của nhân vật, em cần chú ý nhấn giọng ở những từ ngữ nào?
Hoặc: Qua nội dung bài, em hãy xác định giọng đọc chung của toàn bài?
Học sinh thảo luận và trả lời - sau đó giáo viên rút ra kết luận chung
- Muốn tìm hiểu được ngữ điệu đọc phải bắt đầu từ hiểu và cảm thụ nội dung bài.
- Trong mỗi tiết học, giáo viên là người giúp các em nắm vững nội dung bài, những
từ ngữ gợi tả bằng cách đặt câu hỏi, gợi mở, dẫn dắt, từ đó các em sẽ cảm thụ và rung
hiểu biết thêm về các biện pháp tu từ như: biện pháp so sánh , nhân hoá và dấu hiệu
nhận biết, tác dụng của các biện pháp đó. Đồng thời, các em cần tìm ra sự tinh tế
trong cách sử dụng ngôn từ. Ta cần đọc kỹ, lắng nghe xem bài văn gây cho ta cảm
xúc gì? ( cảm xúc về âm thanh, giai điệu? về đường nét, mầu sắc ? về nhịp điệu cuộc
sống? về tâm tư, suy nghĩ của tác giả? về con người cảnh vật được miêu tả?... ).
- Muốn có được những cảm nhận đó, các em cần có một trí tưởng tượng phong phú,
một khả năng nhận diện cảm xúc nhậy bén … giáo viên chính là người phát hiện và
bồi dưỡng những khả năng này ở các em.
Ví dụ: Khi dậy bài “ Bài thơ về Tiểu đội xe không kính” – Tiếng việt 4 tập 2 trang 71.
“ Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi,
Nhìn đất nhìn trời, nhìn thẳng
……
Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đã về đây họp thành tiểu đội
Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới
Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi.”
Phạm Tiến Duật
- Để giúp các em hiểu rõ nội dung và cảm thụ được bài thơ giáo viên cần đặt câu hỏi:
+ Những hình ảnh nào trong bài thơ nói nên tinh thần dũng cảm và lòng hăng hái của
những chiến sỹ lái xe?
+ Tình đồng chí, đồng đội của những người chiến sỹ được thể hiện trong câu thơ nào?
- 15 -
+ Hình ảnh những chiếc xe không có kính vẫn băng băng ra trận giữa bom đạn của kẻ
thù gợi cho em cảm nghĩ gì?
- Qua hình ảnh độc đáo của những chiếc xe không kính vì bom giật bom rung sẽ giúp
các em hiểu rõ hơn những khó khăn, nguy hiểm trên đường ra trận và tinh thần dũng
c. Hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm
Đọc diễn cảm (còn gọi là đọc hay) là một hình thức bộc lộ cảm thụ văn bản. Qua đọc
diễn cảm, người giáo viên sẽ đo được mức độ cảm thụ của học sinh. Vì thế có thể nói:
“Đọc diễn cảm là một kĩ xảo của quá trình đọc.”
Luyện đọc diễn cảm cho học sinh tức là hướng dẫn cho các em khi đọc biết cách thể
hiện ngữ điệu, trường độ, cao độ qua giọng đọc của mình. Muốn thể hiện tốt giọng
đọc diễn cảm cho một bài đọc hay một đoạn trong bài đọc thì người giáo viên cần căn
cứ vào nội dung, phong cách bài đọc để dẫn dắt, gợi mở học sinh tìm ra cách đọc và
tập thể hiện bằng giọng đọc của chính mình.
Thông thường, ở lớp 4, bước đọc diễn cảm được thực hiện sau bước tìm hiểu bài và
không đòi hỏi học sinh phải thực hiện đọc cả bài mà chỉ yêu cầu đọc diễn cảm 1- 2
đoạn trong bài đọc. Vì thế, sau khi các em tìm hiểu bài xong, tôi đã tiến hành luyện
đọc diễn cảm cho các em theo quy trình :
+ Đọc nối tiếp từng đoạn trong bài.
+ Giới thiệu đoạn đọc diễn cảm (thường là những đoạn tiêu biểu và khó đọc nhất
trong bài đọc)
+ Đọc mẫu (giáo viên hoặc học sinh giỏi, khá)
+ Yêu cầu học sinh nêu giọng đọc phù hợp cho đoạn trên.
+ Luyện đọc diễn cảm theo nhóm.
+ Tổ chức thi đọc diễn cảm trước lớp.
Với quy trình trên, tôi thường giao việc cụ thể cho từng đối tượng HS như sau :
- Với các em thuộc đối tượng 1 (những HS đọc hay) : Tự đọc để phát hiện cách đọc;
nêu giọng đọc phù hợp nhất và tiến hành đọc diễn cảm đoạn đó.
- Với các em thuộc đối tượng 2 (những HS đọc đúng) : Nêu chỗ ngắt nghỉ giọng cho
câu văn (đặc biệt trong câu văn dài) hay nhịp điệu của dòng thơ, câu thơ ; nêu các từ
ngữ cần nhấn giọng để bước đầu biết đọc diễn cảm.
- 17 -
Theo tôi, không phải bài đọc nào cũng thực hiện đọc diễn cảm. Đối với văn
bản nghệ thuật thì mới hướng dẫn đọc diễn cảm, còn đối với các văn bản khác thì chỉ
hướng dẫn luyện đọc lại. Đồng thời, trong thực tế, không phải giáo viên nào cũng
biết đọc diễn cảm nên giọng đọc mẫu của giáo viên có ý nghĩa rất quan trọng trong
việc hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm, nó không những giúp các em cảm nhận được
ngay từ đầu cái hay, cái đẹp của tác phẩm mà còn tạo hứng thú trong suốt giờ học của
các em. Chính vì thế, khi dạy, tôi yêu cầu các em xác định bài đọc đó có phải là văn
bản nghệ thuật hay không ? Còn khi tiến hành đọc diễn cảm, tôi luôn nhắc các em
phải biết thể hiện rõ ngữ điệu, trường độ, cao độ của giọng đọc trong từng bài. Đối
với mỗi bài đọc, tôi luôn khuyến khích các em tự trình bày giọng đọc hay nhất thông
qua ngữ điệu, độ to nhỏ, trầm bổng hay nhanh chậm của âm thanh, câu, từ.
- Trong quá trình soạn bài, tôi đã phân loại các văn bản nghê thuật trong chương trình
Tập đọc lớp 4 thành 3 thể loại cơ bản sau :
(1) Văn xuôi.
(2) Thơ.
(3) Truyện ; kịch.
Ở mỗi thể loại, tôi hướng dẫn cách đọc diễn cảm khác nhau. Cụ thể :
* Đối với văn xuôi
Hướng dẫn các em xác định về sắc thái giọng đọc, biết lựa chọn cách ngắt nghỉ giọng
và nêu được những chỗ cần nhấn giọng phù hợp trong từng câu của đoạn. Tuỳ theo
nội dung từng câu hay của cả đoạn để lựa chọn các yếu tố trên sao cho phù hợp, từ đó
các em sẽ tự điều chỉnh được giọng đọc của bản thân khi đọc. Ngoài việc khai thác
các câu hỏi trong sách giáo khoa, tôi còn cho các em tìm hiểu thêm về giá trị nghệ
thuật trong đoạn cần đọc diễn cảm để các em dễ dàng tìm đúng giọng đọc cho đoạn
đó.
Ví dụ: Khi dạy bài “Hoa học trò” ( Tiếng Việt 4 - tập 2, trang 43)
Ở bước tìm hiểu bài, tôi đặt các câu hỏi:
+ Vẻ đẹp của hoa phượng có gì đặc biệt? (câu hỏi 2 SGK)
hơi sau các cụm từ (ĐT2 + 3) ; nêu
- Thống nhất giọng đọc cho đoạn giọng đọc phù hợp nhất cho đoạn (ĐT1).
này : đọc với giọng nhẹ nhàng, cảm - Chú ý lắng nghe.
hứng ca ngợi và nhấn giọng các từ - Đọc theo nhóm đôi (2’)
gợi tả, gợi cảm. (có thể đọc mẫu lại )
- Luyện đọc diễn cảm theo nhóm
- 3- 4 HS thi đọc ( theo từng cặp cùng nhóm
đối tượng đọc); Dưới lớp nhận xét và
- Tổ chức thi đọc diễn cảm trước lớp bình chọn bạn đọc hay nhất
Nhận xét, ghi điểm ; Tuyên dương HS.
Cụ thể đoạn này đọc như sau :
- 20 -
Phượng không phải một đoá, không phải vài cành; phượng đây là cả một loạt,
cả một vùng, cả một góc trời đỏ rực. Mỗi hoa chi là một phần tử của cả xã hội thắm
tươi; người ta quên đoá hoa, chỉ nghĩ đến cây, đến hàng, đến n ững tán hoa lớn xoè
ra như muôn ngàn con bướm thắm/ đậu khít nhau.
b, Đối với thơ
Ngoài sắc thái giọng đọc và cách nhấn giọng, tôi thường hướng dẫn các em biết lựa
chọn nhịp điệu cho từng dòng thơ, câu thơ trong các khổ thơ. Tuỳ theo nội dung của
từng bài để tôi hướng dẫn các em đọc diễn cảm. Ngoài việc chọn một đoạn tiêu biểu
để hướng dẫn các em đọc diễn cảm, tôi còn cho các em tự chọn và luyện đọc đoạn
thơ mà các em yêu thích để tạo hứng thú, sự thoải mái và tránh bị gò ép khi học tập ;
đồng thời phát huy tính tích cực, sáng tạo trong học sinh.
Ví dụ: Dạy bài “Tre Việt Nam” (TV4- tập 1, trang 41)
Vì bài này độ dài của các đoạn gần bằng nhau nên sau khi tìm hiểu bài xong, tôi hỏi:
thuộc lòng trước lớp.
+ 1- 2 em đọc thuộc lòng cả bài.
- Dưới lớp bình chọn bạn đọc hay nhất.
=> NX, ghi điểm; Tuyên dương.
(VD : Đoạn 4 của bài thơ cần đọc với giọng ca ngợi ; nhấn giọng ở các từ khẳng định
và những từ mang rõ sắc thái cảm xúc như sau :
... Nòi tre đâu chịu mọc cong
- 21 -
Chưa lên đã nhọn như chông / lạ thường.
Lưng trần phơi nắng / phơi sương
Có manh áo cộc, tre nhường cho con.
Măng non là búp măng non
Đã mang dáng thẳng / thân tròn của tre.
Năm qua đi, tháng qua đi
Tre già măng mọc / có gì lạ đâu.
Mai sau,
Mai sau,
Mai sau,
Đất xanh/ tre mãi xanh màu tre xanh.)
- Đối với các bài thơ thuộc thể thơ tự do, nhịp thơ không ổn định nên tôi luôn nhắc
các em phải dựa vào ý thơ giữa các dòng để ngắt đúng nhịp từng dòng thơ hoặc đọc
theo cách vắt dòng (tức là đọc liền mạch với các dòng sau)
c, Đối với truyện- kịch
- Với thể loại này, khi hướng dẫn đọc diễn cảm thì trước hết tôi giúp các em phân biệt
rõ giữa lời kể và lời các nhân vật, giữa lời các nhân vật với nhau; phân biệt nhân vật
chính - phụ để các em thể hiện tốt lời nói, ngữ điệu theo từng tuyến nhân vật nhằm
hình dáng của ông lão ăn xn đọc với giọng chậm rãi, thương cảm). Nhấn giọng những
từ ngữ gợi tả, gợi cảm.
-
Yêu cầu các em nêu giọng đọc phù hợp với từng nhân vật. Cụ thể :
. Lời cậu bé: giọng xót thương ông lão
Lời ông lão : xúc động trước tình cảm chân thành của cậu bé
- Hướng dẫn các em cách đọc diễn cảm đoạn kịch theo phân vai.
* Đọc diễn cảm :
+ Đọc từng đoạn.
+ Đọc diễn cảm đoạn : Tôi chẳng
– 3 HS nối tiếp đọc 3 đoạn của bài
- 3 HS đối tượng 1, 2 đọc theo cách phân
biết làm cách nào……… nhận
vai
được chút gì cuả ông lão
- HS luyện đọc diễn cảm theo cách phân
vai
- HS thi đọc diễn cảm
Lớp NX và bình chọn bạn thể hiện hay
nhất.
Như vậy, để rèn cho các em đọc diễn cảm có hiệu quả, trong các giờ Tập đọc
tôi luôn cho các em xác định bài đọc đó thuộc thể loại nào, từ đó các em sẽ định dạng
thức đọc theo phân vai.
- 24 -
Tuy nhiên không phải bài tập đọc nào cũng tổ chức đọc diễn cảm sau khi các
em đã luyện đọc đúng và tìm hiểu bài. Có những bài tôi đã định hướng cách đọc diễn
cảm cho các em ngay ở phần luyện đọc đúng (như ví dụ “Bài thơ về tiểu đội xe không
kính”. Qua các hình thức tổ chức trên nhằm phát huy tính độc lập (đọc cá nhân), tính
hợp tác (đọc theo nhóm, đọc theo phân vai) và tính thi đua (thi đọc trước lớp) trong
học sinh ; đồng thời giúp tôi phân loại các đối tượng đọc một cách dễ dàng, từ đó tôi
tiếp tục có kế hoạch bồi dưỡng, giúp các em học ngày càng tiến bộ nhằm nâng cao
chất lượng đọc diễn cảm nói riêng và chất lượng giảng dạy nói chung.
2. Ngoài giờ tập đọc:
Ngoài việc học trên lớp, tôi thường phát động học sinh mỗi tuần phải đọc một
bài thơ hay một câu chuyện ở báo thiếu niên, để đến giờ sinh hoạt có thể đọc thơ hoặc
kể chuyện cho cả lớp cùng nghe, tuyên dương những em học sinh có giọng đọc hay,
kể chuyện hấp dẫn.
- Trong buổi học thứ hai tôi thường đọc cho các em nghe một bài thơ, bài văn hay.
- Tôi đã phân loại chất lượng đọc của từng em, dành thời gian giúp đỡ, hướng dẫn các
em cách đọc đúmg, đọc diễn cảm.
- Tổ chức cho học sinh thi đọc trước lớp để các em tự đánh giá, cùng chọn ra bạn có
sự tiến bộ để động viên, tuyên dương, làm gương cho cả lớp noi theo.
3. Giáo án minh hoạ:
- 25 -