SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“MỘT SỐ KINH NGHIỆM RÈN ĐỌC DIỄN CẢM CHO HỌC SINH
LỚP 5”
Phần thứ nhất: Đặt vấn đề
Tập đọc là phân môn có vị trí quan trọng hàng đầu trong chương trình Tiếng Việt ở
tiểu học. Dạy tốt phân môn này không những rèn luyện cho học sinh kỹ năng đọc mà còn
phát triển cho các em vốn từ ngữ phong phú, tạo điều kiện để các em học tốt các phân
môn khác. Rèn luyện kỹ năng đọc cho học sinh như: đọc đúng, đọc nhanh, đọc chính xác,
rõ ràng, rành mạch, diễn cảm để học sinh có những hiểu biết về kiến thức văn học, về
ngôn ngữ và ngược lại khi hiểu được những văn bản đọc sẽ giúp học sinh hiểu được đọc
diễn cảm. Vì vậy giữa việc đọc đúng, đọc hiểu và đọc diễn cảm là hai quá trình có liên
quan gắn bó mật thiết với nhau. Qua việc đọc, học sinh chiếm lĩnh được văn hoá của dân
tộc, tiếp thu được nền văn minh của loài người thông qua sách vở. Qua việc đọc, học sinh
biết đánh giá cuộc sống xã hội, tư duy. Cũng qua hoạt động đọc, tình cảm, thẩm mỹ của
các em được nâng lên cao, tầm hiểu biết của các em nhìn ra thế giới xung quanh và quá
trình nhận thức cũng có chiều sâu hơn.
Tập đọc là phân môn mang tính chất tổng hợp vì ngoài nhiệm vụ dạy đọc cho học
sinh, nó còn có nhiệm vụ trau dồi kiến thức về Tiếng Việt cho học sinh( phát âm, từ ngữ,
câu văn, đoạn văn ), kiến thức bước đầu về văn học( văn xuôi, văn vần, nhân vật ),
kiến thức về đời sống, về giáo dục tình cảm, thể chất, thẩm mĩ. Sự phát triển nhiều mặt
này tạo điều kiện để trẻ phát huy được mọi khả năng tiềm tàng, từ đó tạo cơ hội để sau
này trẻ giúp ích cho xã hội. Phân môn Tập đọc ở Tiểu học nói chung và ở lớp 5 nói riêng
đặt ra một nhiệm vụ quan trọng: đọc rành mạch, lưu loát bài văn( khoảng 120 tiếng/
phút), đọc có biểu cảm bài văn, bài thơ ngắn, hiểu nội dung, ý nghĩa bài đọc. Thông qua
các bài văn, bài thơ, học sinh càng thêm yêu các miền quê của đất nước, đồng cảm với
mọi tầng lớp nhân dân, mọi con người trên đất nước Việt Nam cũng như trên thế giới,
biết quý trọng, giữ gìn những truyền thống quý báu của dân tộc ta.
Phân môn Tập đọc có tác dụng mạnh mẽ trong giáo dục thẩm mĩ, giúp học sinh
thêm yêu cái đẹp, rung cảm trước cái đẹp trong thiên nhiên, cái đẹp trong văn chương.
Môn học này góp phần rèn luyện cho học sinh tư duy trừu tượng, tư duy lôgic. Giờ tập
- Biết cách suy nghĩ tìm ra điều mà tác giả muốn nói với người đọc: 3%.
- Biết biểu hiện điều mình hiểu qua giọng đọc: 6%.
Kết quả trên đây cho thấy cách dạy Tập đọc và tài liệu dạy Tập đọc lớp 5 chưa làm
tốt việc tạo ra năng lực tự đọc ở học sinh vì chưa chú trọng việc dạy học sinh cách đọc
văn bản và ứng xử với những điều đọc được.
Ngày nay, đất nước ta đang từng ngày, từng giờ đổi mới, xã hội ngày càng phát
triển, vì vậy mỗi con người đòi hỏi tri thức ngày càng cao, trong đó phát triển ngôn ngữ
nhằm đáp ứng nhu cầu giao tiếp và tư duy trở nên vô cùng thiết yếu. Mỗi thành công
không phải tự nhiên mà có, nó phải trải qua một quá trình rèn luyện kiên trì, bền bỉ. Hầu
hết mỗi giáo viên đều không ngừng tìm tòi đổi mới phương pháp để nâng cao hiệu quả
giờ dạy Tập đọc. Xuất phát từ những vấn đề trong thực tiễn và nhu cầu của bản thân trau
dồi kiến thức chuyên môn, nâng cao năng lực của mình, mong phần nào góp phần nâng
cao chất lượng đọc cho học sinh, tôi mạnh dạn đề xuất một phần kinh nghiệm nhỏ về vấn
đề “Một số kinh nghiệm rèn đọc diễn cảm cho học sinh lớp 5”.
Phần thứ hai: Giải quyết vấn đề
I. Điều tra thực trạng.
Qua thực tế giảng dạy ở lớp 5, tôi thấy việc dạy của giáo viên và việc học của học
sinh có một số vấn đề như sau:
Về phía giáo viên: Đối với đa số giáo viên, Tập đọc không phải là phân môn khó
dạy. Hầu hết trong số họ đều có nhiều cố gắng trong việc tìm tòi phương pháp, nghiên
cứu nội dung, học hỏi kinh nghiệm, đặc biệt có đổi mới phương pháp giảng dạy“ lấy học
sinh làm trung tâm” song kết quả cho thấy học sinh chưa đọc được hay( đọc diễn cảm)
bài đọc. Bởi trong khi dạy, giáo viên thường mới chỉ coi trọng và sửa cho học sinh vấn đề
đọc to, rõ ràng, lưu loát chứ chưa quan tâm nhiều đến kỹ thuật đọc, giọng đọc, cách đọc
diễn cảm của học sinh hay việc đọc mẫu của giáo viên. Giáo viên dạy Tập đọc như dạy
Văn trước đây. Nhìn chung phương pháp còn mang tính chất hưởng thụ và áp đặt( về
cách hiểu nội dung bài, cách đọc bài). Giáo viên giảng giải quá nhiều về các từ khó, về ý
nghĩa của bài mà xem nhẹ phần luyện đọc, đặc biệt là luyện đọc diễn cảm. Bên cạnh đó,
do khách quan, một số giáo viên không có chất giọng tốt để đọc hay bài đọc. Giáo viên
tiểu học lại dạy quá nhiều môn trong một buổi học nên việc đầu tư thời gian để luyện đọc
số
Học sinh đọc nhỏ,
chậm
Học s
nh đọc to, lưu loát
Học sinh đọc diễn
cảm
25 10 HS = 40% 9 HS = 36% 6 HS = 24 %
II. Phương pháp nghiên cứu:
Trước hiện trạng trên, tôi đã suy nghĩ: Phải làm thế nào để nâng cao chất lượng đọc
cho học sinh tốt hơn nữa, nhất là đọc diễn cảm. Để thực hiện được điều đó, tôi đã nghiên
cứu và tiến hành phối hợp sử dụng nhiều phương pháp: phương pháp điều tra, phương
pháp so sánh đối chứng, phương pháp quan sát, phương pháp kiểm tra đánh giá, phương
pháp tổng hợp,
Ở phương pháp điều tra, không chỉ dừng lại ở điều tra thực trạng mà phải điều tra
qua từng giai đoạn trong suốt năm học, trao đổi với giáo viên và học sinh ở tiểu học, tìm
hiểu thực tế việc dạy và học phân môn Tập đọc trong trường Tiểu học.
Ở phương pháp so sánh đối chứng không những so sánh đối chứng trong cùng một
giai đoạn giữa lớp này với lớp kia, giữa các giai đoạn với nhau trong cùng một lớp mà
còn đối chứng cả với những năm học trước.
Phương pháp quan sát tinh thần, thái độ, ý thức trong học Tập đọc của học sinh lớp
mình, học sinh lớp khác trong khi đi dự giờ mà còn quan sát phương pháp sư phạm của
giáo viên giảng dạy để tìm hiểu những tác nhân trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng đọc
diễn cảm của học sinh.
Phương pháp kiểm tra đánh giá được tiến hành đồng thời với phương pháp kiểm tra
toán học và phương pháp tổng hợp số liệu. Khi kiểm tra đánh giá chất lượng đọc của từng
học sinh, tôi mô tả và thống kê chất lượng ấy bằng những số liệu cụ thể, sau đó tổng hợp
các số liệu đã thu được nhằm rút ra kinh nghiệm giảng dạy cho bản thân.
III. Công việc thực làm
1. Tìm hiểu về mục tiêu, cấu trúc, phương pháp dạy phân môn Tập đọc 5.
nhân cách của con người mới.
1.4. Nội dung, cấu trúc phân môn Tập đọc lớp 5.
Phân môn Tập đọc ở lớp 5 gồm 66 tiết/ năm, mỗi tuần có hai tiết. 40 bài văn xuôi
thuộc loại hình nghệ thuật, báo chí, khoa học, 2 vở kịch( trích), 18 bài thơ.
Các bài Tập đọc gồm các chủ đề: " Việt Nam- Tổ quốc em ", " Cách chim hoà bình", "
Con người với thiên nhiên", "Con người với thiên nhiên","Giỡ lấy màu xanh","Vì hạnh
phúc con người","Người công dân","Vì cuộc sống thanh bình","Nhớ nguồn","Nam và
nữ","Những chủ nhân tương lai". Bài Tập đọc lớp 5 nhằm mục đích:
- Tiếp tục củng cố và nâng cao kĩ năng đọc cho HS: đọc trơn, đọc thầm với tốc độ
nhanh hơn, nâng cao kĩ năng đọc diễn cảm. ở lớp 5, HS được rèn kĩ năng đọc hiểu ở mức:
Nhận biết được đề tài hoặc chủ đề đơn giản của bài; nắm được dàn ý của bài, biết tóm tắt
đoạn, bài; hiểu được ý nghĩa của bài; biết phát hiện và bước đầu biết nhận định về giá trị
của một số nhân vật, hình ảnh trong các bài đọc có giá trị văn chương; làm quen thao tác
đọc lướt để nắm ý hoặc chọn ý. Xây dựng cho HS thói quen tìm đọc sách ở thư viện,
dùng sách công cụ( từ điển, ) và ghi chép những thông tin cần thiết khi đọc.
- Mở rộng vốn hiểu biết, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, nhân cách cho HS: Các bài
đọc phản ánh vấn đề cơ bản về đạo đức, phẩm chất của con người, đề cập đến các đề tài
về trẻ em và quyền của trẻ em, bảo vệ môi trường, giáo dục dân số, giới tính, ca ngợi tình
đoàn kết hữu nghị giữa các dân tộc, Hệ thống chủ điểm của các bài đọc trong sách TV5
vừa mang tính khái quát cao vừa có tính hình tượng góp phần cung cấp cho HS những
hiểu biết về thiên nhiên, xã hội,con ngươì trong nước và thế giới. Qua các bài tập đọc, HS
còn được cung cấp về vốn từ ngữ, vốn diễn đạt, những hiểu biết về tác phẩm văn học( đề
tài, cốt truyện, nhân vật, ), từ đó nâng cao trình độ văn hoá nói chung và trình độ tiếng
Việt nói riêng.
Các bài đọc gồm các phần: văn bản đọc, chú giải những từ ngữ khó, hướng dẫn
đọc( chỉ dẫn cách đọc một số câu khó, đoạn khó, cách ngắt nhịp, nhấn giọng hoặc gợi ra
những đặc điểm về nội dung, những sắc thái tình cảm được biểu hiện qua giọng đọc).
Phần tìm hiểu bài gồm những câu hỏi, bài tập giúp học sinh hiểu giá trị nội dung và giá
trị nghệ thuật của bài văn, bài thơ. ở nhiều bài có thêm yêu cầu học thuộc lòng từng đoạn,
cả bài.
độ hiểu bài của học sinh. Qua hệ thống từ ngữ, kiểu câu, bố cục, thể loại văn bản các
em cảm thụ sâu sắc văn bản( bài văn, bài thơ) từ đó giúp các em đọc đúng, đọc hay, đọc
diễn cảm văn bản nghệ thuật, đọc đúng ngữ điệu các văn bản có mục đích thông báo
khác. Đọc diễn cảm( đọc hay) là biết thể hiện kĩ thuật đọc phù hợp với từng bài như: ngắt
nhịp đúng câu văn, câu thơ, thể hiện được nội dung bài đọc bằng sắc thái giọng đọc vui,
buồn, trầm, bổng, gợi cảm, nhẹ nhàng, thiết tha hay mạnh mẽ, dứt khoát, tốc độ chậm rãi,
khoan thai hay dồn dập Ngoài ra, cần biết thể hiện đúng các kiểu câu như: câu hỏi, câu
kể, câu cảm Biết phân biệt giọng đọc của các nhân vật, của người dẫn chuyện trong bài.
Học sinh bước đầu làm chủ được giọng đọc sao cho vừa đúng về ngữ điệu, về tốc độ, cao
độ, trường độ và âm sắc; vừa thể hiện cảm nhận riêng của từng cá nhân nhằm diễn tả
đúng nội dung đọc.
Để đạt những yêu cầu trên tôi đã tiến hành phương pháp rèn đọc cho học sinh như sau:
Phương pháp tiến hành:
Sau khi được phân công chuyên môn, việc làm đầu tiên là tôi cho lớp ổn định mọi
nề nếp tổ chức. Sau đó đi sâu, đi sát để nắm được từng đối tượng học sinh về lực học, về
hoàn cảnh gia đình, đặc biệt là về khả năng đọc, kĩ năng đọc và phân loại học sinh theo 3
đối tượmg:
*Đối tượng 1: Học sinh đọc chậm nhỏ.
*Đối tượng 2: Học sinh biết đọc to, lưu loát.
*Đối tượng 3: Học sinh biết đọc diễn cảm.
Căn cứ vào đó, tôi đã tiến hành sắp xếp chỗ ngồi cho học sinh, những em đọc yếu
ngồi cạnh những em đọc khá, đọc tốt. Trong cùng một bàn có đủ các đối tượng học sinh
để các em có điều kiện giúp đỡ nhau, rèn luyện bổ sung cho nhau qua quá trình luyện đọc
theo cặp đôi và theo nhóm bàn để các em cùng tiến bộ.
Công việc tiếp theo, tôi giới thiệu với học sinh về cấu trúc chương trình phân môn
để các em nắm được các chủ điểm chính trong từng học kỳ và trong cả năm học. Đặc biệt
tôi đã nêu tầm quan trọng, yêu cầu kỹ năng cơ bản về việc rèn kĩ năng đọc diễn cảm.
Hướng dẫn học sinh lưu lại những câu, đoạn văn, đoạn thơ, bài văn, bài thơ hay trong sổ
tay của mình, giao trách nhiệm cho một số em đọc khá, đọc tốt thường xuyên kèm cặp
giúp đỡ những em đọc yếu ở mọi bài học, mọi môn học chứ không chỉ dừng lại ở phần
+ Tôi viết câu văn đó ra bảng phụ( đã chuẩn bị từ trước).
+ Vì giai đoạn đầu lớp còn đọc yếu, do vậy tôi đọc mẫu theo cách nghỉ như trên sao cho
thật chuẩn. Sau đó tôi cho học sinh phát hiện những chỗ ngắt nghỉ của cô, nếu đúng tôi sẽ
dùng phấn màu gạch chéo sau những từ cần ngắt. Nếu học sinh chưa phát hiện ra tôi có
thể đọc mẫu lần thứ 2 những câu đó để học sinh có thể nhận ra. Đồng thời tôi luôn củng
cố kỹ năng đọc khi gặp dấu chấm( phải nghỉ hơi), gặp dấu phẩy phải ngắt hơi. Khi đã
nhận ra cách ngắt nghỉ sau cụm từ, sau dấu phẩy, sau dấu chấm tôi gọi một số học sinh
khá đọc, sau đó mới gọi những em hay đọc ê a ngắc ngứ lên đọc. Có thể là một lần, cũng
có thể là hai lần và phải tiến hành trong một thời gian. Tôi nghĩ hiện tượng đọc ê a ngắc
ngứ ở các em sẽ không còn xảy ra nữa.
Nhưng lưu ý khi còn những em đọc ê a ngắc ngứ thì phải sửa một cách triệt để, có thể
phải hướng dẫn từng cụm từ; giáo viên hoặc học sinh khá đọc mẫu cụm từ thứ nhất sau
đó cho học sinh đọc yếu đọc lại cụm từ đó rồi mới chuyển sang cụm từ khác và cũng theo
trình tự đúng như vậy, cuối cùng cho học sinh đọc lại cả đoạn văn đó.
+ Vậy khi học sinh đọc những câu văn dài, học sinh đã biết ngắt hơi sau cụm nhưng
ngắt hơi trong thời gian bao lâu thì cũng là điều cần phải hướng dẫn các em. Thông
thường, tôi hướng dẫn các em ngắt hơi sau cụm từ bằng thời gian ngắt nghỉ khi gặp dấu
phẩy hoặc dấu chấm phẩy và đương nhiên thời gian đó phải ít hơn thời gian nghỉ khi đọc
gặp dấu chấm. Tránh tình trạng học sinh ngắt nghỉ quá lâu làm cho người nghe cảm thấy
rời rạc.
Số học sinh mắc lỗi đọc ê a, ngắc ngứ hoặc đọc liến thoắng không nhiều nên chỉ
sau 3 tuần kiên trì rèn đọc cho các em( gọi cho các em đọc nhiều hơn, sửa cho các em kỹ
hơn) thì loại lỗi này không còn trong lớp tôi nữa, các em đọc đã khá trôi chảy, lưu loát.
3.2. Khắc phục tình trạng đọc sai những tiếng, từ có phụ âm đầu hay nhầm lẫn l -
n; s – x ; ch – tr; d – r- gi…; âm hay nhầm lẫn: thanh ngã/ thanh sắc.
Những tiếng, những từ này thường là những từ khó đối với học sinh. Cho nên,
trong bước rèn đọc đúng cho học sinh, tôi cho các em đọc thầm toàn bài để tự phát hiện
ra những tiếng, từ mà học sinh cảm thấy khó có trong bài. Trong thực tế, nhiều khi giáo
viên quá phụ thuộc vào sách hướng dẫn mà ép học sinh phải chỉ ra những từ khó giống
như trong sách nêu ra là không nên bởi những từ đó với học sinh có thể chưa phải là khó.
âm đầu: l); giáo viên ghi âm l trước dòng 1 bằng phấn màu.
Với dòng 2 tôi cũng hỏi như vậy và ghi âm n trước dòng 2.
Đối với những âm này, với học sinh của tôi, tôi phải hướng dẫn học sinh cách phát
âm thật cụ thể, chi tiết.
+ Tôi hướng dẫn các em cách phát âm phụ âm l nh sau:
Phụ âm l là phụ âm tắc, khi phát âm phụ âm này, đầu lưỡi cong lên tiếp giáp với
vòm lợi trên, luồng hơi bị cản lại nên phải len qua hai cạnh lưỡi để thoát ra ngoài, do vậy
luồng hơi bật ra mạnh.
Giáo viên làm mẫu hai lần, sau đó cho học sinh khá phát âm, gọi học sinh hay
nhầm lẫn về phụ âm này tập phát âm. Lưu ý nên cho các em phát âm cá nhân để dễ phát
hiện những em phát âm sai để sửa; Tiếp theo cho học sinh đọc tiếng khó có chứa phụ âm
n.
Phụ âm n là phụ âm xát, khi phát âm phụ âm này mặt lưỡi tiếp giáp với vòm lợi
trên, luồng hơi không bị lưỡi cản lại nên thoát ra nhẹ nhàng hơn. Cách tiến hành cũng
như hướng dẫn phát âm phụ âm l.
Để học sinh có được thói quen phát âm đúng, tôi yêu cầu học sinh phát âm và đọc
theo kiểu đối nhau: đó là l/ n ; loãng/ mảng nắng; lần lượt/ mảng nắng, . Đưa ra cách
rèn như vậy là tôi muốn cho học sinh có phản ứng nhanh nhậy để tìm ngay ra được cách
đọc đúng những từ có chứa các cặp phụ âm hay nhầm lẫn.
Nếu chỉ rèn như vậy thì cũng chưa đủ mà việc luyện đọc từ khó cần phải được đặt
trong văn cảnh, trong môi trường ngôn ngữ thì học sinh đọc những từ đó mới đúng hơn.
Bởi nhiều khi đọc riêng từ học sinh, có thể đọc đúng nhưng khi đặt từ đó vào trong câu
văn, đoạn văn thì chưa chắc học sinh đã đọc đúng. Chính vì thế, sau khi rèn phát âm
luyện đọc từ khó có chứa âm khó, tôi lại phải yêu cầu học sinh tìm những câu văn, câu
thơ thậm chí đoạn văn, đoạn thơ có chứa từ khó đó cho học sinh đọc vì mục đích của rèn
đọc đúng là rèn phát âm đúng để đọc đúng văn bản.
Một số đồng chí giáo viên có hỏi: Trong một giờ tập đọc nếu chỉ tập trung hướng
dẫn đọc những từ có chứa phụ âm l- n thì những tiếng khó khác rèn vào lúc nào?
Tôi cho rằng: Một cặp phụ âm hay nhầm lẫn l/ n và nó đã trở thành cố tật không chỉ
ở học sinh mà cả nhân dân đĩa phương. Nếu trong một tiết tập đọc có chủ định rèn cho
- Hỏi học sinh trong đoạn văn đó có những câu văn nào là câu hỏi, câu kể, câu cảm, câu
cầu khiến và cách đọc của từng loại câu này, giáo viên dùng phấn mầu ghi ký hiệu lên
giọng , xuống giọng ở cuối mỗi loại câu.
Bực mình vì ông cụ biết tiếng Đức nhưng không thèm chào bằng tiếng Đức, hắn liền
hỏi:
(câu kể)
- Lão thích nhà văn Đức hơn lời chào của người Đức chăng?
( câu hỏi).
- Sao ngài lại nói thế? Si- le là nhà văn quốc tế chứ!
( câu cảm)- Ông già điềm đạm
trả lời.
( câu kể )
Nhận thấy vẻ ngạc nhiên của tên sĩ quan, ông già nói tiếp:
( câu kể )
- Ngài thử xem Si- le đã dành những tác phẩm của mình cho ai nào?
( câu hỏi) Nhà
văn đã viết Vin- hem Ten cho người Thuỵ Sĩ, Nàng dâu ở Mét- xi- na cho người I-ta- li-
a, Cô gái Oóc- lê- ăng cho người Pháp,
( câu kể )
Càng nghe nói, tên sĩ quan phát xít càng ngây mặt ra. Cuối cùng, hắn hỏi:
- Chẳng lẽ Si- le không viết gì cho chúng tôi hay sao?
( câu hỏi)
Lặng thầm thay / những con đường ong bay.
Trải qua mưa nắng vơi đầy
Men trời đất / đủ làm say đất trời.
Bỗy ong giữ hộ cho người
Những mùa hoa / đã tàn phai tháng ngày.
Trong bài "Cao bằng", cần hướng dẫn học sinh đọc chú ý ngắt giọng, nhấn giọng tự
nhiên giữa các dòng thơ.
Cao Bằng rõ thật cao!
Rồi dần / bằng bằng xuống
Đầu tiên là mận ngọt
Đón môi ta dịu dàng.
Rồi đến chị rất thương
Rồi đến em rất thảo
Ông lành / như hạt gạo
Bà hiền / như suối trong.
Do vậy, tôi muốn nói khi hướng dẫn học sinh ngắt nhịp thơ thì giáo viên cần phải
cho học sinh nhận biết bài thơ đó được viết ở thể thơ nào? Cách ngắt nhịp chung của toàn
bài ra sao? Song cũng cần phải phát hiện những câu, những đoạn có cách ngắt nhịp khác
biệt trong bài để hướng dẫn học sinh. Thực chất ngắt nhịp thơ cũng được dựa trên cơ sở
ngắt nhịp theo cụm từ. Do vậy, ngắt nhịp thơ không đúng câu thơ sẽ trở nên tối nghĩa,
mất hết ý vị còn đâu có thể cảm nhận được nội dung của bài.
Khi đọc văn bản văn xuôi cũng cần chú ý tới ngắt nhịp. Đọc bài Mùa thảo
quả( TV5, tập 1), chú ý nghỉ hơi ngắn ở những câu ngắn( Gió thơm. Cây cỏ thơm. Đất
trời thơm.) nhằm thể hiện nhịp thở của người đang hít vào để cảm nhận mùi thơm của
thảo quả lan trong không gian.
Không chỉ quan tâm đến việc ngắt nhịp trong khi đọc mà còn thể hiện nhịp độ đọc.
Đọc nhanh hay chậm, vừa phải là do nôị dung bài văn, bài thơ quyết định. Trong một bài
có thể đọc nhanh, chậm, vừa phải tuỳ thuộc theo nội dung từng đoạn như khi dạy bài:“ Kì
diệu rừng xanh”( TV5- tập 1). Cần hướng dẫn học sinh đọc giọng khoan thai, thể hiện
thái độ ngỡ ngàng, ngưỡng mộ cảnh vật ở đoạn 1; đọc nhanh hơn ở những câu miêu tả
bài thơ thể hiện niềm xúc động của tác giả khi nghe tiếng đàn trong đêm trăng, ngắm sự
kì vĩ của công trình thuỷ điện sông Đà, mơ tưởng về một tương lai tốt đẹp khi công trình
hoàn thành.
+ Hiểu ý nghĩa bài thơ: Ca ngợi vẻ kì vĩ của công trình, sức mạnh của những người đang
chinh phục dòng sông và sự gắn bó, hoà quyện giữa con người với thiên nhiên.
+ Gd học sinh yêu thiên nhiên, trân trọng những người đã chinh phục được thiên nhiên.
- Bám sát yêu cầu của bài tập đọc, trong 3 yêu cầu ấy phải được toát ra từ bản thân bài
tập đọc và giáo viên phải vận dụng vào thực tế lớp mình giảng dạy thì việc bám sát
yêu cầu của bài tập đọc mới thực sự hiệu quả.
b, Giảng từ và khai thác nghệ thuật.
- Giảng từ: trong bài tập đọc thường có nhiều từ. Vậy ta cần phải giảng những từ nào?
+ Qua kinh nghiệm về giảng dạy phân môn Tập đọc tôi thấy có thể chia những từ để
giảng làm 3 loại: loại từ khó, loại từ gắn với chủ đề đang học và loại từ chìa khoá (từ
trung tâm).
Từ khó có thể là từ địa phương được tác giả đưa vào bài, là loại từ Hán Việt, là danh
từ riêng. Loại từ này thường có trong phần chú giải cho nên sau khi đọc mẫu xong tôi cho
học sinh đọc phần chú giải để học sinh hiểu ngay được những từ này khi bắt đầu tiếp xúc
với bài tập đọc.
Từ chủ đề: Trong mỗi chủ đề tập đọc có một số từ ngữ mà giáo viên cần lưu ý bởi đó
là những từ làm toát lên chủ đề. Từ chủ đề cũng có khi là từ khó. Giáo viên có thể kết
hợp giảng các từ chủ đề với các từ khó hoặc với các từ trung tâm trong quá trình khai
thác.
Từ trung tâm: Đây là những từ có sức nặng, giáo viên cần khai thác để làm toát lên nội
dung bài học.
Ta chia những từ cần giảng làm 3 loại như vậy để dễ phân biệt còn trong thực tế nhiều
khi từ khó cũng là từ chủ đề hoặc từ trung tâm.
+ Vậy khi giảng từ ta có thể dùng những phương pháp nào?
Những phương pháp phổ biến là phương pháp trực quan, liên hệ, so sánh, phương
pháp định nghĩa, giảng giải.
Khi dùng phương pháp trực quan, tôi áp dụng bằng nhiều hình thức: Trực quan bằng