TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====***=====
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
VẤN ĐỀ GÌN GIỮ VÀ PHÁT HUY
DI SẢN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG
CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC MƯỜNG
Ở TỈNH HÒA BÌNH HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
HÀ NỘI - 2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====***=====
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
VẤN ĐỀ GÌN GIỮ VÀ PHÁT HUY
DI SẢN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG
CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC MƯỜNG
Ở TỈNH HÒA BÌNH HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Người hướng dẫn khoa học
Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của Thạc sĩ
Lê Thị Minh Thảo. Tôi xin cam đoan rằng:
Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu
trách nhiệm.
Hà Nội, tháng 5 năm 2013
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Thanh Huyền
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc
Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại.
Di sản cồng chiêng được coi là một trong những di sản quan trọng
trong kho tàng di sản văn hóa Việt Nam nói riêng cũng như di sản văn hóa thế
giới nói chung, là di sản văn hóa phi vật thể có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa
học, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề được trình diễn và gắn
kết trong không gian văn hóa của từng dân tộc thông qua phong tục tập quán,
tín ngưỡng, lễ hội mang tính tập thể, cộng đồng và có sự lan tỏa lớn.
Đối với dân tộc Mường thì họ coi cồng chiêng như là vật báu trong gia
đình mình.
Những năm gần đây, trong xu thế hội nhập toàn cầu, dưới sự ảnh hưởng
của nhiều trào lưu văn hóa mới và tác động của cơ chế thị trường, của công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, các thiết chế xã hội của dân tộc có những biến đổi
nhanh chóng kéo theo sự biến đổi của hệ thống các giá trị văn hóa truyền
thống của các dân tộc đang có nguy cơ bị lấn át, mai một, biến dạng, thay thế
vào đó là lối sống và các trào lưu văn hóa hiện đại, đòi hỏi các cấp, các ngành
nghiên cứu quan tâm như về nhà ở, trang phục, lễ hội,… và cồng chiêng của
đồng bào dân tộc Mường cũng vậy. Cồng chiêng Mường là một đề tài không
mới nhưng để so với cồng chiêng Tây Nguyên thì chưa được nghiên cứu đúng
mức. Số lượng bài viết, bài nghiên cứu về cồng chiêng của dân tộc Mường thì
không nhiều, cụ thể có một số bài nghiên cứu như:
- Cuốn “Cồng chiêng Mường” của Kiều Trung Sơn xuất bản năm 2012,
Nxb Lao động. Trong cuốn sách tác giả đã giới thiệu các thuật ngữ, khái niệm
cồng chiêng và tình hình nghiên cứu cồng chiêng Mường. Người Mường và
các nét nghệ thuật cơ bản trong văn hóa cồng chiêng Mường.
2
- Cuốn “Văn hóa dân gian Mường - một góc nhìn” của Cao Sơn Hải
xuất bản năm 2006, Nxb Văn hóa dân tộc. Nội dung của cuốn sách đã đề cập
tới nghi lễ, tập tục, xắc bùa, dấu ấn văn hóa dân gian của người Mường nói
chung và của người Mường ở Thanh Hóa.
- Cuốn “Văn hóa dân gian Mường” của tác giả Bùi Thiện xuất bản năm
2010, Nxb Văn hóa dân tộc. Tác giả đã giới thiệu về vùng đất, con người,
điều kiện về kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội của dân tộc Mường. Cụ thể
cuốn sách gồm có 5 phần:
+ Phần 1: Thiên nhiên, đất nước, con người.
+ Phần 2: Huyền thoại - vũ trụ quan - thế giới quan truyền thống dân tộc.
+ Phần 3: Vài nét về văn hóa vật chất.
+ Phần 4: Một số phong tục và lễ hội của dân tộc Mường.
+ Phần 5: Nghệ thuật dân gian Mường.
Thông qua cuốn sách giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cuộc sống cũng như
văn hóa của đồng bào dân tộc Mường.
- Luận án tiến sĩ văn hóa học của Kiều Trung Sơn với đề tài “Cồng
chiêng Mường”. Trong luận án, tác giả nghiên cứu sâu thêm về nghệ thuật
của đồng bào dân tộc Mường ở tỉnh Hòa Bình.
- Chỉ ra một số giải pháp, phương hướng mà Nhà nước và tỉnh Hòa
Bình nhằm gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa cồng chiêng của đồng bào dân
tộc Mường ở tỉnh Hòa Bình.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
* Đối tượng nghiên cứu đề tài:
Đề tài nghiên cứu, tìm hiểu một số vấn đề lý luận về văn hóa cồng
chiêng, giá trị của di sản văn hóa cồng chiêng. Đặc biệt đi sâu vào tìm hiểu về
thực trạng và giải pháp việc gìn giữ và phát huy di sản văn hóa cồng chiêng
của đồng bào dân tộc Mường ở tỉnh Hòa Bình.
4
* Phạm vi nghiên cứu đề tài
Khóa luận chỉ đề cập đến một số nét đặc sắc của di sản văn hóa cồng
chiêng, mà cụ thể là di sản văn hóa cồng chiêng của đồng bào dân tộc Mường
ở tỉnh Hòa Bình, thực trạng, phương hướng và giải nhằm gìn giữ và phát huy
di sản văn hóa cồng chiêng của đồng bào dân tộc Mường ở tỉnh Hòa Bình từ
năm 2000 cho đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
* Cơ sở lý luận:
Khóa luận được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận cơ bản của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương, đường lối của
Đảng và Nhà nước ta về vấn đề văn hóa.
* Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài tôi đã sử dụng các phương pháp của
khoa học lịch sử như: phương pháp logic, phương pháp phân tích - tổng hợp.
Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp khác như: quan sát, phỏng vấn,
ghi chép lại những tư liệu qua truyền miệng trong nhân dân.
1.1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về di sản văn hóa cồng chiêng và khái
quát chung về tỉnh Hòa Bình
1.1.1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về di sản văn hóa cồng chiêng
* Khái niệm văn hóa, di sản văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc
- Khái niệm văn hóa:
Văn hóa là khái niệm được sử dụng phổ biến trong đời sống xã hội và
cả trong khoa học. Trên thế giới hiện nay có tới hàng trăm cách định nghĩa về
văn hóa. Song, về cơ bản đều thống nhất coi văn hóa là những gì mà con
người sáng tạo để hình thành nên các giá trị, các chuẩn mực xã hội trong quá
trình lao động, hoạt động thực tiễn. Các giá trị chuẩn mực đó tác động, chi
phối, điều chỉnh đời sống tâm lý, hành vi, đạo đức và các hoạt động trên mọi
lĩnh vực có sự hiện diện của con người.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của
cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo
đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho
sinh hoạt hàng ngày về ăn, ở, mặc và các phương thức sử dụng. Toàn bộ
những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa” [6, tr. 431].
Nghiên cứu về văn hóa các nhà văn hóa Việt Nam cũng đưa nhiều định
nghĩa khác nhau:
Theo phó giáo sư Phan Ngọc: Không có cái vật gì gọi là văn hóa cả và
ngược lại bất kì vật gì cũng có cái mặt văn hóa. Văn hóa là một quan hệ. Nó
là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại. Quan hệ ấy biểu
7
hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với một
tộc người khác, một cá nhân khác. Nét khác biệt giữa các kiểu lựa chọn làm
cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hóa khác nhau là độ khúc xạ.
dưới dạng phi vật thể, nhưng vẫn mang tính tồn tại vật chất khách quan như
văn hóa trong các lĩnh vực đạo đức, giao tiếp, ứng xử, lối sống, phong tục tập
quán…
Ở Việt Nam, khi luận bàn về văn hóa của dân tộc thường được hiểu
theo hai nghĩa, hai cấp độ khác nhau: Ở phạm vi hẹp, văn hóa dân tộc đồng
nghĩa với văn hóa của một tộc người, là một chi tiết của văn hóa nói chung; Ở
phạm vi rộng, văn hóa dân tộc là văn hóa chung của cả cộng đồng tộc người
sống trong cùng một quốc gia. Văn hóa tộc người là toàn bộ những giá trị vật
chất và tinh thần, cũng như những quan hệ xã hội được sáng tạo trong điều
kiện môi trường sinh tồn của một tộc người, phản ánh những nhận thức, tâm
lý, tình cảm, tập quán riêng biệt được hình thành trong lịch sử của tộc người
đó. Ở các quốc gia đa dân tộc, văn hóa của các tộc người đan xen, hấp thụ lẫn
nhau tạo nên nét chung của văn hóa quốc gia, của cả cộng đồng dân tộc, và
mỗi nền văn hóa đều có những giá trị riêng của nó.
Qua đó có thể nói rằng văn hóa là một khái niệm mở, là một phạm trù
rộng lớn, phong phú và đa dạng, các định nghĩa khác nhau về văn hóa đã đưa
ra không nhằm bài trừ nhau mà bổ sung cho nhau làm cho khái niệm văn hóa
ngày càng trở nên đầy đủ, toàn diện.
- Di sản văn hóa:
Theo Điều 1 trong Luật Di sản văn hóa của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam đã quy định: Di sản văn hóa quy định tại luật này bao gồm di
sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật
chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này sang
thế hệ khác ở nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tại Điều 4 của Luật di sản văn hóa quy định:
9
Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn
đơn giản (dạng phiến mỏng, hình tròn, chất liệu đồng, có thành ở vành ngoài,
có núm hoặc không có núm ở giữa), với nhiều kích cỡ khác nhau khi không
sử dụng tồn tại ở dạng đơn lẻ.
Người Kinh và người Mường dùng cả hai tên “cồng” và “chiêng” gọi
loại nhạc khí nêu trên. Đó là hai tên gọi dành cho một dạng hình thù: có núm
(núm chiêng người Mường gọi là “ngôi”), dạng không núm gọi là “thanh la”
(người Mường gọi là “lệnh” hoặc “phèng la”). Người Mường dùng tên
“chiêng” làm cách gọi phổ biến nhất, tên “cồng” đôi khi cũng được dùng.
Người Khơ - me Nam Bộ gọi loại nhạc khí trên như sau: “nếu không có
núm gọi là Khmuôs, và nếu có núm gọi là Kôông Môôn hoặc Kôôn Skô”
[11,tr. 232 - 237].
Người Gia rai gọi là “chỉnh, chêng, trong đó chêng là loại có núm. Nếu
tròn 1 bộ gồm 16 cái thì gọi là Ching chêng” [2, tr. 134].
Người Giẻ Triêng gọi “loại có núm là chinh honh hoặc goong, gọi loại
không núm là chinh hlong” [23, tr.154].
Người Ê đê “không phân biệt có núm hay không có núm họ đều gọi là
chinh” [10, tr. 201].
Người M’nông gọi “loại có núm là goong, loại không núm là chêng
[20, tr. 227]. Theo đó cách gọi “chêng” của người M’nông, căn cứ hình thù,
ngược lại với người Gia Rai (đối với người Gia Rai, “chênh” có núm).
Ngoài ra, các tộc người Tây Nguyên tương đối phổ biến cách gọi mỗi
chiếc “cồng” (hoặc chiêng) theo tên riêng hoặc theo thứ bậc trong gia đình
như chiêng chồng, chiêng vợ (bộ chiêng Tha của người Brâu), chiêng mẹ,
chiêng chị, chiêng em…
Như vậy, trong dân gian rất ít tộc người sư dụng từ ghép để gọi tên loại
nhạc khí trên, đa số họ chỉ dùng từ đơn. Có tộc, theo tên gọi, người ta phân biệt
hình thù có núm hay không có núm; có tộc người chỉ dùng một tên, không
phân biệt hình thù và có tộc thì dùng tới 2 cái tên cho một dạng hình thù.
11
“Cồng chiêng không chỉ có riêng ở miền núi. Những câu thành ngữ cổ
cho thấy cồng chiêng đã xuất hiện trong đời sống nhân dân từ những ngày
lịch sử xa xôi: bà Triệu cưỡi voi đánh cồng. Những lễ hội ở sân đình, ở đám
rước có chiêng đi đôi với trống” [5, tr. 96 - 97].
Vì có đến ba định nghĩa, định nghĩa nào cũng có “ cồng” hoặc “chiêng”
nên mỗi định nghĩa giới thiệu một kiểu.
Định nghĩa thứ nhất (1) giới thiệu cách gọi “ chinh chiêng” - bộ cồng
chiêng, nhạc cụ của người Ba Na, trong đó phân biệt rõ cồng có núm còn
chiêng không có núm.
Định nghĩa thứ hai (2), “cồng - cũng gọi là chiêng” là “nhạc cụ thuộc
bộ gõ”, được mô tả giống với định nghĩa trong Từ điển Bách khoa Việt Nam
nhưng khác với định nghĩa thứ nhất, ở đây giải thích “cồng” hay “chiêng”
cùng để chỉ một nhạc khí.
Định nghĩa thứ ba (3) về “cồng chiêng” cho biết đó là loại nhạc khí gõ
của ai và sử dụng trong các dịp nào. Ngoài việc chủ yếu là giới thiệu chủ thể
của loại nhạc khí trên, định nghĩa thứ ba cho thấy rõ các tác giả nhận thức
“cồng chiêng” là một thuật ngữ chung.
Trong cuốn Nhạc khí dân tộc Việt, xuất bản năm 2001, định nghĩa:
Cồng, chiêng là nhạc khí tự thân vang gõ phổ biến tại Việt Nam, đồng
thời ở một số nước khác ở Châu Á cũng có. Cồng, chiêng làm bằng đồng thau
hoặc hợp kim đồng thiếc, với tỷ lệ các hợp kim rất khác nhau tùy theo nơi
đúc, hình tròn ở giữa hơi phồng lên, chung quanh có gờ gọi là thành. Cồng
luôn có núm ở giữa, chiêng có hai loại: Chiêng có núm ở giữa gọi là chiêng
núm và chiêng không có núm gọi là chiêng bằng [21, tr. 373].
Nếu Từ điển Bách khoa Việt Nam coi “cồng” là tên chung và Từ điển
Văn hóa cổ truyền Việt Nam coi “chiêng” là tên chung cho hai dạng có núm
và không có núm, thì cuốn Nhạc khí dân tộc Việt đã cố gắng tách biệt rạch ròi
người Mường.
14
Cồng chiêng Mường phần lớn là chiêng có núm, họ không dùng loại
không núm cho dàn chiêng. Mặc dù đôi khi và đôi nơi có dùng tên “cồng”
nhưng tên gọi phổ biến và chủ yếu vẫn là “chiêng”.
Người Mường diễn tấu cồng chiêng theo phương thức cộng đồng, phổ
biến mỗi người một chiêng theo những nguyên tắc của riêng họ tạo nên một loại
hình nghệ thuật. Nghệ thuật đó được người Mường gọi đơn giản là xắc bùa.
1.1.2. Khái quát chung về tỉnh Hòa Bình
Tỉnh Hòa bình được thành lập từ ngày 22/6/1886 khi chính quyền thực
dân Pháp kí nghị định cắt các vùng đất có nhiều người Mường cư trú thuộc các
tỉnh Hưng Hóa, Sơn Tây, Hà Nội và Ninh Bình để thành lập tỉnh Hòa Bình.
* Đặc điểm tự nhiên, xã hội
- Đặc điểm tự nhiên
+ Vị trí:
Hòa Bình là một tỉnh miền núi đa dân tộc nằm ở cửa ngõ vùng Tây
Bắc của Tổ quốc có vị trí địa lý quan trọng của vùng chuyển tiếp từ đồng
bằng lên miền núi. Tỉnh Hòa Bình có tổng diện tích tự nhiên là 4662,53km2.
Phía Bắc giáp tỉnh Phú Thọ, phía Đông giáp thành phố Hà Nội, phía Tây giáp
tỉnh Sơn La, Thanh Hóa, phía Nam giáp tỉnh Ninh Bình và Hà Nam.
+ Địa hình:
Hòa Bình chủ yếu là đồi núi. Cấu trúc địa lý tự nhiên của Hòa Bình là
những dãy, những vòng cung đồi núi và sông suối chia cắt phức tạp, độ dốc
lớn và theo hướng Tây Bắc - Đông Nam tạo nên những thung lũng hẹp được
phân chia từ vùng thấp đến vùng cao.
+ Khí hậu:
Hòa Bình là khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh ít mưa, mùa hè
Tài nguyên khoáng sản
Hoà Bình có nhiều loại khoáng sản, trong đó một số loại đã được khai
thác như: amiăng, than, nước khoáng, đá vôi… Đáng lưu ý nhất là đá, nước
khoáng, đất sét có trữ lượng lớn.
16
Đá gabrodiaba trữ lượng 2,2 triệu m3; đá granít trữ lượng 8,1 triệu m3;
đặc biệt đá vôi có trữ lượng rất lớn trên 700 triệu tấn, đang được sản xuất
phục vụ xây dựng các công trình giao thông, thuỷ lợi, xây dựng cơ bản…
Ngoài ra, than đá có 6 mỏ nhỏ và 2 điểm khai thác than ở các huyện
Kim Bôi, Lạc Thuỷ, Yên Thuỷ, Lạc Sơn, Đà Bắc, Kỳ Sơn, tổng trữ lượng cấp
C1 là 982.000 tấn.
Đôllômit, barit, cao lanh cũng có trữ lượng lớn, trong đó có một số mỏ
còn chưa được xác định rõ về trữ lượng. Sét phân bố ở vùng thấp, có rải rác
trong tỉnh, trữ lượng ước tính 8 - 10 triệu m3.
Tài nguyên quý của tỉnh Hoà Bình là nước khoáng, chủ yếu phân bố ở
2 huyện Kim Bôi, Lạc Sơn.
Ngoài ra, kho tài nguyên khoáng sản của tỉnh còn rất nhiều mỏ đá kim
như: vàng, đồng, chì, kẽm, thuỷ ngân, antimon, pyrit, phốtphorit…
- Đặc điểm về kinh tế - xã hội
+ Về kinh tế
Những lĩnh vực kinh tế lợi thế
Do đặc điểm địa lý tiếp giáp với đồng bằng sông Hồng và thủ đô Hà
Nội, có điều kiện tự nhiên, đất đai, tài nguyên khoáng sản, đặc điểm văn hoá
đa dạng và phong phú đã tạo điều kiện cho tỉnh Hoà Bình phát triển mạnh một
số lĩnh vực kinh tế lợi thế.
Về nông nghiệp: Nhiều vùng sản xuất hàng hóa chuyên canh nguyên
liệu tập trung được phát triển và nhân rộng như: vùng cam huyện Cao Phong;
vùng mía tím huyện Tân Lạc, Cao phong; vùng gỗ, luồng nguyên liệu ở
Việt Nam. Công trình khởi công ngày 6 tháng 11 năm 1979, khánh thành
ngày 20 tháng 12 năm 1994. Ngoài tác dụng phát điện, nhà máy này còn có
chức năng ngăn lũ cho sông Hồng, cung cấp nước tưới tiêu và cải thiện giao
thông đường thuỷ.
Tiềm năng du lịch
Hoà Bình có cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, văn hoá lịch sử phong phú
có thể phát triển du lịch dưới nhiều hình thức. Cụ thể, 6 dân tộc anh em:
18
Mường, Kinh, Thái, Tày, Dao, Mông với những nét văn hoá, phong tục tập
quán đa dạng, phong phú tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch văn
hoá và hiện nay nổi tiếng là khu du lịch Bản Lác - Mai Châu. Bên cạnh đó, du
lịch cảnh quan, sinh thái ở Hoà Bình cũng có rất nhiều tiềm năng để phát triển
với đập thủy điện Hòa Bình, hồ sông Đà hùng vĩ, rừng nguyên sinh Thượng
Tiến (Kim Bôi), rừng Hang Kia - Pà Cò (Mai Châu), rừng Phu Canh (Đà
Bắc), Suối Ngọc - Vua Bà (Lương Sơn)… Ngoài ra, tỉnh Hoà Bình còn nổi
tiếng với suối nước khoáng Kim Bôi, Lạc Sơn, có núi cao, hồ lớn, khí hậu
điều hoà tạo điều kiện cho du lịch nghỉ dưỡng phát triển. Trên địa bàn tỉnh có
nhiều đền chùa nổi tiếng như chùa Tiên (Lạc Thuỷ), đền Bờ (trên hồ sông
Đà)… là nơi thuận lợi cho phát triển du lịch.
Với vị trí cửa ngõ vùng Tây Bắc, tiếp giáp với đồng bằng sông Hồng,
Hoà Bình còn có thể phát triển nhiều loại hình du lịch như tổ chức hội thảo,
hội nghị, nghỉ cuối tuần… là nơi kết nối các tua, tuyến du lịch với các tỉnh lân
cận và miền Bắc.
+ Về xã hội
Hoà Bình có 10 huyện và 01 thành phố, cụ thể: Cao Phong, Đà Bắc,
Kim Bôi, Kỳ Sơn, Mai Châu, Lạc Sơn, Lạc Thuỷ, Lương Sơn, Tân Lạc, Yên
Thuỷ và thành phố Hoà Bình. Toàn tỉnh có 210 xã, phường, thị trấn. Trung
tâm tỉnh lỵ của Hòa Bình được đặt tại thành phố Hoà Bình, cách trung tâm thủ
cá, ốc, tôm… để cải thiện bữa ăn hàng ngày.
Người Mường quần cư sinh sống trong các đơn vị là xóm, làng, mường,
chiềng.
- Văn hóa:
Người Mường có truyền thống cần cù, thông minh đã sáng tạo nên văn
hóa Hòa Bình đặc sắc, nổi tiếng. Trong nền văn hóa Hòa Bình lâu đời, phong
phú, mang sắc thái riêng, không gian văn hóa cồng chiêng từ nhiều thế kỉ qua
20
nhân dân Mường đã quý trọng, gìn giữ, phát huy và coi là vật báu, vật linh
thiêng, là tài sản quý giá của dân tộc. Nhân dân cả nước cũng biết đến đó là
một trong những giá trị văn hóa nghệ thuật đồ sộ, đắc sắc và có giá trị nhất
của dân tộc Mường.
Từ xa xưa nhân dân vẫn quan niệm vạn vật hữu linh, quan niệm đó biểu
hiện trong việc tôn thờ, cúng bái trời đất, gió, mưa, sông, suối, ngọn núi, tảng
đá, cây rừng và những con vật… bất kể cái gì có ảnh hưởng đến suy nghĩ, tâm
lý, tâm linh và cuộc sống hàng ngày của họ. Đây là sự tôn trọng mối quan hệ
giữa con người với thiên nhiên. Theo quan niệm của người Mường con người
có linh hồn, vạn vật cũng có linh hồn. Linh hồn cũng có nhu cầu ăn, ở, đi lại,
sinh hoạt như con người.
Hệ thống tín ngưỡng của nhân dân Mường là vô cùng phong phú dẫn
đến các nghi lễ thờ phụng cũng vô cùng phong phú, rất nhiều các lễ hội như:
lễ khai xuân, lễ khuống mùa (xuống đồng), lễ cầu mưa, lễ rửa lá lúa, lễ cơm
mới, lễ tang… Mỗi lễ hội lại kèm theo các hình thức văn hóa nghệ thuật, đặc
biệt là âm nhạc cồng chiêng. Văn hóa cồng chiêng được trình tấu, diễn tấu ở
hầu hết các nội dung, hàng động, không gian, tiến trình lễ hội. Tiếng chiêng
được sử dụng thay lời nói, ước nguyện của con người để giao tiếp với các
đấng thần linh. Từ đó cồng chiêng trở thành vũ khí tinh thần có sức mạnh xua