Khoá luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục chính trị
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====O0O=====
NGUYỄN THỊ PHÚC
VẤN ĐỀ ĐẤU TRANH GIAI CẤP TRONG
THỜI KÌ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Triết học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS.VI THÁI LANG
Nguyễn Thị Phúc
0
K34 GDCD- GDQP
Khoá luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục chính trị
HÀ NỘI – 2012
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn của thầy giáo- tiến sĩ Vi Thái Lang.
Tôi xin cam đoan những kết quả của khoá luận chưa từng được công bố ở
bất kì công trình nghiên cứu nào, đó là những kết quả đúng, nếu sai tôi hoàn
toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày, tháng 5 năm 2012
Tác giả khoá luận
Nguyễn Thị Phúc
Nguyễn Thị Phúc
2
K34 GDCD- GDQP
Khoá luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục chính trị
DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT
CNCS: Chủ nghĩa cộng sản.
CNXH: Chủ nghĩa xã hội.
CNTB: Chủ nghĩa tư bản.
CSCN: Cộng sản chủ nghĩa.
Đtrgc: Đấu tranh giai cấp.
TBCN: Tư bản chủ nghĩa.
XHCN: Xã hội chủ nghĩa.
Nguyễn Thị Phúc
KẾT LUẬN............................................................................................ 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................... 54
Nguyễn Thị Phúc
4
K34 GDCD- GDQP
Khoá luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục chính trị
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lý luận giai cấp và đtrgc là một trong những nội dung cơ bản của chủ
nghĩa Mác -Lê Nin, có vai trò quan trọng trong sự nghiệp cách mạng. Nó được
coi là sợi chỉ đỏ xuyên suốt học thuyết Mác - Lê Nin, là hòn đá tảng để phân biệt
những người Mác xít với những kẻ giả danh Mác xít, với chủ nghĩa cơ hội, xét
lại trong phong trào cộng sản công nhân quốc tế. Trong khi khẳng định vai trò
của đtrgc trong thời kì quá độ lên CNXH, chủ nghĩa Mác-Lê Nin không tuyệt đối
hoá vấn đề giai cấp, đtrgc mà trái lại luôn đòi hỏi phải đặt nó trong những điều
kiện hoàn cảnh cụ thể và quan hệ với các nhân tố khác. Việc giải quyết đúng đắn
vấn đề giai cấp và đtrgc trong thời kì quá độ có ý nghĩa to lớn đối với sự thành
bại của CNXH.
Trên lĩnh vực lí luận và thực tiễn, từ khi cách mạng tháng Mười Nga thắng
lợi, sau sự khủng hoảng tan rã của CNXH trong những năm vừa qua đã nảy sinh
nhiều vấn đề lí luận phản kích chủ nghĩa Mác-Lê Nin đặc biệt đã xuất hiện
những khuynh hướng "tả khuynh" "hữu khuynh" trong việc nhận thức, giải quyết
theo cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước theo định hướng XHCN và
mở rộng quan hệ hợp tác với các nước, có nhiều quan điểm cho rằng: ở nước ta
hiện nay không còn giai cấp tư sản nên không còn mâu thuẫn giai cấp và đtrgc
nữa, có quan điểm sai lầm coi học thuyết giai cấp và đtrgc của chủ nghĩa Mác Lê Nin là lỗi thời muốn lẩn tránh vấn đề giai cấp và đtrgc. Mặt khác, cũng có
những quan điểm lại quá cứng nhắc và cường điệu hoá mâu thuẫn giai cấp cho
rằng: do phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế thế giới, sự phân hoá
giàu nghèo diễn ra nhanh chóng nên mâu thuẫn giai cấp nảy sinh. Để tránh tình
trạng đó phải đóng cửa, không mở rộng quan hệ với các nước, không phát triển
kinh tế thị trường.
Rõ ràng vấn đề giai cấp và đtrgc đang trở thành điểm nóng trong cuộc đấu
tranh tư tưởng hiện nay. Vì vậy nhận thức đúng đắn lí luận giai cấp và đtrgc của
chủ nghĩa Mác -Lê Nin, vai trò của đtrgc trong thời kì quá độ lên CNXH ở Việt
Nam là một trong những vấn đề có ý nghĩa cấp thiết về lí lận và thực tiễn.
Nguyễn Thị Phúc
6
K34 GDCD- GDQP
Khoá luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục chính trị
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở nước ta trong những năm gần đây, những nội dung liên quan đến quan
điểm giai cấp và đtrgc trong thời kì quá độ lên CNXH đã được nhiều tập thể và
tác giả quan tâm nghiên cứu. Ở những góc độ, khía cạnh khác nhau các tác giả
đã cho ra mắt bạn đọc các công trình nghiên cứu của mình dưới nhiều hình thức
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
* Mục đích
Trên cơ sở lí luận và khẳng định những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa
Mác - Lê Nin về giai cấp, đtrgc trong thời kì quá độ lên CNXH ở Việt Nam, nêu
lên tính tất yếu cũng như thực trạng của cuộc đtrgc từ đó đề xuất một số hướng
giải pháp cơ bản nhằm thực hiện thắng lợi cuộc đtrgc trong thời kì quá độ lên
CNXH ở Việt Nam.
* Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nêu trên, khoá lụân tập trung thực hiện những
nhiệm vụ sau:
Khẳng định giá trị khoa học và ý nghĩa của học thuyết giai cấp và đtrgc
chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời kì quá độ.
Nêu lên thực trạng và các giải pháp cơ bản nhằm thực hiện thắng lợi cuộc
đtrgc trong điều kiện mới hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng.
Đtrgc trong thời kì quá độ lên CNXH ở Việt Nam hiện nay.
* Phạm vi nghiên cứu.
Phạm vi nghiên cứu về không gian: Nghiên cứu cuộc đtrgc trong thời kì
quá độ lên CNXH ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Nghiên cứu cuộc đtrgc trong thời kì quá
độ.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận triết học Mác xít, quan điểm đổi mới của
Đảng, khoá luận sử dụng kết hợp các phương pháp trong quá trình nghiên cứu
Nguyễn Thị Phúc
8
Khoá luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục chính trị
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ GIAI CẤP, ĐẤU TRANH
GIAI CẤP TRONG THỜI KÌ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
1.1. Một số quan niệm về giai cấp, đấu tranh giai cấp
1.1.1. Các quan niệm ngoài Mác xít về giai cấp, đấu tranh giai cấp
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, những quan điểm về giai cấp và đtrgc
được hình thành từ rất sớm. Ngay từ thời kì cổ đại, trong học thuyết của mình,
các nhà tư tưởng đã phản ánh tình trạng xã hội phân chia thành giai cấp và đtrgc.
Ở Trung Quốc, từ thiên niên kỉ thứ hai trước công nguyên, đã hình thành
xã hội chiếm hữu nô lệ. Vào thời chiến quốc (Thế kỉ V- III trước công nguyên)
trong cuốn "Quản tử" tác giả đã thừa nhận việc phân chia xã hội thành đẳng cấp
và chỉ rõ "sĩ, nông, công, thương" là cơ sở tồn tại của Nhà nước. Nhà tư tưởng
lớn của Trung Quốc là Khổng Tử cũng đã đưa ra học thuyết bảo vệ lợi ích của
giới quý tộc. Ông cho rằng, người quân tử và kẻ tiểu nhân là những hạng người
có địa vị và nhân cách khác nhau. Người quân tử có quyền lực lớn kẻ tiểu nhân
là người hèn kém, luôn phải phục tùng quyền lực của người quân tử.... giữa
người quân tử và kẻ tiểu nhân phải có sự cách biệt nếu không thì sẽ loạn. Ông
nói "Nếu xoá bỏ sự cách biệt giữa quý tộc và thường dân thì lúc đó làm thế nào
để chứng tỏ uy tín và sự cao quý của người quý tộc. Hơn nữa lúc đó quốc gia sẽ
ra sao nếu không có sự phân biệt giữa người quyền quý và kẻ dân thường" [6,
tr.58].
Nhà tư tưởng Lão Tử (Thế kỉ VI- V trước công nguyên) đã có tư tưởng
bảo vệ lợi ích của những người nông dân bị phá sản chống lại quyền lực của vua
chúa quý tộc. Cuốn "Đạo đức kinh" được các đệ tử của ông soạn thảo vào thế kỷ
thứ IV - III TCN đã thể hiện rõ. Ông lên án chế độ thuế khoá nặng nề, sự áp bức,
Theo Platôn xã hội cần phải duy trì các hạng người khác nhau do đó
không thể có sự hoàn toàn bình đẳng giữa mọi người. Platôn bảo vệ quyền thống
trị của tầng lớp quý tộc, chủ nô, mặt khác cũng thừa nhận sở hữu tư nhân là
nguồn gốc sinh ra sự phân cực quá lớn về tài sản và muốn xoá bỏ sở hữu tư
nhân.
Sau Platôn là Arixtôt (384- 322 trước công nguyên). Với tác phẩm "Chính
trị và chính thể Aten" của mình. Ông thừa nhận trong xã hội có một loại người
Nguyễn Thị Phúc
11
K34 GDCD- GDQP
Khoá luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục chính trị
cầm quyền, thống trị và một loại người là kẻ bị trị và nô lệ. Chế độ nô lệ đó là
nền tảng, điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của nhà nước.
Như vậy, ngay từ thời kì cổ đại ở Trung Quốc và Hy Lạp đã xuất hiện
những tư tưởng phản ánh về sự phân chia xã hội thành giai cấp và cuộc đấu tranh
giữa các giai cấp... Các tư tưởng này còn đơn giản chưa tạo ra được một định
nghĩa khái quát về giai cấp mà chỉ thừa nhận giai cấp là những loại người có
quyền lực, có địa vị và chức năng khác nhau. Và cũng cho rằng nguồn gốc của
sự phân chia các hạng người đó là do trời, tự nhiên quy định hoặc do thượng đế
thần thánh mà chưa thấy giai cấp có nguồn gốc từ đời sống kinh tế xã hội, chưa
thấy được tính lịch sử của giai cấp.
Khi CNTB bắt đầu hình thành cuộc đấu tranh giữa giai cấp tư sản và giai
những người hữu sản.
Tuy nhiên công lao lớn nhất trong việc phát hiện ra giai cấp và đtrgc lại
thuộc về những nhà sử học Pháp: G.Phrăng xoa ghi đô (1778-1875),Ô guyt
xtanh Chiery (1795-1856), Phrăng xoa min hê (1796-1884).
Các nhà sử học Pháp đã đưa ra những suy đoán sâu sắc về sự phân chia
giai cấp và xem đtrgc là nội dung chủ yếu của lịch sử mặc dù họ chưa hiểu một
cách khoa học về giai cấp và đtrgc.
Theo họ, những sự thay đổi về quan hệ tài sản chủ yếu là quan hệ về ruộng
đất đã dẫn tới mối quan hệ giai cấp mới và sự thay đổi về chế độ chính trị. Đồng
thời họ cho rằng, sự hình thành giai cấp và Nhà nước là dựa trên cơ sở chinh
phục bằng vũ lực và sự tan rã của xã hội cũ.
Lịch sử đã nghi nhận công lao phát hiện ra những vấn đề giai cấp và đtrgc
của các học giả tư sản. Điều này đã được Mác đánh giá "Tôi không có công tìm
ra sự tồn tại của giai cấp trong xã hội hiện đại cũng như cuộc đấu tranh giữa các
giai cấp đó. Những nhà viết sử đã mô tả sự phát triển lịch sử của các cuộc đtrgc
và các nhà kinh tế tư sản đã mô tả kết cấu kinh tế từ trước tôi rất lâu [9, tr.661662].
Học thuyết về giai cấp và đtrgc của chủ nghĩa Mác - Lê Nin vạch ra tính
tất yếu của cuộc đtrgc giữa vô sản và tư sản đồng thời khẳng định tính tất yếu
của chuyên chính vô sản. Chính vì vậy ngày nay các đại biểu tư tưởng của giai
Nguyễn Thị Phúc
13
K34 GDCD- GDQP
Khoá luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục chính trị
K34 GDCD- GDQP
Khoá luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục chính trị
Tất cả những quan điểm trên đều trái với quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê Nin, đều nhằm phản bác lại lí luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin về giai cấp và
đtrgc.
Trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế cũng đã xuất hiện những
quan điểm sai lầm về đtrgc.
Quan điểm "hữu khuynh" (như Cauxky, Becxtanh... ) tuy thừa nhận cở sở
kinh tế của giai cấp nhưng lại muốn dùng phương pháp cải lương để giải quyết
mâu thuẫn giai cấp. Họ nhấn mạnh và tuyệt đối hoá đấu tranh kinh tế, lẩn tránh
mục tiêu chính trị và cách mạng xã hội. Theo họ mục tiêu đtrgc chỉ là cải cách
điều kiện làm việc để cải thiện đời sống của công nhân dưới chế độ tư bản, điều
hoà lợi ích giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản.
Trái với quan điểm "hữu khuynh" quan điểm "tả khuynh" thực chất là đầu
óc cách mạng tư sản, tương tự như chủ nghĩa vô chính phủ, xa rời những điều
kiện và yêu cầu tất yếu của cuộc đtrgc triệt để của giai cấp vô sản. Những người
theo quan điểm tả khuynh nêu các khẩu hiệu cách mạng cực đoan để lợi dụng
tình cảm của quần chúng, che dấu bản chất chủ nghĩa cơ hội của nình. Họ luôn
chủ quan trong việc đánh giá các sự kiện muốn bỏ qua những bước quá độ,
những biện pháp mềm dẻo do vậy đẩy phong trào đến chỗ phưu lưu mạo hiểm.
Chủ nghĩa cơ hội "tả khuynh" "hữu khuynh" đều trái với quan điểm cơ
bản của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, đều là những căn bệnh nghiêm trọng có thể gây
tổn thương nghiêm trọng cho phong trào cách mạng. Chính vì vậy nhận thức
đúng đắn lí luận giai cấp và đtrgc của chủ nghĩa Mác- Lê Nin, hiểu đúng đắn đặc
điểm giai cấp và đtrgc trong cuộc đấu tranh mới hiện nay là yêu cầu lí luận và
thực tiễn cấp bách.
nghĩa nổi tiếng về giai cấp: "Người ta gọi giai cấp là những tập đoàn to lớn, gồm
những người khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất
định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ (thường thì những quan hệ này
được pháp luật quy định và thừa nhận) đối với tư liệu sản xuất, và về vai trò của
họ trong tổ chức lao động xã hội và như vậy là khác nhau về cách thức hưởng
thụ và về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng. Giai cấp là những
tập đoàn người to lớn mà tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn
khác do chỗ các tập đoàn có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế xã hội
nhất định" [12, tr.17-18].
Định nghĩa trên của V.I. Lê Nin, đã cho thấy những tiêu chuẩn cụ thể để
xác định các giai cấp khác nhau đồng thời cũng xác định rõ: Trong tất cả các xã
hội có giai cấp đối kháng, quan hệ giữa các giai cấp cơ bản là quan hệ giữa giai
cấp bóc lột và bị bóc lột.
Nguyễn Thị Phúc
17
K34 GDCD- GDQP
Khoá luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục chính trị
Xuất phát từ những quan điểm duy vật về giai cấp như trên, các nhà kinh
điển của chủ nghĩa Mác - Lê Nin đã phân tích toàn bộ sự phát sinh phát triển của
giai cấp trong các giai đoạn lịch sử khác nhau và cho rằng thực chất mối quan hệ
giữa chúng như : chủ nô và nô lệ, địa chủ và nông nô, tư sản và vô sản là quan hệ
bóc lột và bị bóc lột.
K34 GDCD- GDQP
Khoá luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục chính trị
Vì vậy không được tuyệt đối hoá đtrgc coi đtrgc là động lực duy nhất phát triển
xã hội và lấy đtrgc giải thích mọi hiện tượng xã hội.
CNTB trong thời đại ngày nay, đtrgc vẫn là tất yếu, là động lực phát triển
xã hội. Mặc dù giai cấp tư sản đã tận dụng, khai thác triệt để những thành tựu
mới nhất của khoa học công nghệ vào sản xuất. Đời sống của một bộ phận giai
cấp công nhân được cải thiện. Mặc dù vậy mâu thuẫn cơ bản của CNTB vẫn
không hề thay đổi và diễn ra quyết liệt. Đó là cuộc đấu tranh đòi giảm giờ làm,
đòi cải thiện điều kiện làm việc, đòi tăng lương của giai cấp vô sản chống lại mọi
hình thức áp bức bóc lột của giai cấp tư sản.
1.2. Quan điểm về thời kì quá độ lên Chủ Nghĩa Xã Hội
Trong tác phẩm "Hệ tư tưởng Đức" C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng:
Đối với mỗi chúng ta CNCS không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo ra,
không phải là một lí tưởng mà xã hội phải khuôn theo. Chúng ta gọi CNCS là
một phong trào hiện thực nó xoá bỏ trạng thái hịên nay. Các nhà sáng lập chủ
nghĩa Mác - Lê Nin chỉ ra rằng: Bước chuyển biến từ xã hội trước lên xã hội sau,
dù nhảy vọt hay tuần tự đều tất yếu phải trải qua một thời kì trung gian quá độ.
C.Mác và Ph.Ăngghen khi nghiên cứu về quá trình chuyển biến từ CNTB
lên CNXH ở các nước tư bản Tây Âu, nơi có nền kinh tế - xã hội phát triển đã
khẳng định "Giữa xã hội TBCN và xã hội CSCN là một thời kì cải biến cách
mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia. Thích ứng với thời kì ấy là một thời kì quá độ
chính trị và Nhà nước của thời kì ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên
chính cách mạng của giai cấp vô sản" [8, tr.97]. "Thời kì ấy không thể nào lại
nước công nghiệp tiên tiến đã làm cách mạng XHCN thành công. Bên cạnh đó
cần có sự lãnh đạo của chính Đảng vô sản kiên trì đưa đất nước đi theo con
đường XHCN.
* Việt Nam sau khi hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đã
bước ngay vào thời kì quá độ xây dựng CNXH, bỏ qua chế độ TBCN. Qúa độ
lên CNXH ở nước ta diễn ra trong điều kiện kinh tế xã hội đặc thù.
Trước 1945 Việt Nam vốn là một nước thuộc địa nửa phong kiến. Nền sản
xuất lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, công nghiệp nhỏ bé, 80% dân số
là nông dân, lực lượng sản xuất còn ở trình độ thấp.
Nguyễn Thị Phúc
21
K34 GDCD- GDQP
Khoá luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục chính trị
Sau năm 1975 nền sản xuất ở nước ta chủ yếu là sản xuất nhỏ. Qúa độ lên
chủ nghĩa xã hội ở nước ta không phải là quá độ trực tiếp mà là bước quá độ gián
tiếp từ sản xuất nhỏ bỏ qua TBCN lên CNXH.
Đặc điểm đó quy định bước đi hình thức của thời kì quá độ. Từ sau Đại
hội VI (Tháng 12- 1986) đến nay Đảng ta chủ trương thực hiện nhất quán chính
cách kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước theo định hướng XHCN. Từ đó hình thành cơ cấu kinh tế nhiều thành
phần như một tất yếu khách quan. Đại hội X của Đảng (Tháng 4- 2006) đã xác
định nước ta có năm thành phần kinh tế đó là: Kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể,
kì qúa độ từ CNTB lên CNXH và chỉ kết thúc khi xã hội không còn có giai cấp,
CNXH và CNCS thực sự thắng lợi trên phạm vi thế giới. Tuy nhiên, ở những
nước khác nhau và trong những điều kiện lịch sử khác nhau, nội dung và hình
thức của đtrgc cũng khác nhau. Vì vậy vận dụng lí luận giai cấp và đtrgc phải hết
sức linh hoạt, không giáo điều máy móc.
* Ở Việt Nam trong thời kì quá độ, ngoài các giai cấp cơ bản là: công
nhân, nông dân, tư sản còn các tầng lớp trí thức, tiểu thương, tiểu chủ. Các giai
cấp, tầng lớp không tồn tại riêng biệt mà đan xen ảnh hưởng lẫn nhau, cạnh tranh
với nhau.
Giai cấp công nhân là giai cấp trung tâm trong thời kì qúa độ nên nhiệm
vụ của giai cấp công nhân là người tổ chức, lãnh đạo, xây dựng một xã hội mới
trên tất cả các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hoá.... Bước vào thời kì thực hiện
nền kinh tế nhiều thành phần, giai cấp công nhân không ngừng lớn mạnh có
khoảng 5 triệu người.
Giai cấp nông dân Việt Nam chiếm 80% dân số. Họ được giải phóng khỏi
ách áp bức bóc lột của địa chủ, phong kiến và tư bản trở thành bạn đồng minh
của giai cấp công nhân trong cách mạng XHCN. Nhưng họ ít nhiều có khuynh
hướng tự phát TBCN.
Tầng lớp trí thức XHCN có vai trò, cống hiến to lớn trong sự nghiệp xây
dựng CNXH, họ trưởng thành nhanh chóng về số lượng và chất lượng. Hiện nay
cả nước có 150 vạn cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học.
Giai cấp tư sản nước ta trong cách mạng XHCN đã bị đánh đổ nhưng chưa
tiêu diệt hoàn toàn, hiện nay nó phát triển khá nhanh. V.I Lê Nin cho rằng:
Nguyễn Thị Phúc
23
K34 GDCD- GDQP