SKKN Một số giải pháp rèn đọc diễn cảm cho học sinh lớp 5 để học tốt môn Tiếng Việt ở trường tiểu học - Pdf 23

Rèn đọc diễn cảm cho học sinh lớp 5 - Trường Tiểu học Hồng Thái
A: PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
Giáo dục Tiểu học là nền móng đầu tiên giúp con người tồn tại và phát triển, trong đó
môn Tiếng Việt có một vị trí đặc biệt quan trọng vì nó hình thành và phát triển cho học sinh
khả năng giao tiếp, là cơ sở để phát triển tư duy cho trẻ, giúp trẻ tiếp thu các môn học khác.
Tiếng Việt ở Tiểu học gồm nhiều phân môn như : Tập đọc, Luyện từ và câu,
Kể chuyện, Chính tả, Tập làm văn ,…Mỗi môn học đều có một chức năng, khi dạy ngữ
văn ở nhà trường đồng thời cũng chuẩn bị vốn cho học sinh khi học văn mà Tập đọc là
phân môn giữ vai trò không nhỏ.
Tập đọc là phân môn có vị trí quan trọng hàng đầu trong chương trình Tiếng Việt ở
Tiểu học. Dạy tốt phân môn này không những rèn luyện cho học sinh kỹ năng đọc mà
còn phát triển cho các em vốn từ ngữ phong phú, tạo điều kiện để các em học tốt các
phân môn khác. Rèn luyện kỹ năng đọc cho học sinh như: đọc đúng, đọc nhanh, đọc
chính xác, rõ ràng, rành mạch, diễn cảm để học sinh có những hiểu biết về kiến thức văn
học, về ngôn ngữ và ngược lại khi hiểu được những văn bản đọc sẽ giúp học sinh hiểu
được đọc diễn cảm. Vì vậy giữa việc đọc đúng, đọc hiểu và đọc diễn cảm là hai quá trình
có liên quan gắn bó mật thiết với nhau. Qua việc đọc, học sinh chiếm lĩnh được văn hoá
của dân tộc, tiếp thu được nền văn minh của loài người thông qua sách vở. Qua việc đọc,
học sinh biết đánh giá cuộc sống xã hội, tư duy. Cũng qua hoạt động đọc, tình cảm, thẩm
mỹ của các em được nâng lên cao, tầm hiểu biết của các em nhìn ra thế giới xung quanh
và quá trình nhận thức cũng có chiều sâu hơn. Sự phát triển nhiều mặt này tạo điều kiện
để trẻ phát huy được mọi khả năng tiềm tàng, từ đó tạo cơ hội để sau này trẻ giúp ích cho
xã hội. Phân môn Tập đọc ở Tiểu học nói chung và ở lớp 5 nói riêng đặt ra một nhiệm vụ
quan trọng: đọc rành mạch, lưu loát bài văn (khoảng 120 tiếng/ phút), đọc có biểu cảm
bài văn, bài thơ ngắn, hiểu nội dung, ý nghĩa bài đọc. Thông qua các bài văn, bài thơ, học
sinh càng thêm yêu các miền quê của đất nước, đồng cảm với mọi tầng lớp nhân dân, mọi
con người trên đất nước Việt Nam cũng như trên thế giới, biết quý trọng, giữ gìn những
truyền thống quý báu của dân tộc ta.
Phân môn Tập đọc có tác dụng mạnh mẽ trong giáo dục thẩm mĩ, giúp học sinh thêm
yêu cái đẹp, rung cảm trước cái đẹp trong thiên nhiên, cái đẹp trong văn chương. Môn học

cảm cho học sinh lớp 5 - Trường Tiểu học Hồng Thái”. để nghiên cứu và vận dụng vào thực
tế lớp 5/1 - Trường Tiểu học Hồng Thái nhằm nâng cao chất lượng dạy và học.
II. Đối tượng nghiên cứu
Giúp học sinh khối lớp 5 và đặc biệt là học sinh lớp 5/1- Trường tiểu học Hồng
Thái rèn đọc diễn cảm.
III. Phạm vi nghiên cứu
Phân môn Tập đọc lớp 5, tập trung vào việc rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh
lớp 5/1 - Trường Tiểu học Hồng Thái trong năm học 2013-2014.
VI. Phương pháp nghiên cứu
a) Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tìm đọc các tài liệu, tạp chí, giáo trình có nội
dung rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh.
b) Phương pháp điều tra: Dự giờ, trao đổi với các bạn đồng nghiệp, học sinh về những
khó khăn cũng như những thuận lợi khi thực hiện dạy và học trong các giờ học Tập đọc trên lớp,

c) Phương pháp thực nghiệm: Tổ chức cho học sinh thực hiện các yêu cầu của giải
pháp đề ra, kiểm tra kết quả và tác dụng của giải pháp khi tiến hành.
d) Phương pháp so sánh, đối chiếu: Tổ chức so sánh, đối chiếu kết quả trước và
sau khi thực hiện giải pháp để thấy được kết quả cũng như hạn chế nhằm tìm ra hướng
điều chỉnh, khắc phục hợp lí.
B: NỘI DUNG
I. Cơ sở lí luận
Giáo viên: Hồ Thị Quế Nhi - Trường Tiểu học Hồng Thái
2
Rèn đọc diễn cảm cho học sinh lớp 5 - Trường Tiểu học Hồng Thái
Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở Tiểu học nhằm hình thành và phát triển ở học sinh
các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các
môi trường hoạt động của lứa tuổi. Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt góp phần rèn
luyện các thao tác của tư duy cho học sinh.
Cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ
giản về xã hội, về tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài.

sinh làm trung tâm” song kết quả cho thấy học sinh chưa đọc được hay (đọc diễn cảm)
bài đọc. Bởi trong khi dạy, giáo viên thường mới chỉ coi trọng và sửa cho học sinh vấn đề
đọc to, rõ ràng, lưu loát chứ chưa quan tâm nhiều đến kỹ thuật đọc, giọng đọc, cách đọc
diễn cảm của học sinh hay việc đọc mẫu của giáo viên. Giáo viên dạy Tập đọc như dạy
Văn trước đây. Nhìn chung phương pháp còn mang tính chất hưởng thụ và áp đặt (về
cách hiểu nội dung bài, cách đọc bài). Giáo viên giảng giải quá nhiều về các từ khó, về ý
Giáo viên: Hồ Thị Quế Nhi - Trường Tiểu học Hồng Thái
3
Rèn đọc diễn cảm cho học sinh lớp 5 - Trường Tiểu học Hồng Thái
nghĩa của bài mà xem nhẹ phần luyện đọc, đặc biệt là luyện đọc diễn cảm. Bên cạnh đó,
do khách quan, một số giáo viên không có chất giọng tốt để đọc hay bài đọc. Giáo viên
tiểu học lại dạy quá nhiều môn trong một buổi học nên việc đầu tư thời gian để luyện đọc
trước khi lên lớp còn có phần hạn chế
Về phía học sinh: Học sinh không quan tâm đến phương pháp đọc của mình, do đó
các em rất yếu về năng lực di chuyển kĩ năng đọc đã được hình thành ở các lớp trước, các
bài trước để giải quyết những vấn đề đặt ra trong bài mới. Các em đã đọc thành tiếng,
phát âm đúng và rõ các tiếng có vần khó. Nhưng đọc để thể hiện nội dung bài đọc thì còn
thấp. Khi đọc, nhiều em chưa hiểu ý của từng đoạn, từng bài, các em ngắt nghỉ câu văn,
ngắt nhịp câu thơ chưa chính xác, chưa thể hiện được nội dung và tình cảm bài đọc bằng
sắc thái giọng đọc vui, buồn, trầm, bổng, gợi cảm Kĩ năng đọc lướt để tìm hiểu nội
dung bài chưa tốt ở đa số các em.
Ảnh hưởng của phương ngữ: Tình trạng phát âm lẫn giữa thanh ngã và thanh sắc,
còn nặng nề. Do đặc điểm vùng miền, kinh tế ở gia đình chưa cao nên các em chưa được
tạo điều kiện tốt để học tập. Qua điều tra khảo sát chất lượng đọc của học sinh ngay từ
đầu năm học, tôi thấy lượng học sinh đã biết đọc diễn cảm bài văn, bài thơ rất ít, nhất là
đối với những học sinh có lực học trung bình hay yếu.
Cụ thể điều tra chất lượng đọc của học sinh hai lớp 5 đầu năm học này có số liệu
cụ thể như sau:
- Lớp 5/1 đầu năm học 2013- 2014
Sĩ số Học sinh đọc nhỏ, chậm Học sinh đọc to, lưu loát Học sinh đọc diễn cảm

hợp các số liệu đã thu được nhằm rút ra kinh nghiệm giảng dạy cho bản thân.
3. Công việc thực làm
3. 1. Tìm hiểu về mục tiêu, cấu trúc, phương pháp dạy phân môn Tập đọc 5
a. Tập đọc là gì?
Môn Tiếng Việt ở trường phổ thông có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngôn
ngữ cho học sinh. Đọc không chỉ là công việc giải quyết một bộ mã gồm hai phần chữ viết
và âm thanh, nghĩa là nó không phải chỉ là sự "đánh vần" lên thành tiếng theo đúng như các
ký hiệu chữ viết, mà đọc còn là quá trình nhận thức để có khả năng hiểu đọc những gì đã
được đọc. Tập đọc là cách học văn bản từ đọc đúng, đọc nhanh, đọc hiểu, đọc diễn cảm. Dạy
Tập đọc chính là việc giáo viên hướng dẫn hoàn thành 4 phẩm chất trên.
b. Y nghĩa của việc đọc
Tập đọc là một phân môn có ý nghĩa to lớn ở Tiểu học. Nó trở thành một đòi hỏi
cơ bản, đầu tiên đối với mỗi người đi học. Trước tiên, trẻ phải học đọc, sau đó phải đọc
để học. Đọc giúp trẻ chiếm lĩnh được ngôn ngữ trong giao tiếp và học tập, nó cũng là
công cụ để học các môn khác, nó tạo ra hứng thú và động cơ trong học tập. Đồng thời nó
tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học và tinh thần học. Đọc là khả năng không thể
thiếu được của con người. Trong thời đại văn minh, biết đọc sẽ giúp các em hiểu biết
nhiều hơn, hướng các em tới cái thiện và cái đẹp, dạy cho các em biết tư duy.
Như vậy, việc dạy đọc và đọc có một ý nghĩa vô cùng to lớn vì nó bao gồm nhiệm
vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển.
c. Mục tiêu của phân môn Tập đọc ở sách Tiếng Việt lớp 5
Phân môn Tập đọc lớp 5 tiếp tục củng cố và nâng cao kĩ năng đọc một cách đầy đủ,
toàn diện cho học sinh nhằm hoàn thiện yêu cầu cần đạt ghi trong Chương trình Tiểu học do
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành: Đọc rành mạch, lưu loát bài văn (khoảng 120 tiếng/
phút); đọc có biểu cảm bài văn, bài thơ ngắn; hiểu nội dung, ý nghĩa của bài đọc. Cụ thể:
- Củng cố, phát triển kĩ năng đọc trơn, đọc thầm đã được hình thành ở các lớp dưới;
tăng cường tốc độ đọc, khả năng đọc lướt để chọn thông tin nhanh; khả năng đọc diễn cảm.
- Phát triển kĩ năng đọc - hiểu lên mức cao hơn: nắm và vận dụng được một số khái
niệm như đề tài, cốt truyện, nhân vật, tính cách, để hiểu ý nghĩa của bài và phát hiện
một vài giá trị nghệ thuật trong các bài văn, bài thơ.

đặc điểm về nội dung, những sắc thái tình cảm được biểu hiện qua giọng đọc). Phần tìm hiểu
bài gồm những câu hỏi, bài tập giúp học sinh hiểu giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của bài
văn, bài thơ. Ở nhiều bài có thêm yêu cầu học thuộc lòng từng đoạn, cả bài.
e. Phương pháp dạy đọc diễn cảm cho học sinh lớp 5
Trong thực tế mỗi bài tập đọc gồm có hai phần lớn: tìm hiểu nội dung và luyện
đọc. Hai phần này có thể cùng tiến hành một lúc đan xen vào nhau hoặc cũng có thể dạy
tách hai phần tuỳ theo từng bài mà giáo viên lựa chọn. Dù dạy theo cách nào thì hai phần
này cũng luôn có mối quan hệ tương hỗ khăng khít với nhau. Phần tìm hiểu bài giúp cho
học sinh hiểu kĩ nội dung, nghệ thuật của bài, từ đó các em đọc diễn cảm tốt hơn. Ngược
lại, học sinh đọc hay, đọc diễn cảm để thể hiện tốt nội dung của bài, thể hiện những điều
hiểu biết xung quanh bài đọc.
Như vậy, việc rèn kỹ năng đọc diễn cảm trong dạy Tập đọc rất quan trọng góp
phần giúp học sinh biết cách xác định ngữ điệu từng loại văn bản, làm giàu vốn kiến thức
ngôn ngữ và kiến thức văn học cho học sinh, từ đó góp phần hình thành ở các em ý thức
được cách đọc nhằm diễn tả nội dung một cách tốt nhất.
Giáo viên: Hồ Thị Quế Nhi - Trường Tiểu học Hồng Thái
6
Rèn đọc diễn cảm cho học sinh lớp 5 - Trường Tiểu học Hồng Thái
Để bài dạy đạt kết quả cao, cần quan tâm đến cách tổ chức và lôgic các nội dung bài
trong giờ học không bị ngắt quãng, gián đoạn. Giáo viên phải lấy học sinh làm trung tâm.
Vai trò của giáo viên trong mỗi tiết học chỉ là người tổ chức, dẫn dắt học sinh tự tìm ra tri
thức. Ngoài ra, để phần tìm hiểu bài tiến hành được tốt thì cần phải có yếu tố như: cơ sở vật
chất đầy đủ, tranh ảnh minh hoạ cho bài tập phải đẹp, phong phú và cuối cùng là trình độ
giáo viên phải đáp ứng được yêu cầu của môn học. Nếu phối hợp được các yếu tố nói trên sẽ
giúp học sinh hiểu bài nhanh và sâu, hiểu một cách có hệ thống và làm tăng hiệu quả giờ
học. Các em hứng thú học, thích học Tiếng Việt, biết yêu cuộc sống qua từng bài học.
3.2. Những công việc thực tế đã làm
Từ những hiểu biết của mình về phân môn Tập đọc nói chung và rèn kĩ năng đọc
cho học sinh lớp 5/1- Trường Tiểu học Hồng Thái nói riêng, tôi đã suy nghĩ tự đặt ra cho
mình phải nhận thức được tầm quan trọng của phân môn. Đặc biệt quan tâm nhiều đến

Giáo viên: Hồ Thị Quế Nhi - Trường Tiểu học Hồng Thái
7
Rèn đọc diễn cảm cho học sinh lớp 5 - Trường Tiểu học Hồng Thái
tôi đã nêu tầm quan trọng, yêu cầu kỹ năng cơ bản về việc rèn kĩ năng đọc diễn cảm.
Hướng dẫn học sinh lưu lại những câu, đoạn văn, đoạn thơ, bài văn, bài thơ hay trong sổ
tay của mình, giao trách nhiệm cho một số em đọc khá, đọc tốt thường xuyên kèm cặp
giúp đỡ những em đọc yếu ở mọi bài học, mọi môn học chứ không chỉ dừng lại ở phần
đọc theo cặp đôi hay đọc theo nhóm, đọc phân vai
Sau khi đã tiến hành như trên, tôi đã bước vào giảng dạy như sau:
*Bước chuẩn bị:
- Đối với giáo viên: Phải nghiên cứu tài liệu, nắm nội dung bài giảng, đọc tài liệu
tham khảo để soạn bài được chu đáo. Ở mỗi bài tập đọc, giáo viên phải đọc kĩ bài, sau đó
suy nghĩ xác định yêu cầu của bài, phân tích nội dung và hình thức bài đọc để tìm ra cái
hay, cái đẹp của tư tưởng tình cảm, của nghệ thuật ngôn từ để tìm ra cách đọc diễn cảm.
- Đối với học sinh: Phải có sự chuẩn bị bài chu đáo, hoàn thành tốt những công
việc cô giáo giao trong phần dặn dò của tiết tập đọc trước như soạn bài, sưu tầm tranh,
ảnh có liên quan đến bài đọc
*Bước tiến hành:
Khi đã chuẩn bị chu đáo về nội dung, phương pháp của tiết dạy, tôi đã tiến hành
rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh như sau:
Phương pháp rèn đọc diễn cảm cho học sinh lớp 5
Trong kinh nghiệm này tôi xin được trình bày các biện pháp, giải pháp đã thực
hiện để rèn đọc hay (đọc diễn cảm) một văn bản cho học sinh lớp 5.
- Khắc phục tình trạng đọc ê a, ngắc ngứ
Như chúng ta đã biết, chữ Tiếng Việt của chúng ta viết rời ra từng âm tiết chứ
không phải viết liền từng từ như chữ một số nước khác (Anh, Nga, Pháp ) nhưng khi đọc
ta lại không đọc rời rạc từng âm tiết một mà phải đọc theo từng cụm từ.
Ví dụ: Trong vườn, lắc lư những chùm quả xoan vàng lịm không trông thấy cuống,
như những chuỗi tràng hạt bồ đề treo lơ lửng.
Nếu tính về mặt âm tiết thì câu văn trên có 24 âm tiết, 19 từ, 7 cụm từ. Khi học

hơn) thì loại lỗi này không còn trong lớp tôi nữa, các em đọc đã khá trôi chảy, lưu loát.
- Khắc phục tình trạng đọc lên xuống giọng tùy tiện
Theo tôi muốn khắc phục tình trạng lên xuống giọng tuỳ tiện thì giáo viên phải
hướng dẫn thật tốt cách đọc các kiểu câu:
Câu kể: Ở cuối câu có dấu chấm khi đọc thường phải xuống giọng ở cuối câu.
Câu hỏi: Ở cuối câu có dấu chấm hỏi, khi đọc ta phải lên giọng ở cuối câu.
Câu kể có dấu chấm lửng: khi đọc phải kéo dài giọng.
Câu cảm, cầu cầu khiến: Ở cuối câu có dấu chấm than khi đọc cần phải lên giọng ở cuối câu.
Ví dụ: Trong bài" Tác phẩm của Si- le và tên phát- xít”(TV5, tập 1, tr.58) tôi
hướng dẫn học sinh cách đọc các loại câu này như sau:
- Chép đoạn văn đó lên bảng phụ.
- Hỏi học sinh trong đoạn văn đó có những câu văn nào là câu hỏi, câu kể, câu
cảm, câu cầu khiến và cách đọc của từng loại câu này, giáo viên dùng phấn mầu ghi ký
hiệu lên giọng & , xuống giọng m ở cuối mỗi loại câu.
Bực mình vì ông cụ biết tiếng Đức nhưng không thèm chào bằng tiếng Đức, hắn
liền hỏi:
m
(câu kể)
- Lão thích nhà văn Đức hơn lời chào của người Đức chăng?
&
( câu hỏi).
- Sao ngài lại nói thế? Si- le là nhà văn quốc tế chứ!
&
( câu cảm)- Ông già điềm
đạm trả lời.
m
( câu kể )
Nhận thấy vẻ ngạc nhiên của tên sĩ quan, ông già nói tiếp:
m
( câu kể )

hướng dẫn học sinh đọc ngắt nhịp thơ đúng thì giáo viên phải nắm vững cách đọc các thể
thơ. Các bài thơ trong sách Tiếng Việt 5 thường được viết theo thể thơ tự do. Vì vậy, ngắt
nhịp thơ còn phụ thuộc vào cách cảm nhận của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, giáo viên cần hướng
học sinh cảm nhận theo cách khai thác được giá trị nội dung và giá trị thẩm mĩ cao nhất.
Trong bài"Hành trình của bầy ong ", học sinh thường ngắt nhịp như sau:
Chắt trong / vị ngọt mùi hương
Lặng thầm thay những / con đường ong bay.
Trải qua mưa nắng / vơi đầy
Men trời đất đủ làm say / đất trời.
Bầy ong / giữ hộ cho người
Những mùa hoa / đã tàn phai / tháng ngày
Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh đọc nhấn giọng và ngắt nhịp như sau:
Chắt trong vị ngọt / mùi hương
Lặng thầm thay / những con đường ong bay.
Trải qua mưa nắng vơi đầy
Men trời đất / đủ làm say đất trời.
Bỗy ong giữ hộ cho người
Những mùa hoa / đã tàn phai tháng ngày.
Trong bài "Cao bằng", cần hướng dẫn học sinh đọc chú ý ngắt giọng, nhấn giọng
tự nhiên giữa các dòng thơ.
Cao Bằng rõ thật cao!
Rồi dần / bằng bằng xuống
Đầu tiên là mận ngọt
Đón môi ta dịu dàng.
Rồi đến chị rất thương
Rồi đến em rất thảo
Ông lành / như hạt gạo
Bà hiền / như suối trong.
Do vậy, tôi muốn nói khi hướng dẫn học sinh ngắt nhịp thơ thì giáo viên cần phải
cho học sinh nhận biết bài thơ đó được viết ở thể thơ nào? Cách ngắt nhịp chung của toàn

hỏi phát âm đúng, đọc lưu loát, biết nghỉ đúng chỗ theo các dấu ngắt câu, biết lên, xuống
giọng. Đọc diễn cảm đòi hỏi người đọc phải nắm chắc nội dung từng đoạn từng bài, tâm
tình và lời nói của từng nhân vật để diễn tả cho đúng tinh thần của câu văn, bài văn, tức là
đi sâu vào bản chất của câu văn, bài văn. Cho nên, mục đích đọc diễn cảm là bộc lộ ra
được cái bản chất của nội dung và trên cơ sở đó muốn truyền đạt đúng những ý nghĩ và
tình cảm của tác giả. Muốn đọc diễn cảm tốt phải hiểu kỹ nội dung của bài tập đọc và phải
truyền đạt tốt sự hiểu biết của mình tới người nghe. Học sinh đọc diễn cảm chưa tốt là do
nguyên nhân: giáo viên chưa giúp học sinh cảm thụ tốt nội dung bài tập đọc và nguyên
nhân cũng không kém phần quan trọng là khả năng đọc mẫu của giáo viên còn hạn chế.
Muốn đọc diễn cảm tốt, ta cần:
- Bám sát yêu cầu của bài tập đọc :
Yêu cầu của bài tập đọc phải được xác định từ khi soạn bài ở nhà.
Ví dụ:
+ Đọc trôi chảy, lưu loát bài thơ, đúng nhịp của thể thơ tự do. Biết đọc diễn cảm bài thơ
thể hiện niềm xúc động của tác giả khi nghe tiếng đàn trong đêm trăng, ngắm sự kì vĩ của
công trình thuỷ điện sông Đà, mơ tưởng về một tương lai tốt đẹp khi công trình hoàn thành.
+ Hiểu ý nghĩa bài thơ: Ca ngợi vẻ kì vĩ của công trình, sức mạnh của những người
đang chinh phục dòng sông và sự gắn bó, hoà quyện giữa con người với thiên nhiên.
Giáo viên: Hồ Thị Quế Nhi - Trường Tiểu học Hồng Thái
11
Rèn đọc diễn cảm cho học sinh lớp 5 - Trường Tiểu học Hồng Thái
+ Giáo dục học sinh yêu thiên nhiên, trân trọng những người đã chinh phục được thiên nhiên.
Bám sát yêu cầu của bài tập đọc, trong 3 yêu cầu ấy phải được toát ra từ bản thân
bài tập đọc và giáo viên phải vận dụng vào thực tế lớp mình giảng dạy thì việc bám sát
yêu cầu của bài tập đọc mới thực sự hiệu quả.
- Giảng từ và khai thác nghệ thuật:
*Giảng từ: trong bài tập đọc thường có nhiều từ. Vậy ta cần phải giảng những từ nào?
Qua kinh nghiệm về giảng dạy phân môn Tập đọc tôi thấy có thể chia những từ để giảng
làm 3 loại: loại từ khó, loại từ gắn với chủ đề đang học và loại từ chìa khoá (từ trung tâm).
+ Từ khó có thể là từ địa phương được tác giả đưa vào bài, là loại từ Hán Việt, là

- Mãnh liệt, day dứt ý nói thôi thúc, day dứt, dai dẳng và mạnh mẽ.
Khi giảng về từ truyền thống tôi dùng phương pháp định nghĩa.
Giáo viên: Hồ Thị Quế Nhi - Trường Tiểu học Hồng Thái
12
Rèn đọc diễn cảm cho học sinh lớp 5 - Trường Tiểu học Hồng Thái
Truyền thống là những phẩm chất tốt đẹp hoặc những điều tốt đẹp được giữ gìn,
phát triển và truyền từ đời này sang đời khác.
Ví dụ: Dân tộc ta có truyền thống yêu nước nồng nàn.
Phương pháp so sánh: Khi giảng về từ lạnh tê tái, tôi nêu lên một loạt các khái
niệm lạnh lẽo, lạnh buốt, lạnh giá để học sinh thấy được lạnh tê tái ở mức độ cao hơn.
Mặt khác, tôi cho học sinh tìm từ trái nghĩa với từ lạnh tê tái là nóng hầm hập để học
sinh càng hiểu rõ hơn về ý nghĩa của từ này.
*Khai thác nghệ thuật: Theo tôi bài tập đọc là một thể thống nhất giữa hai mặt nội
dung và nghệ thuật, do vậy, tôi nghĩ chúng ta phải thông qua việc khai thác nghệ thuật để
làm toát lên nội dung tư tưởng. Tôi thấy trong khi dạy tập đọc vốn kiến thức văn học mà
học sinh tích luỹ được chưa nhiều.
Có đồng chí hỏi: “Khai thác nghệ thuật của một bài tập đọc là khai thác những gì?”
Theo tôi tuỳ từng bài mà chúng ta phải xem bài tập đọc ấy có những nét gì nổi bật
về nghệ thuật cần khai thác.
Ví dụ: Trong bài Đất nước, cần giúp học sinh hiểu tác giả đã sử dụng biện pháp
nhân hoá (Trời thu thay áo mới - Trong biếc nói cười thiết tha), lặp từ ngữ (đây,của
chúng ta), liệt kê các hình ảnh (Những cánh đồng thơm mát- Những ngả đường bát ngát-
Những dòng sông đỏ nặng phù sa) nhằm tả vẻ đẹp của mùa thu thắng lợi, đồng thời thể
hiện niềm tự hào về đất nước tự do.
Hoặc trong bài Mùa thảo quả tôi tập trung khai thác điệp từ thơm và việc sử dụng một
loạt câu văn ngắn xen lẫn với câu văn dài để làm nổi bật mùi thơm đặc biệt của thảo quả.
Ví dụ: Gió tây lướt thướt bay, qua rừng, quyến hương thảo quả đi, rải theo triền
núi, đưa hương thảo quả ngọt lựng, thơm nồng vào các thôn xóm Chin San. Gió thơm.
Cây cỏ thơm. Đất trời thơm. Người đi từ rừng thảo quả về, hương thơm đậm, ủ ấp trong
từng nếp áo nếp khăn.

“Hạt gạo làng ta………mẹ em xuống cấy”
Hỏi: Hạt gạo làng ta còn có gì đáng nhớ? (Có bão tháng 7, có mưa tháng 3gkhó
khăn do thiên nhiên gây ra).
Có giọt mồ hôi của mẹ rơi trong những ngày nắng nóngg công sức vất vả của
mẹg đây là câu hỏi về nội dung.
Tác giả dùng hình ảnh gì để diễn tả nỗi vất vả khó nhọc của người mẹ?gđây là câu
hỏi về nghệ thuật.
(Đó là: Cua ngoi lên bờ – mẹ em xuống cấy). Sự đối lập giữa hoạt động của con
cua với hoạt động của mẹ được rõ thêm qua cặp từ trái nghĩa lên – xuống để càng giúp ta
thấy rõ nỗi vất vả gian truân của mẹ cùng các bác xã viên khi làm ra hạt gạo.
Ví dụ: Cho học sinh đọc khổ thơ cuối, hỏi câu cuối “ Hạt vàng làng ta” ý nói gì?
Câu hỏi nặng về giảng ý để toát lên nội dung bài. (Hạt gạo rất quý vì được làm ra bởi
công sức của biết bao người với bao thử thách gay go quyết liệt. Hạt gạo xứng đáng được
ví như hạt vàng.)
Tóm lại trong quá trình giảng dạy những câu hỏi giảng ý thường gắn với những
câu hỏi giảng từ và câu hỏi khai thác hình ảnh thành một hệ thống câu hỏi dẫn dắt học
sinh thâm nhập vào nội dung của bài để cảm nhận được cái hay, cái đẹp của bài văn. Từ
đó học trò mới có cảm xúc thực sự và mới đọc hay bài tập đọc được.
*Liên hệ thực tế: Các bài tập đọc cung cấp cho học sinh những kiến thức phong
phú về cuộc sống muôn màu muôn vẻ của nhân dân ta. Những kiến thức đó muốn được
cụ thể, sinh động thì tuỳ từng bài mà giáo viên cần có sự liên hệ với thực tế cho phù hợp.
Ví dụ: Trong bài tập đọc “Hạt gạo làng ta”có thể học sinh liên hệ nêu ra những khó
khăn mà cha mẹ và các bác xã viên phải trải qua để làm ra hạt gạo (Khó khăn do thời tiết,
khó khăn do sâu bệnh gây ra, chứ không còn khó khăn do bom đạn kẻ thù nữa). Qua đó
mà ta giáo dục cho học sinh tình cảm trân trọng, nâng niu từng hạt lúa và cũng muốn
đóng góp công sức nhỏ bé của mình để làm ra hạt lúa.
Rõ ràng chỉ sau khi giáo viên đã giảng thật kĩ nội dung bài, học sinh hiểu được bài,
thâm nhập vào nội dung của bài thì lúc đó các em mới có thể truyền tải tới người nghe
những ý nghĩ, tình cảm của tác giả (Tức là lúc đó các em mới đọc diễn cảm được).
Phần hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm được tiến hành ngay sau khi tìm hiểu nội

cảm cho cả lớp, tôi đã có kế hoạch bồi dưỡng ngay từ đầu như: thường xuyên uốn nắn việc
phát âm tiếng có vần khó, hướng dẫn đọc dứt khoát từng từ, từng ngữ. Với những câu văn
dài tôi cho học sinh này dùng bút chì vạch sẵn những chỗ ngắt nhịp vào sách giáo khoa,
giúp các em ngắt nhịp đúng chỗ, cứ như vậy uốn nắn dần để các em đọc tốt dần lên. Đặc
biệt trong giờ Tập đọc, tôi luôn tạo cho lớp học một không khí thoải mái để các em phấn
khởi học tập. Trong việc rèn kỹ năng đọc diễn cảm cho học sinh tôi không sử dụng sự gò
ép, áp đặt, mà thường xuyên sử dụng phương pháp gợi mở để phát huy tính chủ động, tích
cực và sự sáng tạo ở mỗi học sinh, từ đó các em có điều kiện để thể hiện mình.
4. Kết quả đạt được
- Qua quá trình giảng dạy, tôi đã áp dụng những kinh nghiệm trên cho học sinh lớp
tôi đang dạy. Tôi đã tiến hành khảo sát lớp tôi đang dạy và lớp 5/2 trong từng giai đoạn
và có kết quả như sau:
+ Lớp 5/1 (Lớp do tôi chủ nhiệm)
Giai đoạn Sĩ số Học sinh đọc nhỏ, chậm Học sinh đọc to, lưu loát Học sinh đọc diễn cảm
Đầu năm 16 9học sinh = 56,25% 5học sinh = 31,25% 2 học sinh = 12,5%
Cuối kỳ I 16 7học sinh = 43,75% 5học sinh = 31,25% 4 học sinh = 25%
Tuần 24 16 4 học sinh = 25% 5học sinh = 31,25% 7 học sinh = 43,75%
Giáo viên: Hồ Thị Quế Nhi - Trường Tiểu học Hồng Thái
15
Rèn đọc diễn cảm cho học sinh lớp 5 - Trường Tiểu học Hồng Thái
+ Lớp 5/2
Giai đoạn Sĩ số Học sinh đọc nhỏ, chậm Học sinh đọc to, lưu loát Học sinh đọc diễn cảm
Đầu năm 15 8học sinh= 53,33% 5học sinh = 33,33% 2 học sinh = 13,33%
Cuối kỳ I 15 6 học sinh = 40% 6 học sinh = 40 % 3 học sinh = 20 %
Tuần 24 15 4học sinh= 26,67 % 6 học sinh = 40 % 5 học sinh = 33,33 %
5. So sánh đối chứng
Qua kết quả tổng hợp tôi đã nêu trên, tôi rất phấn khởi vì thấy trong giờ Tập đọc,
học sinh không những đã say mê học tập, lớp học rất sôi nổi mà kĩ năng đọc diễn cảm
của học sinh đã được nâng lên rõ rệt. Nó không chỉ nâng lên theo từng giai đoạn khảo sát
mà nó còn có sự tiến bộ hơn giữa lớp áp dụng kinh nghiệm này vào rèn đọc diễn cảm cho

Giáo viên: Hồ Thị Quế Nhi - Trường Tiểu học Hồng Thái
16
Rèn đọc diễn cảm cho học sinh lớp 5 - Trường Tiểu học Hồng Thái
6.2. Bên cạnh đó, muốn rèn đọc cho học sinh có hiệu quả thì người giáo viên phải
nắm chắc phương pháp dạy đọc bao gồm:
a. Phương pháp đọc rõ văn xuôi: Hướng dẫn học sinh đọc chính xác (phát âm
đúng, đọc đúng những tiếng có vần khó, những tiếng có dấu thanh học sinh hay nhầm
lẫn, hướng dẫn học sinh biết đọc ngắt theo cụm từ, đọc đúng các kiểu câu).
b. Phương pháp dạy đọc rõ văn vần (đã là cách ngắt nhịp các thể thơ).
c. Phương pháp dạy đọc to và đọc thầm: Cần phải lưu ý có đọc to đúng thì đọc
thầm mới đúng được. Do đó, khâu hướng dẫn đọc đúng phải được tiến hành trước và phải
làm thật tốt. Trong giờ tập đọc, một em được chỉ định đọc to thì đồng thời giáo viên cũng
yêu cầu các em khác luyện đọc thầm theo bạn. Như vậy trong một giờ tập đọc có khoảng
12 em đọc thì cả lớp cũng được luyện đọc thầm 12 lần.
d. Phương pháp dạy đọc diễn cảm: Cơ sở để giúp học sinh luyện đọc tốt là phải
hiểu và cảm thụ được nội dung của bài. Đồng thời phải tạo cho các em một tâm trạng
bình tỉnh, tự nhiên và thoải mái khi đọc. Các em không thể đọc diễn cảm được nếu như
trong một trạng thái sợ sệt, hồi hộp, lo lắng. Vận dụng tốt những phương pháp đã dạy đọc
như đã nêu ở trên là nhằm mục đích đạt được 4 yêu cầu về đọc đó là: đọc chính xác, đọc
lưu loát, đọc thầm, đọc diễn cảm.
Bốn yêu cầu đó phải được thâm nhập vào nhau, hỗ trợ nhau mà không nên tách rời
thì mới có thể nâng cao hiệu quả của giờ tập đọc.
6.3. Trong một giờ tập đọc, giáo viên cần khéo léo tổ chức để thu hút tất cả học
sinh đều làm việc với sách giáo khoa, chú ý vào nội dung bài tập đọc. Muốn làm được
điều đó, tôi nghĩ chúng ta cần:
a. Phải xây dựng cho lớp một nề nếp học tập nghiêm túc, có tính kỉ luật cao.
b. Giáo viên phải luyện cho mình khả năng đọc mẫu thật tốt để cuốn hút học sinh
chú ý vào nội dung bài.
c. Trong một giờ tập đọc, giáo viên cần phải coi trọng cả hai yêu cầu đó là rèn đọc
cho học sinh và giúp các em cảm thụ tốt nội dung bài tập đọc. Hai yêu cầu này cần phải

thân tôi thấy cần phải học hỏi, rèn luyện nhiều.
b. Những vấn đề kiến nghị
Để có kết quả rèn đọc diễn cảm cho học sinh cao hơn, tôi mạn phép đề xuất một
vài ý kiến với các cấp chỉ đạo như sau:
- Thường xuyên dự giờ của giáo viên để nắm vững phương pháp giảng dạy, từ đó
khắc phục kịp thời những tồn tại để thống nhất phương pháp giảng dạy đặc biệt là việc
rèn đọc diễn cảm.
- Thường xuyên bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên ở các môn học
nhất là phân môn Tập đọc.
- Tổ chức thường xuyên hội thi đọc hay với giáo viên và học sinh để tăng cường ý
thức luyện đọc hay ở từng giáo viên và học sinh.
C: KẾT LUẬN
Tập đọc là một môn học không khó nhưng cũng không dễ dạy. Cái khó đó do chủ
quan người dạy và cũng do khách quan của bộ môn tạo nên. Phía chủ quan người dạy
phải có kiến thức rộng về ngữ văn, phải có trình độ nhất định về tư tưởng, tình cảm và
phải nắm chắc phương pháp bộ môn. Phía khách quan, Tập đọc là một phân môn khó dạy
vì tính chất phong phú của nó. Nếu chỉ chú ý tính khoa học của bài như phân tích ngữ
âm, câu, từ thì bài dạy sẽ khô khan. Nếu khai thác tính nghệ thuật mà không dựa trên cơ
sở ngôn ngữ thì cũng dễ tràn lan. Do vậy, muốn dạy tốt phân môn tập đọc chúng ta cần
phải không ngừng học tập để nâng cao trình độ nhận thức của bản thân, nắm vững
phương pháp giảng dạy bộ môn, kiên trì luyện cho mình kỹ năng đọc tốt cùng với tâm
huyết của mình dành cho nghề tôi nghĩ chúng ta sẽ có những giờ dạy thành công.
Thông qua thực tế trong giảng dạy, tôi đi đến kết luận: Muốn rèn đọc diễn cảm cho
học sinh tốt thì điều kiện quan trọng nhất là người thầy. Bởi thầy là người hướng dẫn các em
cách đọc đúng đọc hay. Vì vậy thầy phải hướng dẫn thật cụ thể chu đáo từng chữ, từng
ngữ với từng đối tượng học sinh. Đặc biệt là đọc mẫu bởi thầy có vai trò quan trọng trong
việc đọc diễn cảm của trò. Muốn đạt được điều đó đòi hỏi thầy phải là người có tâm thực sự
Giáo viên: Hồ Thị Quế Nhi - Trường Tiểu học Hồng Thái
18
Rèn đọc diễn cảm cho học sinh lớp 5 - Trường Tiểu học Hồng Thái

Giáo viên: Hồ Thị Quế Nhi - Trường Tiểu học Hồng Thái
19
Rèn đọc diễn cảm cho học sinh lớp 5 - Trường Tiểu học Hồng Thái
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nội dung và chương trình tiếng Việt 5.
2 Sách giáo khoa tiếng Việt 5 - Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
3 Tài liệu phổ biến SKKN.
4 Thế giới quanh ta.
5 Bồi dưỡng tiếng Việt lớp 5 - Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
6 Để học tốt tiếng Việt 5 - Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
7 Những bài văn hay lớp 5 - Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam

Giáo viên: Hồ Thị Quế Nhi - Trường Tiểu học Hồng Thái
20
Rèn đọc diễn cảm cho học sinh lớp 5 - Trường Tiểu học Hồng Thái
MỤC LỤC
Nội dung Trang
A. Phần mở đầu 1
I. Lí do chọn đề tài 1
II. Đối tượng nghiên cứu 2
III. Phạm vi nghiên cứu 2
VI. Phương pháp nghiên cứu 2
B. Nội dung 2
I. Cơ sở lí luận 2
II. Cơ sở thực tiễn 3
C Kết luận 18
* Tài liệu tham khảo 20
Giáo viên: Hồ Thị Quế Nhi - Trường Tiểu học Hồng Thái
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status