Sự vận dụng quy luật phủ định của phủ định vào việc xây dựng con người mới ở việt nam hiện nay - Pdf 31

Khoa Giáo dục chính trị

Khóa luận tốt nghiệp

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
--------------------

NGUYỄN THỊ DUYÊN

SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH
CỦA PHỦ ĐỊNH VÀO VIỆC XÂY DỰNG
CON NGƢỜI MỚI Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Triết học

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. TRẦN THỊ HỒNG LOAN

HÀ NỘI - 2012

Nguyễn Thị Duyên

1

Lớp K34 GDCD - GDQP


Khoa Giáo dục chính trị

Khoa Giáo dục chính trị

Khóa luận tốt nghiệp

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những vấn đề trình bày trong khóa luận là kết quả
nghiên cứu của riêng tôi, dƣới sự hƣớng dẫn, chỉ bảo tận tình của Th.S Trần
Thị Hồng Loan, không trùng với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác.
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 03 tháng 5 năm 2012
Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Duyên

Nguyễn Thị Duyên

3

Lớp K34 GDCD - GDQP


Khoa Giáo dục chính trị

Khóa luận tốt nghiệp

CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
1. CNH, HĐH....................: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
2. CNTB.............................: Chủ nghĩa tƣ bản
3. CNXH............................: Chủ nghĩa xã hội
4. TBCN.............................: Tƣ bản chủ nghĩa

NAM HIỆN NAY TRÊN CƠ SỞ VẬN DỤNG QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH
CỦA PHỦ ĐỊNH ............................................................................................ 48
3.1. Chúng ta cần phải tích cự
............................................................................. 48
3.2. Kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp còn phù hợp với sự
phát triển của đất nƣớc và thời đại cho con ngƣời Việt Nam
hiện nay ........................................................................................................ 52
3.3. Xây dựng những phẩm chất mới ở con ngƣời Việt Nam hôm nay phù
hợp với sự phát triển của đất nƣớc và thời đại............................................. 57
KẾT LUẬN

65

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 67

Nguyễn Thị Duyên

5

Lớp K34 GDCD - GDQP


Khoa Giáo dục chính trị

Khóa luận tốt nghiệp

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Với tƣ cách là một trong ba nội dung cơ bản của phép biện chứng duy
vật, quy luật phủ định của phủ dịnh luôn là nền tảng lý luận, là kim chỉ nam


Khoa Giáo dục chính trị

Khóa luận tốt nghiệp

trong đó cần nhấn mạnh rằng: trong cách nghĩ và cách làm của chúng ta còn
thiếu tƣ duy và cách nhìn của phủ định biện chứng. Nói một cách khác, mặc
dù chúng ta vẫn nói về phủ định biện chứng nhƣng chƣa hiểu và chƣa nắm
đƣợc thực chất của nó.
Vì vậy, việc làm rõ quan điểm phủ định biện chứng và vận dụng một
cách đúng đắn, thích hợp vào hoàn cảnh cụ thể của nƣớc ta là điều hết sức cần
thiết.
Hiện nay đất nƣớc ta đang phát triển đi lên con đƣờng XHCN. Bác Hồ
kính yêu của chúng ta đã từng nói “Muốn xây dựng CNXH, trƣớc hết cần có
những con ngƣời XHCN” [14, tr.320]. Con ngƣời mới XHCN vừa phải mang
trong mình những nét đẹp của con ngƣời Việt Nam truyền thống; đồng thời,
phát huy những nét đẹp truyền thống đó lên cao nữa và cùng với nó là việc
hình thành và phát triển nhiều thuộc tính, phẩm chất mới đáp ứng nhu cầu của
xã hội hiện đại. Để xây dựng đƣợc những con ngƣời Việt Nam nhƣ thế cần
phải thấm nhuần và quán triệt quy luật phủ định của phủ định.
Tuy nhiên, ở nƣớc ta hiện nay cùng với quá trình chuyển đổi sang nền
kinh tế thị trƣờng và tham gia hội nhập quốc tế. Một mặt, đã tạo cho nền kinh
tế Việt Nam có bƣớc phát triển đáng kể, đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân đƣợc cải thiện, có mặt đƣợc nâng cao, làm bộc lộ nhiều phẩm chất,
tính cách mới trong con ngƣời Việt Nam; nhƣng mặt khác, những mặt trái,
tiêu cực của kinh tế thị trƣờng, của toàn cầu hóa đã và đang làm chao đảo
nhiều giá trị tinh thần nói chung, nhân cách con ngƣời nói riêng. Đặc biệt một
số giá trị đạo đức tốt đẹp, thiêng liêng có nguy cơ bị mai một và tha hóa.
Đồng thời ở nƣớc ta vẫn còn tồn tại nhiều tàn dƣ của xã hội cũ để lại,
đó là những hủ tục lạc hậu, bảo thủ, mê tín, dị đoan,… kìm hãm sự phát triển

mới ở Việt Nam hiện nay.
- Cuốn sách “Về phát triển con người toàn diện thời kỳ CNH - HĐH”
do giáo sƣ Phạm Minh Hạc (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.
Trong cuốn sách này, tác giả đã nêu lên tính cấp thiết của việc xây dựng và
phát triển con ngƣời toàn diện phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH, các tiêu chí
của một con ngƣời toàn diện và đề ra một số biện pháp xây dựng và phát triển
con ngƣời toàn diện thời kỳ CNH - HĐH ở nƣớc ta hiện nay.
- Công trình nghiên cứu của Vũ Thị Kiều Phƣơng: “Phủ định biện
chứng và vai trò của nó đối với sự phát triển” (luận văn thạc sĩ - Viện Triết
học). Đã phân tích khá sâu sắc quan điểm triết học biện chứ

Nguyễn Thị Duyên

8

ß của

Lớp K34 GDCD - GDQP


Khoa Giáo dục chính trị

Khóa luận tốt nghiệp

phủ định biện chứng đối với sự phát triển, phủ định biện chứng đƣợc xem nhƣ
một phƣơng thức tất yếu của quá trình cải tạo và xây dựng xã hội mới.
Nhƣ vậy, qua các công trình nêu trên, các tác giả, học giả Việt Nam đã
đề cập và nghiên cứu đến việc xây dựng và phát triển con ngƣời Việt Nam
mới phục vụ yêu cầu của xã hội hiện đại cũng nhƣ đã đề cập đến quy luật phủ
định của phủ định và vai trò của nó trong xã hội.


Khóa luận tốt nghiệp

4.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ nội dung của sự vận dụng quy luật phủ định của phủ định vào
việc xây dựng con ngƣời mới ở Việt Nam.
- Chỉ ra thực trạng (ƣu điểm, nhƣợc điểm) của sự vận dụng quy luât
phủ định của phủ định vào việc xây dựng con ngƣời mới ở Việt Nam
hiện nay.
- Đƣa ra một số giải pháp cơ bản để xây dựng đƣợc những con ngƣời
Việt Nam mới trên cơ sở vận dụng quy luật phủ định của phủ định.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
+ Khóa luận lấy phƣơng pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng làm cơ
sở phƣơng pháp luận của mình.
+ Nhóm các phƣơng pháp cụ thể:
- Phƣơng pháp lôgic và lịch sử
- Phƣơng pháp phân tích và tổng hợp
- Phƣơng pháp so sánh và đối chiếu,...
6. Ý nghĩa của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài tiếp tục bổ sung, làm rõ, hoàn thiện thêm nội dung của quy luật
phủ định của phủ định. Từ đó, tạo cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu sự vận
dụng quy luật phủ định của phủ định vào việc xây dựng con ngƣời mới ở Việt
Nam hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Từ việc đánh giá thực trạng của việc xây dựng con ngƣời mới ở Việt
Nam hiện nay, đề tài đã đƣa ra một số giải pháp cơ bản, có hệ thống và tính
khả thi nhằm xây dựng đƣợc con ngƣời mới ở Việt Nam hiện nay trên cơ sở
vận dụng quy luật phủ định của phủ định.

1.1.1. Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về phủ định của
phủ định
Thế giới vật chất vận động và phát triển không ngừng. Một dạng nào
đó của vật chất đƣợc sinh ra, tồn tại rồi mất đi và đƣợc thay thế bằng một
dạng khác. Triết học gọi sự thay thế đó là sự phủ định. Sự phủ định nhƣ thế là
một yếu tố nhất thiết phải có của quá trình vận động và phát triển.
Phép biện chứng duy vật không đề cập đến sự phủ định nói chung mà
chỉ nói đến sự phủ định làm tiền đề, tạo điều kiện cho sự phát triển, cho cái
mới ra đời thay thế cái cũ. Đó là sự phủ định biện chứng.
Phủ định biện chứng là sự tự phủ định diễn ra do những mâu thuẫn bên
trong sự vật, hiện tƣợng quy định. Sự phủ định này đã đƣợc các nhà triết học
Hy Lạp cổ đại phát hiện và trình bày dƣới dạng rất sơ khai và mộc mạc. Hẳn
chúng ta không bao giờ quên luận điểm bất hủ của Hêraclit (554-583 TCN):
“Chúng ta không thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông”. Mọi cái chỉ xảy
ra có một lần, không lặp lại dù giữa các sự vật có sự kế thừa nhất định. Hay
nhƣ Talét cho rằng, mọi sự vật không ngừng biến đổi, sinh ra và chết đi. Toàn
bộ thế giới tồn tại nhƣ một vòng tuần hoàn biến đổi không ngừng. Tuy nhiên,
quan niệm của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại mới chỉ thể hiện dƣới hình
thức ngây thơ và mang tính duy vật tự phát. (Hêraclit cho rằng nguồn gốc của
thế giới là lửa, Talét cho rằng nguồn gốc của thế giới là nƣớc… ).
Ngƣời đầu tiên trong lịch sử đã đƣa ra tƣ tƣởng rõ ràng về phủ định
biện chứng là Hêghen. Hêghen không những đã đƣa ra những tƣ tƣởng rõ
ràng về phủ định biện chứng mà còn vận dụng nhận thức đó vào việc thực

Nguyễn Thị Duyên

12

Lớp K34 GDCD - GDQP


phản đề, sự phủ định của phản đề với chính đề là một sự phủ định biện chứng.
Chỉ sự phủ định biện chứng mới có khả năng dẫn đến một “thể thống nhất

Nguyễn Thị Duyên

13

Lớp K34 GDCD - GDQP


Khoa Giáo dục chính trị

Khóa luận tốt nghiệp

sống” vì chính đề không bị phản đề trong sự phủ định. Qua đây cho thấy tƣ
tƣởng cách mạng của Hêghen về biện chứng của sự phủ định và vai trò của nó
trong cách thức phát triển của khái niệm. Hêghen đã xây dựng nền móng cho
khái niệm phủ định biện chứng. Song, hạn chế của ông là ở chỗ chỉ quan tâm
đến sự phát triển của tinh thần và cho rằng sự phát triển của “tinh thần tuyệt
đối” hay sự tha hóa của “tinh thần tuyệt đối” sẽ quy định tất cả những sự phát
triển còn lại. Nhƣ vậy, sự phủ định của phủ định trong tƣ tƣởng triết học của
Hêghen đã vạch ra khuynh hƣớng của sự vận động, phát triển của sự vật, chỉ
ra mối liên hệ lôgic - lịch sử của sự phát triển, nhƣng nó lại mang một “lớp vỏ
thần bí” duy tâm khách quan, bởi nó chỉ mô tả sự vận động của tinh thần, của
khái niệm.
Tuy hệ thống triết học của Hêghen là thần bí, tƣ biện, trừu tƣợng, ông
đã sử dụng phƣơng pháp triết học có tính cách mạng của ông để xây dựng lên
một hệ thống triết học bảo thủ, nhƣng không thể phủ nhận đƣợc Hêghen là
một nhà biện chứng thiên tài. Phủ định trong triết học biện chứng của Hêghen
không chỉ là phủ định có bảo tồn và giữ lại nguyên vẹn những yếu tố chân lý

giới tự nhiên.
Theo những tƣ tƣởng đó, phạm trù phủ định là sản phẩm của tƣ duy, là
kết quả nhận thức thế giới khách quan của con ngƣời. Nội dung của phạm trù
phủ định là sự phản ánh, là hình ảnh của sự phủ định diễn ra trong tự nhiên và
trong lịch sử. Trái lại, nội dung phủ định trong tự nhiên và lịch sử sẽ quy định
nội dung phủ định trong tƣ duy.
Về phạm trù phủ định trong triết học duy vật biện chứng, trƣớc hết
chúng ta phải kể đến luận điểm sau đây của Ph.Ăngghen: “Phủ định, trong
phép biện chứng, không chỉ có nghĩa giản đơn là nói: không, hoặc giả là tuyên
bố rằng một sự vật không tồn tại, hay phá hủy sự vật ấy bằng một cách nào
đó” [1, tr.239].
Về một phƣơng diện nhất định, luận điểm trên là một định nghĩa của
triết học duy vật biện chứng, với tƣ cách là một phạm trù triết học
Ph.Ăngghen đã định nghĩa phủ định “trong phép biện chứng” bằng cách đƣa
ra nội dung của một loại phủ định khác đối với phủ định “trong phép biện
chứng”. Xét theo nội dung, đó là sự phủ định hoàn toàn, tuyệt đối một cách
siêu hình. Đó là loại phủ định không căn cứ vào quá trình phát triển của sự
vật, hiện tƣợng mà chỉ là một ý kiến từ bên ngoài áp đặt vào quá trình đó, nên
sự phủ định này không có khả năng dẫn đến bất kỳ một sự phủ định nào. Từ

Nguyễn Thị Duyên

15

Lớp K34 GDCD - GDQP


Khoa Giáo dục chính trị

Khóa luận tốt nghiệp


16

Lớp K34 GDCD - GDQP


Khoa Giáo dục chính trị

Khóa luận tốt nghiệp

phủ định biện chứng. V.I Lênin viết: “Không phải sự phủ định thuần túy,
không phải sự phủ định không suy nghĩ, không phải sự phủ định hoài nghi,
không phải sự do dự, cũng không phải sự nghi ngờ là cái đặc trƣng và bản
chất trong phép biện chứng - dĩ nhiên phép biện chứng bao hàm trong nó nhân
tố của sự phủ định và thậm chí với tính cách là nhân tố quan trọng nhất của
nó, - không, mà là sự phủ định coi nhƣ là vòng khâu của liên hệ, vòng khâu
của sự phát triển, nó duy trì cái khẳng định, tức là không có một sự do dự nào,
không có một chủ nghĩa triết chung nào” [10, tr.251].
Từ một số lập luận trên, chúng ta có thể hiểu nội dung cơ bản của quy
luật phủ định của phủ định nhƣ sau: Quy luật phủ định của phủ định nêu lên
mối liên hệ, sự kế thừa giữa cái khẳng định và cái phủ định, nhờ đó phủ định
biện chứng là điều kiện cho sự phát triển, nó bảo tồn nội dung tích cực của
giai đoạn trƣớc và bổ sung thêm nhiều những thuộc tính mới làm cho sự vật
phát triển không phải theo đƣờng thẳng mà theo đƣờng “xoáy ốc”.
Phủ định biện chứng có hai đặc trƣng cơ bản sau đây. Thứ nhất, nó
mang tính khách quan, là điều kiện của sự phát triển. Thứ hai, nó mang tính
kế thừa, là nhân tố liên hệ giữa cái cũ và cái mới.
Phủ định biện chứng là quá trình mang tính khách quan do mâu thuẫn
của bản thân sự vật quy định. Hơn nữa phƣơng thức phủ định của sự vật cũng
không tùy thuộc ý muốn của con ngƣời. Mỗi sự vật có phƣơng thức phủ định

Từ việc phân tích ở trên, chúng ta có thể rút ra các nguyên tắc phƣơng
pháp luận của quy luật phủ định của phủ định, đó là:


. Quá
ế

.
.

Nguyễn Thị Duyên

18

Lớp K34 GDCD - GDQP


Khoa Giáo dục chính trị

Khóa luận tốt nghiệp



,

,
ận thứ

.


khẳng định cái mới là quá trình lâu dài hay mau chóng, đơn giản hay phức
tạp.
1.2. Những đặc trƣng chủ yếu về con ngƣời mới ở Việt Nam hiện nay
Thấm nhuần những tƣ tƣởng về con ngƣời và xây dựng con ngƣời mới
của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời cũng xuất phát từ truyền thống “lấy dân
làm gốc” của dân tộc ta, trong suốt quá trình lãnh đạo cuộc cách mạng lâu dài,
gian khổ để giải phóng dân tộc, giành độc lập cho tổ quốc, thống nhất đất
nƣớc trƣớc đây và xây dựng CNXH hiện nay, chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng
Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định và nhất quán với quan điểm cho rằng:
con ngƣời là vốn quý nhất và giữ vai trò quyết định sự thành bại của mọi hoạt
động, đặc biệt khi mà nguồn lực tài chính và các nguồn lực khác còn khó
khăn, hạn hẹp thì con ngƣời đƣợc xem là sức mạnh nội sinh của dân tộc Việt
Nam. Chính nhờ sức mạnh đó mà chúng ta đã vƣợt qua muôn vàn khó khăn,
thử thách của những năm tháng đen tối bị thực dân đô hộ, của những thiếu
thốn và thử thách cam go trong cuộc đấu tranh lâu dài và vô cùng tàn khốc, để
tạo nên những kỳ tích mang tầm vóc lịch sử và đƣa đất nƣớc bƣớc sang một
thời kỳ mới - thời kỳ xây dựng hòa bình, độc lập, tự do và phát triển, thời kỳ
đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nƣớc,… Thời kỳ ấy đòi hỏi Đảng và Nhà
nƣớc phải có định hƣớng chung, xác định đƣợc những đặc trƣng bản chất của
con ngƣời Việt Nam mới tƣơng xứng với vai trò là trung tâm của thời đại, là
động lực, mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội.

Nguyễn Thị Duyên

20

Lớp K34 GDCD - GDQP


Khoa Giáo dục chính trị


Nguyễn Thị Duyên

21

Lớp K34 GDCD - GDQP


Khoa Giáo dục chính trị

Khóa luận tốt nghiệp

từng mối quan hệ đó; thƣờng xuyên có ý thức nâng cao trình độ tri thức về
mọi mặt, ra sức rèn luyện sức khỏe, đảm bảo phát triển toàn diện cá nhân.
Con ngƣời mới XHCN là con ngƣời giàu lòng yêu nƣớc, thƣơng dân,
có tình thƣơng yêu giai cấp, thƣơng yêu đồng loại, sống nhân văn, nhân đạo,
có ý thức và kiên quyết đấu tranh bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ những thành
quả cách mạng; kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mƣu của kẻ thù.
Trên đây là những đặc trƣng cơ bản của con ngƣời mới XHCN mà Việt
Nam đang hƣớng tới xây dựng. Con ngƣời mới ở Việt Nam hôm nay vừa phải
mang những nét đẹp của con ngƣời truyền thống, vừa phải mang những nét
mới, hiện đại, phù hợp với sự phát triển của đất nƣớc và thời đại. Để xây dựng
đƣợc con ngƣời Việt Nam mới với những đặc trƣng nhƣ trên chúng ta cần
quán triệt và vận dụng quy luật phủ định của phủ định. Vấn đề đặt ra là vận
dụng nhƣ thế nào?
1.3. Nội dung của sự vận dụng quy luật phủ định của phủ định vào việc
xây dựng con ngƣời mới ở Việt Nam hiện nay
1.3.1. Tính khách quan của việc xây dựng con người mới ở Việt Nam
hiện nay
Việc xây dựng con ngƣời mới ở Việt Nam hiện nay mang tính tất yếu,

chuyển mình, khối lƣợng của cải vật chất do con ngƣời tạo ra ngày càng
phong phú, đồ sộ hơn rất nhiều, khoa học công nghệ ngày càng tiến bộ, đời
sống vật chất và tinh thần của ngƣời dân ngày càng đƣợc nâng cao. Điều đó
đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng giao lƣu, hợp tác giữa các nƣớc
trên thế giới, trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội. Đặc biệt là tạo ra
những điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giao những thành quả của công
nghệ mới ở các nƣớc đang phát triển. Bên cạnh những thời cơ đó thì nó cũng
nảy sinh nhiều thách thức, đòi hỏi mỗi quốc gia phải có sự đổi mới toàn diện,
đặc biệt là xây dựng những con ngƣời mới phù hợp với yêu cầu của xã hội
hiện đại.
Trong quan hệ quốc tế hiện nay, vấn đề hợp tác và cạnh tranh giữa các
khu vực, các nƣớc trên thế giới không chỉ diễn ra trên lĩnh vực kinh tế, khoa
học công nghệ mà còn diễn ra sự cạnh tranh về “nguồn chất xám” của con
ngƣời. Trí tuệ của con ngƣời đang là mối quan tâm hàng đầu của nhân loại.
Đặc biệt là ở các nƣớc phát triển, họ rất quan tâm tới vấn đề này. Họ có chính
sách ƣu tiên, đầu tƣ lớn cho sự phát triển con ngƣời có trình độ cao, có chính
sách thu hút nhân tài về làm giàu cho quốc gia của họ. Nhận thức rõ tầm quan
trọng của sự nghiệp phát triển con ngƣời trƣớc thềm thế kỷ XXI, Uỷ ban Giáo

Nguyễn Thị Duyên

23

Lớp K34 GDCD - GDQP


Khoa Giáo dục chính trị

Khóa luận tốt nghiệp


24

Lớp K34 GDCD - GDQP


Khoa Giáo dục chính trị

Khóa luận tốt nghiệp

công nghệ yếu kém,… Thế nhƣng, đứng trƣớc sự tồn vong của dân tộc, quốc
gia, toàn thể dân tộc ta dƣới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã đồng tâm nhất
trí, nhất tề xông lên diệt giặc dành độc lập. Chính con ngƣời Việt Nam đã cho
nhân dân thế giới thấy rằng: có một ranh giới, một khoảng cách ghê gớm giữa
sức mạnh của khoa học kỹ thuật với sức mạnh của con ngƣời. Và chính những
con ngƣời Việt Nam chân chất ấy, họ đã làm nên một sức mạnh vô địch, sức
mạnh của sự đoàn kết, của lý tƣởng XHCN, sức mạnh chiến thắng thực dân
đế quốc Pháp, Mĩ. Để từ đó, dân tộc đƣợc thống nhất, nhân dân đƣợc hƣởng
cuộc sống hòa bình, độc lập, cả nƣớc bƣớc vào thời kỳ mới - thời kỳ bảo vệ
và xây dựng CNXH.
Chiến tranh, đau thƣơng đã qua cả dân tộc bƣớc sang một giai đoạn lịch
sử mới. Một bƣớc ngoặt lịch sử là khi Đảng ta quyết tâm thực hiện đƣờng lối
đổi mới một cách toàn diện (ĐH VI - 12/1986). Với sự nỗ lực thần kỳ, sau
hơn 20 năm thực hiện đƣờng lối đổi mới, đất nƣớc đã thay da đổi thịt, đã có
những bƣớc tiến dài chƣa từng có trong lịch sử: kinh tế có bƣớc phát triển
vƣợt bậc, đời sống nhân dân đƣợc cải thiện rõ rệt, văn hóa xã hội đƣợc nâng
cao, thế và lực của nƣớc ta trên trƣờng quốc tế không ngừng vƣơn xa. Tuy
nhiên, chúng ta cũng không phủ nhận những tồn tại, hạn chế cần khắc phục:
kinh tế chƣa có nhịp độ phát triển bền vững, còn phân hóa giàu nghèo, cơ sở
vật chất thiếu thốn,…
Không những thế, ở nƣớc ta hiện nay đang đặt ra những vấn đề hết sức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status