Mở rộng hoạt động tín dụng ngắn hạn tại NHNH &PTNT Việt Nam chi nhánh Láng Hạ - Pdf 31

Lời nói đầu
Vốn là điều kiện tiên quyết đối với bất kỳ doanh nghiệp nào trong việc
đảm bảo tiến trình sản xuất kinh doanh đợc liên tục, hiệu quả. Không chỉ có
nhu cầu vốn trung và dài hạn để đổi mới công nghệ, nhà xởng, máy móc, các
doanh nghiệp luôn có nhu cầu vay vốn ngắn hạn để bổ xung cho nhu cầu
thiếu hụt vốn tạm thời khi gặp khó khăn trong việc thanh toán với khách
hàng, trả lơng cho công nhân, mở rộng sản xuất trong mùa vụ Đặc biệt
trong điều kiện nền kinh tế nớc ta cha phát triển, các doanh nghiệp chủ yếu
có quy mô vừa và nhỏ - dễ gặp phải khó khăn về vốn ngắn hạn mà không có
khả năng giải quyết - do đó nhu cầu vay vốn ngắn hạn, đặc biệt là nguồn vay
từ ngân hàng là rất cao.
Chính vì sự quan trọng của tín dụng ngắn hạn đối với hoạt động sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nh vậy, đồng thời với chủ trơng của
Đảng và Nhà nớc ta hiện nay, nhằm giúp đỡ các doanh nghiệp có quy mô
nhỏ mở rộng sản xuất, kích thích tính năng động sáng tạo của chúng, các
NHTM đặc biệt là các ngân hàng trên địa bàn Hà Nội đã có những biện pháp
mở rộng hoạt động tín dụng ngắn hạn nhằm giúp các doanh nghiệp này.
Là một chi nhánh còn khá non trẻ nhng NHNo&PTNT Láng Hạ đã đạt
đợc khá nhiều thành tích đáng ghi nhận. Tuy nhiên vấn đề đặt ra cho Chi
nhánh trớc tình hình hiện nay là tỷ trọng cho vay ngắn hạn tại Chi nhánh rất
nhỏ và có xu hớng giảm. Trong khi đó, địa bàn Hà Nội là nơi đông dân c và
tập trung nhiều doanh nghiệp quy mô nhỏ với nhu cầu vốn ngắn hạn cao. Do
đó, bức xúc hiện nay của Chi nhánh là làm thế nào để mở rộng hoạt động tín
dụng ngắn hạn, từng bớc giúp các doanh nghiệp mở rộng sản xuất, từ đó góp
phần phát triển kinh tế, xã hội.
Nắm bắt đợc yêu cầu cấp thiết trên, sau thời gian thực tập tại phòng
Tín dụng NHNo&PTNT Chi nhánh Láng Hạ, em đã mạnh dạn đi sâu nghiên
1
cứu đề tài: Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng ngắn hạn tại
NHNo&PTNT Việt Nam Chi nhánh Láng Hạ.
Theo đó, luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận cấu gồm 3 phần chính:

vụ cũng ngày càng mở rộng đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Từ đó Ngân
hàng thơng mại đã trở thành một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế,
hoạt động của Ngân hàng thơng mại ảnh hởng mạnh mẽ đến sự phát triển của
nền kinh tế.
Trải qua thời gian tơng đối dài với những biến động của nền kinh tế,
rất nhiều khái niệm về Ngân hàng thơng mại đã đợc hình thành. Ta thấy rằng
Ngân hàng thơng mại đợc xem xét ở rất nhiều khía cạnh khác nh:
ở Việt Nam theo sắc lệnh 018CT/LDGCQL/SL ngày 20/10/1969 của
chính quyền Sài Gòn cũ cho rằng: Ngân hàng thơng mại là mọi xí nghiệp
công hay t lập, kể cả những chi nhánh hay phân cục ngân hàng ngoại quốc
3
mà hoạt động thờng xuyên là thi hành cho chính mình nghiệp vụ tín dụng,
chiết khấu, tài chính với tiền ký thác của t nhân hay chi nhánh hay chi nhánh
công quyền.
Hay một cách tiếp cận Ngân hàng thơng mại dựa trên những dịch vụ
mà ngân hàng mang lại nh Ngân hàng thơng mại là loại hình tổ chức tài
chính tiền tệ cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất đặc
biệt là nghiệp vụ tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều
chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh tế nào trong nền kinh
tế.
Theo pháp lệnh ngân hàng 23/5/1990 của Hội đồng Nhà nớc xác định:
Ngân hàng thơng mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu th-
ờng xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử
dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phơng tiện
thanh toán.
Nh vậy nhìn chung từ khái niệm ta có thể thấy rằng Ngân hàng thơng
mại có các đặc trng :
+ Là tổ chức đợc phép nhận ký thác của công chúng với trách nhiệm
hoàn trả.
+ Đợc phép nhận ký thác để cho vay, chiết khấu và thực hiện các

tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm.
Để thực hiện đợc hoạt động huy động vốn, ngân hàng cần có một lợng
vốn nhất định là vốn tự có. Lợng vốn này chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng vốn
sử dụng song nó rất quan trọng đối với hoạt động ngân hàng. Đây là cơ sở
thu hút tiền gửi của khách hàng, là nguồn để trang trải rủi ro khi gặp phải
trong kinh doanh và là chỉ tiêu để Ngân hàng Trung ơng quản lý Ngân hàng
thơng mại.
Hoạt động sử dụng vốn
Hoạt động sử dụng vốn ở đây bao gồm: hoạt động cho vay, hoạt động
ngân quỹ, hoạt động đầu t chứng khoán.
5
Hoạt động cho vay là hoạt động quan trọng nhất quyết định sự thành
bại của ngân hàng bởi đây là hoạt động sinh lời chủ yếu của các ngân hàng.
Chính vì vậy đây cũng là hoạt động chứa nhiều rủi ro nhất. Để tránh rủi ro tín
dụng xảy ra, việc quản lý tiền vay đợc tiến hành một cách rất chặt chẽ, đặc
biệt với món vay lớn, thời hạn cho vay dài. Từ đó ngân hàng phải phân chia
tín dụng ra nhiều hình thức khác nhau nhằm mục đích dễ quản lý.
Hoạt động ngân quỹ nhằm bảo đảm khả năng thanh toán thờng xuyên
của ngân hàng cho khách hàng. Đây là tài sản không sinh lời hoặc sinh lời
thấp nhng tính lỏng cao và đợc coi nh tiền mặt. Do đó ngân hàng phải duy trì
tài sản này ở mức độ hợp lý sao cho vừa đảm bảo tính thanh khoản vừa đảm
bảo khả năng sinh lời.
Ngoài ra ngân hàng còn sử dụng vốn vào hoạt động đầu t chứng khoán
trên thị trờng để thu lợi nhuận và một phần đảm bảo khả năng thanh toán cho
ngân hàng.
Hoạt động trung gian
Hoạt động trung gian là việc ngân hàng cung cấp cho khách hàng một
loạt các dịch vụ liên quan nh chuyển tiền, thanh toán hộ khách hàng thông
qua các hình thức ghi chép trên tài khoản của khách hàng, phát hành séc, uỷ
nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, th tín dụng, môi giới mua bán chứng khoán, quản lý

các nội dung sau:
- Ngời cho vay sẽ chuyển giao cho ngời đi vay một lợng giá trị nhất
định. Lợng giá trị này có thể dới hình thái tiền tệ hay hiện vật nh hàng hoá,
máy móc, thiết bị, bất động sản.
- Ngời đi vay chỉ đợc sử dụng tạm thời trong một khoảng thời gian nhất
định sau khi hết hạn theo thoả thuận phải hoàn trả cho ngời cho vay.
- Giá trị đợc hoàn trả thông thờng lớn hơn giá trị lúc cho vay hay nói
cách khác ngời đi vay phải trả thêm phần lợi tức.
7
Nh vậy ở đây - tiền không đợc bỏ ra để thanh toán hay để bán mà là để
cho vay, tiền chỉ đợc nhợng đi với điều kiện là nó sẽ quay lại điểm xuất phát
sau một thời gian nhất định - đó là đặc trng thuộc về bản chất của ngành ngân
hàng. Ngoài ra sự hoàn trả không chỉ phải bảo tồn về mặt giá trị mà còn cần
có phần tăng thêm dới hình thái lợi tức. Lợi tức về tín dụng là thu nhập ngời
cho vay nhận đợc từ khoản cho vay, nó là giá cả của hàng hoá cho vay.
2.3. Phân loại tín dụng.
Tín dụng là một trong những nghiệp vụ cơ bản nhất và cũng mang lại lợi
nhuận chủ yếu cũng nh rủi ro cho các ngân hàng. Chính vì vậy, các nhà ngân
hàng luôn phải tìm ra các tiêu thức phân loại tín dụng để có thể dễ dàng quản
lý, kiểm tra từ đó phòng tránh rủi ro tín dụng. Dựa vào các tiêu thức khác
nhau ta có thể phân loại tín dụng nh sau:
Căn cứ vào thời gian của khoản vay:
Tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận về thời hạn cho vay theo
hai loại: tín dụng ngắn hạn và tín dụng trung, dài hạn.
Tín dụng ngắn hạn: Đây là hình thức tín dụng thờng có thời hạn dới một
năm và mục đích thờng để đáp ứng nhu cầu thiếu vốn tạm thời nh phục vụ
cho thanh toán tiền, hàng hoá, tài trợ vốn lu động hay thanh toán ngoại th-
ơng.
Tín dụng trung, dài hạn:
Tín dụng trung hạn: Đây là hình thức tín dụng có thời hạn từ một đến

cần thiết khác.
Căn cứ vào phơng thức cho vay:
Cho vay theo hạn mức tín dụng: theo hình thức này ngân hàng và khách
hàng thoả thuận và ký kết một hợp đồng hạn mức tín dụng duy trì theo thời
hạn nhất định hoặc theo chu kì sản xuất kinh doanh.
Cho vay từng lần: đây là hình thức tín dụng mà ngân hàng và khách hàng
thoả thuận và ký kết hợp đồng riêng với mỗi khoản vay khi khách hàng có
9
nhu cầu. Mỗi lần khách hàng có nhu cầu vay vốn thì việc ký kết hợp đồng sẽ
đợc thực hiện lại từ đầu.
Cho vay từng dự án đầu t: tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để
thực hiện các dự án đầu t, phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự
án đầu t phục vụ đời sống.
Cho vay hợp vốn: đối với những khoản vay lớn, một ngân hàng không đủ
khả năng hay không đợc phép cho vay đòi hỏi một nhóm các TCTD cùng cho
vay. Trong đó có một tổ chức tín dụng đứng ra làm đầu mối dàn xếp, phối
hợp các TCTD khác để cho vay.
Cho vay trả góp: khi vay vốn ngân hàng và khách hàng xác định và thoả
thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với nợ gốc đợc chia ra để trả nợ thành
nhiều kỳ trong hợp đồng vay.
Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: ngân hàng cam kết bảo đảm
cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định. Tuy
nhiên nhiều trờng hợp khách hàng cần một lợng vốn lớn hơn, do đó ngân
hàng và khách hàng thờng thoả thuận một hạn mức tín dụng dự phòng lớn
hơn. Đồng thời khách hàng và ngân hàng thờng phải quy định về thời hạn
hiệu lực và mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng.
Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: ngân
hàng chấp thuận cho khách hàng đựơc sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn
mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá và rút tiền mặt tại máy rút tiền
tự động hay điểm ứng tiền mặt là đại lý của ngân hàng.

cấu kinh tế. Nếu muốn khuyến khích ngành nghề hay thành phần kinh tế nào
phát triển, ngân hàng sẽ thực hiện u đãi tín dụng với ngành nghề hay khu vực
đó. Từ đó ngân hàng sẽ tạo điều kiện để các doanh nghiệp đó dễ dàng tiếp
cận đợc vốn vay ngân hàng, trở thành đòn bẩy để giúp ngành nghề đó phát
triển.
11
Để thực hiện đợc việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo mục đích đã định,
các nhà ngân hàng cần phải nghiên cứu và thực thi chính sách tín dụng phù
hợp để có thể tác động vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Điều này
đang là một vấn đề hết sức quan trọng ở nớc ta, trong tình trạng cơ cấu kinh
tế hiện nay còn nhiều bất hợp lý. Đặc biệt trong quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế,chuyển từ nền kinh tế tự cung tự cấp sang nền kinh tế nhiều thành
phần chúng ta cần phải có những biện pháp để thúc đẩy sự tăng trởng của các
ngành công nghiệp, dịch vụ, thơng mại, du lịch bởi ở n ớc ta tỷ trọng ngành
nông nghiệp chiếm quá lớn trong khi tỷ trọng các ngành khác còn quá thấp
so với các nớc trên thế giới. Để làm đợc điều này chính sách tín dụng đóng
một vai trò hết sức quan trọng, chú trọng vào công tác tín dụng nh vậy sẽ là
một biện pháp để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện
đại hoá đất nớc.
Kích thích tính năng động linh hoạt cuả các doanh nghiệp. Trong
thời đại ngày nay, khi thông tin và công nghệ thông tin thay đổi liên tục và
phát triển một cách rất nhanh chóng, các doanh nghiệp luôn luôn đứng trớc
yêu cầu cần phải thay đổi cho phù hợp nhu cầu của thời đại. Để thực hiện đợc
điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải thờng xuyên thay đổi máy móc, kỹ
thuật thay nâng cấp nhà xởng, đổi mới sản phẩm và ngân hàng chính là nơi
cung cấp vốn trung và dài hạn tốt nhất cho các doanh nghiệp. Qua đó, ngân
hàng sẽ mang đến cho doanh nghiệp cơ hội để đổi mới kích thích tính năng
động của doanh nghiệp. Không chỉ vậy, tín dụng ngân hàng còn thờng xuyên
bổ xung vốn lu động cho doanh nghiệp trong quá trình hoạt động giúp doanh
nghiệp nắm bắt đợc các cơ hội đầu t.

ợc phân theo thời gian của khoản vay. Đó là những khoản vay có thời hạn
ngắn- dới 1 năm do đó khoản vay này thờng đợc dùng để đáp ứng nhu cầu
thiếu vốn tạm thời nh phục vụ cho thanh toán hàng hoá, tài trợ, bổ xung vốn
lu động hay thanh toán ngoại thơng và phục vụ nhu cầu sinh hoạt.
13
3.2. Đặc điểm.
- Do nguồn vốn tín dụng ngắn hạn dùng để cung cấp vốn cho chi tiêu,
mua nguyên vật liệu, trả lơng, bổ xung vốn lu động nên số vốn vay thờng
nhỏ, nguồn vốn đợc quay vòng nhiều. Trong khi đó đối tợng sử dụng vốn từ
nguồn trung và dài hạn thờng là những tài sản cố định có thời gian sử dung
lâu dài vì vậy thời gian sử dụng vốn lâu, nguồn vốn không đợc quay vòng
nhiều.
- Thời hạn thu hồi vốn nhanh: do vốn tín dụng ngắn hạn thờng đợc sử
dụng để bù đắp những thiếu hụt trong ngắn hạn, để đảm bảo cân bằng ngân
quỹ, giúp doanh nghiệp đối phó với những chênh lệch thu chi trong ngắn
hạn... Thông thờng những thiếu hụt này chỉ mang tính tạm thời hay mang
tính mùa vụ, sau đó khoản thiếu hụt này sẽ đợc bù đắp hoặc sẽ sớm thu lại d-
ới hình thái tiền tệ vì vậy thời gian thu hồi vốn sẽ nhanh.
- Rủi ro do tín dụng ngắn hạn mang lại thông thờng không cao. Do
khoản vay chỉ cung cấp trong thời gian ngắn vì vậy ít chịu ảnh hởng của sự
biến động không thể lờng trớc của nền kinh tế nh các khoản tín dụng trung và
dài hạn. Ngoài ra, các khoản vay đợc cung cấp cho các đơn vị sản xuất kinh
doanh theo hình thức chiết khấu các giấy tờ có giá, dựa trên tài sản bảo đảm,
bảo lãnh... đồng thời khoản vay thờng đựơc tiến hành khi có nhu cầu cấp thiết
về vốn ngắn hạn và chắc chắn sẽ có khoản thu bù đắp trong tơng lai vì vậy rủi
ro mang đến thờng thấp.
- Lãi suất thấp: lãi suất cho vay đợc hiểu là khoản chi phí ngời đi vay trả
cho nhu cầu sử dụng tiền tạm thời của ngơì khác. Chính vì rủi ro mang lại
của khoản vay thờng không cao do đó lãi suất ngời đi vay phải trả thông th-
ờng nhỏ hơn lãi suất khoản vay tín dụng trung và dài hạn tơng ứng.

- Xem xét mối quan hệ thơng mại của các chủ thể liên quan đến thơng
phiếu.
15
- Nghiên cứu khả năng trả nợ của các chủ thể có liên quan, đặc biệt là
ngời thụ lệnh (ngời phải thanh toán thơng phiếu) và ngời thụ hởng (ngời xin
chiết khấu).
Ngân hàng chỉ chấp nhận chiết khấu những thơng phiếu đủ điều kiện
sau:
- Còn thời hạn thanh toán theo quy định của Ngân hàng Nhà nớc
- Phải hợp lệ về mặt hình thức và nội dung
- Đối với hối phiếu thì phải có chữ ký chấp nhận của ngời thụ tạo
- Khách hàng phải chuyển nhợng quyền sở hữu cho ngân hàng dới hình
thức ký hậu.
Sau khi thẩm định, ngân hàng loại trừ những thơng phiếu không đủ điều
kiện chiết khấu hay còn nghi ngờ khả năng thanh toán, rồi tính số tiền ngân
hàng trả cho khách hàng theo các thơng phiếu nhận chiết khấu.
Đến thời hạn thanh toán thơng phiếu, ngân hàng sẽ tiến hành thu nợ ở
ngời chịu trách nhiệm thanh toán thơng phiếu. Nếu ngời này không thanh
toán, ngân hàng có thể chọn một trong hai cách xử lý sau:
- Ngân hàng có thể trích tài khoản tiền gửi thanh toán của ngời xin
chiết khấu để thu hồi, sau đó trả lại thơng phiếu để họ tự đòi nợ.
- Ngân hàng tiến hành thủ tục để truy đòi số nợ: theo luật định, ngân
hàng có quyền chỉ định một trong số những ngời tham gia ký chuyển nhợng
thơng phiếu để trả nợ cho ngân hàng. Trong trờng hợp này, ngân hàng thờng
chỉ định ngời nào có đủ khả năng tài chính nhất.
Ưu điểm và nhợc điểm của nghiệp vụ chiết khấu:
Chiết khấu là một nghiệp vụ tín dụng có khá nhiều u điểm, đó là:
- Chiết khấu là nghiệp vụ ít rủi ro, khả năng thu hồi nợ của ngân hàng
là khá chắc chắn.
- Đây là hình thức tín dụng khá đơn giản, ít phiền phức với ngân hàng.

khoản tiền vay đồng thời khách hàng phải ký một lệnh phiếu trao cho ngân
hàng giữ cam kết hoàn trả số tiền đã vay vào thời điểm nhất định.
- Trong trờng hợp không có tài sản bảo đảm, hay tài sản bảo đảm kém
giá trị khách hàng có thể nhờ một ngời có tài sản bảo lãnh số nợ đó bằng một
tờ cam kết. Ngời bảo lãnh do khách hàng chọn nhng phải đợc sự chấp nhận
của ngân hàng.
Nếu căn cứ vào các thức sử dụng tiền vay thì tín dụng ứng trớc có hai
cách sử dụng tiền vay:
- Sau khi đã ký kết hợp đồng tín dụng, ngân hàng tiến hành cho vay
theo mức cho vay đã thoả thuận, ngân hàng chuyển toàn bộ số tiền cho vay
vào tài khoản tiền gửi thanh toán của doanh nghiệp để doanh nghiệp tuỳ ý sử
dụng theo nhu cầu. Đây là cách cho vay mà các ngân hàng thờng áp dụng.
- Khách hàng đợc sử dụng dần số tiền vay trên tài khoản vay (tài khoản
ứng trớc). Việc sử dụng bằng cách phát hành séc để chi trả mang số hiệu tài
khoản ứng trớc. Khi tờ séc do khách hàng phát hành quay trở về ngân hàng
thì ngân hàng trích tài khoản vay để chi trả.
Khách hàng có thể sử dụng tiền vay một hoặc nhiều lần. Nếu khách
hàng phát hành séc để chi trả (mang số hiệu tài khoản vay) vợt mức cho vay
đã thoả thuận thì ngân hàng áp dụng các biện pháp chế tài do phát hành séc
không có tiền bảo chứng.
Đây là một trong hai hình thức tín dụng ứng trớc mà các ngân hàng th-
ơng mại có thể áp dụng song không phổ biến.
Ưu, nhợc điểm của loại tín dụng ứng trớc
Ưu điểm:
- Đối với ngân hàng: vốn ngân hàng cho vay thờng không phải rút
ngay một lúc vì nhu cầu vốn của khách hàng phát sinh dần dần và nếu khách
hàng dùng tiền ứng trớc đó vào việc thanh toán cho khách hàng khác có tài
khoản tại ngân hàng ấy thì nguồn vốn của ngân hàng không bị hao hụt. Mặt
khác, với cách cho vay này thì ngân hàng đợc hởng một khoản lãi tính trên
18

Nếu tài khoản d nợ thì số nợ đó thể hiện tiền ngân hàng cho vay và khách
hàng phải trả lãi tiền vay cho ngân hàng.
Điều kiện đi vay của khách hàng:
- Đơn vị có tình hình tài chính tốt.
- Nhu cầu chi tiêu đó thực sự là bức bách và không quá lớn nh nhu cầu
trả lơng cho cán bộ công nhân viên.
- Khách hàng cần chứng minh đợc là sẽ có nguồn thu để trả
Qua phần trình bày trên, ta thấy tín dụng thấu chi có các đặc điểm sau:
- Giữa ngân hàng và khách hàng thoả thuận một hạn mức tín dụng để
khách hàng đợc sử dụng số d nợ trên tài khoản vãng lai trong một thời hạn
nhất định.
- Khách hàng sử dụng vốn bằng cách phát hành séc mang số hiệu tài
khoản vãng lai hoặc bằng các công cụ thanh toán khác.
- Doanh số cho vay có thể lớn hơn hạn mức nếu trong quá trình sử
dụng tiền trên tài khoản khách hàng có tiền nộp vào bên có.
- Hạn mức tín dụng mà ngân hàng và khách hàng đã thoả thuận với
nhau cha phải là tiền ngân hàng cho vay mà chỉ khi nào khách hàng sử dụng
(có xuất hiện d nợ của tài khoản vãng lai) mới đợc coi là ngân hàng cho vay
và đợc tính tiền lãi trên số d nợ đó.
- Vợt chi tài khoản là kỹ thuật cho vay mà số d nợ thờng xuyên biến
động vì thế khó thực hiện đợc đảm bảo tín dụng bằng hình thức bảo đảm đối
vật.
Ưu nhợc điểm của loại tín dụng vợt chi tài khoản
Đối với khách hàng loại tín dụng vợt chi là khoản tạo cho khách hàng
những thuận lợi đáng kể nhờ vào sự chủ động, linh hoạt khi sử dụng. Việc
cho phép vợt chi trên tài khoản vãng lai giúp cho việc cân đối ngân quỹ mà
tránh phải đi xin vay nhiều lần với thủ tục phức tạp trong một kỳ, khi mà
ngay sau đó lại có những khoản thu đợc chuyển vào tài khoản để giảm bớt
việc phải trả lãi cho ngân hàng.
Do tính chủ động và linh hoạt nh vậy mà tín dụng vợt chi tài khoản đáp

nghiệp thờng phải vay vốn ngân hàng để đáp ứng sự thiếu hụt tiền mặt tạm
21
thời này. Do đó khoản vay cũng thờng đựơc đảm bảo bằng khoản sẽ thu hay
hàng tồn kho.
- Doanh nghiệp có khó khăn tạm thời về tài chính: doanh nghiệp cần
tiền để thanh toán nhng lại không có chứng từ để phản ánh mối quan hệ mua
bán chịu đó trong khi đó số d trên tài khoản của họ không đủ chi tiêu khi đó
doanh nghiệp rất cần các khoản vay ngắn hạn để giải quýêt những khó khăn
này. Trờng hợp này xảy ra khi đến kỳ trả lơng cho nhân viên, phải trả nợ
thiếu của khách hàng, thông thờng các khoản này không quá lớn và ngân
hàng có thể xem xét cho khách hàng chi vợt.
- Doanh nghiệp có một lợng tài sản dự tính sẽ chuyển thành tiền mặt
trong tơng lai gần, lợng tài sản này gây trở ngại làm ứ đọng vốn kinh doanh
của doanh nghiệp, trờng hợp này doanh nghiệp muốn sử dụng lợng tài sản
này để xin vay giải quyết khó khăn về vốn do lợng tài sản này gây ra.
- Vào mùa kinh doanh sản phẩm của mình doanh nghiệp cần mở rộng
quy mô, gia tăng hoạt động sản xuất kinh doanh nhng thiếu vốn đầu t mở
rộng. Khi nhu cầu về sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trờng đợc dự đoán
tăng cao nhng doanh nghiệp hiện thời thiếu vốn để mở rộng
3.5. Vai trò của tín dụng ngắn hạn.
Tín dụng ngắn hạn đảm bảo phát triển kinh tế theo chiều rộng, thúc
đẩy mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Đây là một trong những vai trò
quan trọng nhất của tín dụng ngắn hạn. Thông qua việc cung cấp vốn tín
dụng để mua nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, mở rộng sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp, tín dụng ngắn hạn góp phần giúp doanh nghiệp mở
rộng sản xuất. Nớc ta đang trên đà CNH- HĐH, tuy nhiên do đặc điểm nớc ta
nền kinh tế vẫn đang trong giai đoạn quá độ vì vậy sản xuất nhỏ vẫn là chủ
yếu- các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm trên 90% tổng số các doanh nghiệp.
Đặc điểm chủ yếu của loại hình doanh nghiệp này lại là sản xuất nhỏ, nguồn
vốn chủ sở hữu nhỏ, hoạt động kinh doanh lại gắn với địa phơng và theo mùa

không khí cạnh tranh sôi nổi, buộc các ngân hàng phải quan tâm tới thị trờng,
khách hàng nếu muốn mở rộng tín dụng, muốn tồn tại.
23
Ngoài những yếu tố mang tính khách quan tác động đến quy mô và cơ
cấu khoản vay nh vị trí địa lý của ngân hàng, tình hình kinh tế, chính trị, xã
hội của đất nớc, quy mô, cơ cấu ngân hàng thì những vấn đề bên trong
ngân hàng nh chính sách khách hàng, dịch vụ ngân hàng cung cấp, công tác
thông tin tuyên truyền, mở rộng mạng lới là những nhân tố đóng vai trò rất
quan trọng trong việc mở rộng hoạt động tín dụng. Mục tiêu cuối cùng của
các chính sách đó chính là nhằm thoả mãn một cách tối đa nhu cầu của
khách hàng, qua đó thu hút khách hàng quan hệ tín dụng với ngân hàng. Đó
cũng chính là mục tiêu của hoạt động Marketing.
Chính vì vậy, để thực hiện tốt chính sách khách hàng, công tác mở
rộng mạng lới, thông tin tuyên truyền thì ngân hàng cần nhất phải chú trọng
công tác Marketing ngân hàng - đó là công cụ hữu hiệu nhất để nâng cao sức
mạnh cạnh tranh, để chiến thắng đối thủ cạnh tranh, mở rộng các đối tợng và
quy mô vay vốn của khách hàng.
4.2. Nội dung của Marketing tín dụng.
Nội dung của Marketing tín dụng tập trung vào 4 vấn đề chính: Chính
sách về sản phẩm, chính sách về giá cả, chính sách về phân phối và chính
sách tuyên truyền quảng cáo.
4.2.1. Chính sách về sản phẩm tín dụng
Cụ thể là nghiên cứu các hình thức tín dụng, mỗi hình thức cho vay là
một sản phẩm cụ thể. Nội dung của chính sách này phải giải quyết đợc câu
hỏi: Khả năng thích ứng của các hình thức tín dụng hiện tại đối với nhu cầu
thị trờng ở mức nào? Định hớng cải tiến đổi mới hình thức tín dụng cũ và
phát triển ra đời các hình thức tín dụng mới. Ngân hàng cần tạo ra nhiều sản
phẩm đa dạng với chất lợng cao để khách hàng lựa chọn.
Sản phẩm dịch vụ ngân hàng ngoài hai thuộc tính nh những hàng hoá,
dịch vụ thông thờng, nó còn mang những nét đặc thù riêng biệt bởi lẽ ngân

- Thu hút khách hàng mới và phải tăng sức cạnh tranh cho ngân hàng.
25

Trích đoạn Vai trò của Marketing ngân hàng Lịch sử hình thành và ra đời NH No & PTNT chi nhánh Láng Hạ Về hoạt động tín dụng Về hoạt động sử dụng vốn Các công tác khác
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status