1
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Nguyễn Thị Tƣơi
Sinh viên lớp: K34 GDTC- GDQP
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu, kết
quả trong đề tài là trung thực và không trùng với bất cứ đề tài nào đã nghiên
cứu ở trường THPT Nam Sách- Hải Dương. Toàn bộ những vấn đề được
nghiên cứu đều mang tính khách quan và đúng với thực tế trường THPT Nam
Sách- Hải Dương.
Hà Nội, ngày… tháng…năm 2012
Sinh viên
Nguyễn Thị Tƣơi
2
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ĐC
: Đối chứng
LLTT
: Lưu lượng tâm thu
LLP
VĐV
: Vận động viên
HLV
: Huấn luyện viên
S
: Giây
QN
: Quãng nghỉ
GDTC
: Giáo dục thể chất
“
: Giây
„
: Phút
KT
Bảng 3.4. Nội dung bài tập phát triển sức bền chuyên môn
4
5
6
7
8
của VĐV chạy 800m.
Bảng 3.5. Lựa chọn test đánh giá sức bền chuyên môn.
Bảng 3.6. Xác định mối tương quan giữa các test với
thànhtích chạy 800m.
Bảng 3.7. Kết quả thành tích của 2 nhóm TN và ĐC trước
thực nghiệm(n= 20)
Bảng 3.8. Kết quả hệ số sức bền của cả 2 nhóm trước và sau
thực nghiệm (nA=nB=10)
26
28
28
29
32
9
Biểu đồ 3.1: Biểu diễn kết quả test chạy 100m(s)
1.2. Cơ sở lý luận của sức bền.
5
1.3. Cơ sở sinh lý của việc phát triển sức bền chuyên môn.
7
1.4. Ý nghĩa của việc phát triển sức bền chuyên môn trong chạy 800m
9
với việc nâng cao thành tích.
1.5. Những phương pháp huấn luyện sức bền.
10
1.6. Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 16 – 18.
14
CHƢƠNG 2. NHIỆM VỤ - PHƢƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC 18
NGHIÊN CỨU
2.1. Nhiệm vụ nghiên cứu.
18
2.2. Phương pháp nghiên cứu.
2.3.1. Thời gian nghiên cứu.
20
2.3.2. Đối tượng nghiên cứu.
21
2.3.3.Địa điểm nghiên cứu.
21
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN
5
CỨU
22
3.1. Thực trạng công tác giảng dạy và huấn luyện sức bền chuyên môn 22
cho đội tuyển Điền kinh trường THPT Nam Sách – Hải Dương.
3.1.1. Về tài liệu giảng dạy, cơ sở vật chất đảm bảo cho huấn luyện.
22
3.1.2 Thực trạng về các bài tập được sử dụng trong huấn luyện sức bền 22
chuyên môn của học sinh nữ trường THPT Nam Sách – Hải Dương.
3.1.3. Thực trạng về đội ngũ giảng dạy bộ môn thể dục
6
Phụ lục 1
PHIẾU PHỎNGVẤN
Kính gửi:Thầy(cô):.................................................................................
Đơn vị công tác:......................................................................................
Thâm niên công tác:................................................................................
Để góp phần nâng cao hiệu quả công tác giảng dạy và huấn luyện đặc
biệt là để xây dựng hệ thống bài tập nhằm phát triển sức bền chuyên môn cho
đội tuyển Điền kinh nữ trong chạy 800m trường THPT Nam Sách- Hải
Dương xin thầy cô vui lòng bớt chút thời gian trả lời những câu hỏi sau đây
của chúng em. Chúng em hy vọng rằng với kinh nghiệm và sự hiểu biết của
thầy cô sẽ giúp chúng em tìm hiểu rõ hơn về thực trạng các bài tập nhằm phát
triển sức bền chuyên môn cho các em.
Câu 1: Theo thầy( cô ) các bài tập nào sau đây có tác dụng quan
trọng trong huấn luyện học sinh nữ trong chạy 800m của đội tuyển Điền
kinh trƣờng nhằm nâng cao thành tích chạy 800m.
Cách trả lời: Bài tập nào thầy (cô ) đồng ý thì xin thầy(cô ) đánh dấu X
vào
Bài tập 1: Các bài tập hỗn hợp (600m, 400m, 200m, 100m).
+ Yêu cầu chạy 400m, 600m là 80% tốc độ tối đa.
+ Chạy 200m, 100m là 85% tốc độ tối đa.
+ Nghỉ giữa các lần là 3 - 5 phút, giữa các tổ là 10 phút.
+ Mục đích: Phát triển sức bền yếm khí.
Bài tập 2: Chạy 600m.
+ Yêu cầu chạy 80% tốc độ tối đa.
7
8
Bài tập 9: Chạy việt giã 1km - 2km.
+ Yêu cầu: Chạy 75% - 80% tốc độ tối đa.
+ Mục đích: Phát triển khả năng ưa khí.
Bài tập 10: Bài tập chạy biến tốc (300m nhanh, 200m chậm)
2 tổ x 4 lần.
+ Yêu cầu: Đoạn nhanh chạy tốc độ 80% tốc độ tối đa, với đoạn chạy
chậm hít thở sâu, nâng cao trọng tâm, thời gian nghỉ giữa tổ 6 - 8 phút.
+ Mục đích: Nhằm nâng cao khả năng thích nghi của cơ thể đối với sự
thay đổi LVĐ, giáo dục khả năng ưa - yếm khí.
Bài tập 11: Bài tập lặp lại 400m x 3 lần.
+ Yêu cầu: Chạy 85% tốc độ tối đa, nghỉ giữa các lần là 6 - 8 phút.
+ Mục đích: Phát triển sức bền ưa yếm khí.
Bài tập 12: Chạy (200m nhanh, 100m chậm) 2 tổ x 6 lần.
+ Yêu cầu: Đoạn nhanh chạy 85% tốc độ tối đa, đoạn chậm hít thở sâu,
nâng trọng tâm, nghỉ giữa tổ là 6- 8 phút.
+ Mục đích: Phát triển sức bền ưa - yếm khí.
Bài tập 13: Chạy lặp lại 800m x 2 lần.
+ Yêu cầu: Chạy 100% tốc độ tối đa, thời gian nghỉ 15 phút.
+ Mục đích: Tạo trạng thái thi đấu.
Bài tập 14: Nhảy lò cò
+ Yêu cầu: Nhảy hết sức
+ Mục đích: Phát triển sức nhanh và sức bền
Bài tập 15: Đánh tay, thở
+ Yêu cầu: Thực hiện đúng động tác đánh tay, thở nhịp nhàng
+ Mục đích: Giữ thăng bằng cho cơ thể và tăng tấn số bước chạy.
Bài tập 16: Chơi trò đuổi bắt
+ Yêu cầu: Đuổi bắt phải đúng luật
Theo thầy( cô ) các test nào sau đây có tác dụng quan trọng trong
huấn luyện học sinh nữ trong chạy 800m của đội tuyển Điền kinh trƣờng
nhằm nâng cao thành tích chạy 800m.
Cách trả lời: Test nào thầy (cô ) đồng ý thì xin thầy(cô ) đánh dấu X vào
Test 1: 100m
Bài tập 2: 400m
Bài tập 3: 800m
Xin trân trọng cảm ơn thầy(cô )!
Ngƣời lập phiếu
Nguyễn Thị Tƣơi
11
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trên thế giới, môn Điền kinh đã xuất hiện và thu hút được sự quan tâm
của nhiều người. Bắt nguồn từ những hoạt động quen thuộc của con người
như: Leo trèo, chạy nhảy, săn bắt….Theo thời gian, môn Điền kinh ngày càng
phát triển và hoàn thiện hơn.
Việt Nam là một nước đang có nền kinh tế phát triển rất cao, đi đôi với
việc phát triển kinh tế, nhà nước đã tạo điều kiện cho sự phát triển về TDTT
trong đó có môn Điền kinh - môn thể thao đã có nhiều VĐV tham gia vào các
kỳ Olympic, Seagame, Á vận hội và đạt nhiều thành tích xuất sắc như: Bùi
Thị Nhung, Vũ Thị Hương, Trương Thanh Hằng, Nguyễn Đình Cường…
Nhưng để đạt được những thành tích đó là nhờ sự nỗ lực cố gắng hết mình
của các VĐV, sự quan tâm đúng đắn của Đảng và Nhà nước cùng với sự phấn
đấu hết mình của đội ngũ cán bộ, giáo viên, học sinh trong các trường trung
học.
Phù Đổng do huyện và tỉnh tổ chức.
Nghiên cứu nhằm nâng cao thành tích môn Điền kinh là một vấn đề
khá phổ biến trong các đề tài làm khoá luận tốt nghiệp của sinh viên ngành
GDTC. Ở nội dung cự ly trung bình, trong đó có nội dung về chạy cự ly 800m
đã có tác giả chọn làm đề tài nghiên cứu khoa học như Doãn Thị Oanh với đề
tài: “Lựa chọn bài tập phát triển sức bền tốc độ nhằm nâng cao thành tích chạy
800m cho nữ vận động viên đội tuyển Điền kinh trường THPT Khoái Châu –
Hưng Yên” - năm 2011 - Thư viện trường ĐHSPHN 2. Từ đề tài nghiên cứu
đó chúng tôi tiếp tục nghiên cứu xây dựng các bài tập để có thể đưa ra được
bài tập và phương pháp phù hợp cho nội dung về sức bền chuyên môn phù
hợp với thực tiễn của từng đối tượng trong các trường phổ thông để có thể đạt
kết quả tốt nhất.
13
Xuất phát từ những vấn đề trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
" Lựa chọn bài tập phát triển sức bền chuyên môn trong chạy 800m
cho đội tuyển Điền kinh nữ trường THPT Nam Sách – Hải Dương".
Mục đích nghiên cứu :
Tìm ra các bài tập nhằm phát triển sức bền chuyên môn cho đội tuyển
Điền kinh nữ trong chạy 800m qua đó giúp đánh giá được tình trạng thể chất
của học sinh THPT, cũng như sự hợp lý để nâng cao thành tích chạy cho học
sinh THPT.
14
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
sức bền cần thiết để vượt qua một cự ly mà VĐV cần 2 phút đến nhiều giờ.
- Theo Anerextop Nhicop: Sức bền là khả năng hoạt động trong thời
gian dài [10].
- Theo quan điểm của Gunter Schanabel: Sức bền là tố chất thể lực
chống lại mệt mỏi trong LVĐ thể thao [6].
- Theo quan điểm của VX Pharophen cho rằng: Thời gian mà con người
có khả năng duy trì được cường độ hoạt động nhất định trước là một trong
những tiêu chuẩn đánh giá sức bền [12].
- Theo tiến sĩ Dietrch Harre thì: Sức bền là khả năng chống lại mệt mỏi
trong vận động với tốc độ gần tối đa và tối đa.
Theo ông thì sức bền được chia thành:
+ Sức bền trong thời gian ngắn ( 40" - 2' ).
+ Sức bền trong thời gian trung bình( 2' - 11' ).
+ Sức bền trong thời gian dài( 11' - nhiều giờ )[7].
- Theo Mat veep: Sức bền là cơ sở, là khả năng đối kháng lại của cơ thể
VĐV khi thực hiện LVĐ trong thời gian kéo dài. Sức bền là khả năng chống
lại mệt mỏi và duy trì hoạt động dài của VĐV [10].
- Theo quan điểm của Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn: Sức bền là
khả năng thực hiện một hoạt động với cường độ cho trước hay duy trì khả
năng hoạt động trong thời gian dài cơ thể chịu đựng được [5].
Sức bền không những là nhân tố ảnh hưởng và xác định lớn tới thành
tích thi đấu mà còn là nhân tố xác định kích thích tập luyện và khả năng chịu
đựng LVĐ của VĐV. Sức bền tốt cũng là điều kiện để hồi phục nhanh.
1.2. Cơ sở lý luận của sức bền:
16
Trong thể thao, sức bền được hiểu là năng lực của cơ thể chống lại mệt
mỏi trong một hoạt động nào đó, sức bền đảm bảo cho VĐV đạt được một
Để hoạt động mang tính tuần tự cao trên cơ sở phát triển sức bền
chuyên môn chúng tôi dựa trên các yếu tố sau:
+ Cường độ bài tập.
+ Thời gian thực hiện bài tập.
+ Thời gian nghỉ giữa quãng.
+ Tính chất nghỉ ngơi.
+ Số lần lặp lại.
Các yếu tố này có ý nghĩa rất lớn và có mối quan hệ mật thiết bổ sung
cho nhau trong quá trình huấn luyện. Nếu thay đổi các yếu tố trên thì cơ thể sẽ
xuất hiện những biến đổi bất lợi từ đó giảm thành tích thể thao.
1.3. Cơ sở sinh lý của việc phát triển sức bền chuyên môn:
Sức bền chuyên môn trong chạy 800m phụ thuộc vào 2 yếu tố:
- Khả năng hấp thụ oxy tối đa (VO2 Max) của cơ thể.
- Khả năng duy trì lâu dài mức hấp thụ oxy cao.
Mức hấp thu oxy tối đa của người sẽ quy định khả năng làm việc trong
điều kiện ưa khí tối đa càng lớn, cơ thể thực hiện hoạt động ưa khí càng dễ
dàng và lâu hơn. Như vậy về bản chất thì sức bền là khả năng hấp thụ oxy tối
đa của cơ thể, khả năng này sẽ quyết định được bởi khả năng của 2 hệ thống
chức năng chính.
Theo Pharơphen: Các bài tập định lượng được chia thành 2 nhóm:
+ Nhóm các bài tập có chu kỳ.
+ Nhóm các bài tập không có chu kỳ[5].
Các bài tập trong nhóm phụ thuộc vào công suất, cường độ và các yếu
tố xử lý khác nhau của hoạt động với công suất tối đa, dưới tối đa, lớn và
trung bình.
Chạy 800m là cự ly không đòi hỏi tốc độ quá cao trên toàn cự ly như
các môn chạy ngắn, trong chạy 800m đòi hỏi VĐV phải có trình độ chuẩn bị
18
19
1.4. Ý nghĩa của việc phát triển sức bền chuyên môn trong chạy 800m
với việc nâng cao thành tích.
Huấn luyện sức bền nhằm nâng cao thành tích các môn Điền kinh nói
chung và chạy 800m nói riêng thì cần phải huấn luyện toàn diện cả sức bền
chuyên môn, bởi vì các tố chất sức bền có quan hệ mật thiết khăng khít với
nhau. Khi sức bền chung phát triển sẽ làm cơ sở cho sức bền chuyên môn phát
triển. Qua nghiên cứu, đánh giá thực tế các nhà lý luận chuyên ngành Điền
kinh khẳng định: Việc phát triển sức bền chuyên môn thực chất làm cho cơ
thể thích nghi dần với LVĐ ngày càng cao, nếu như không có sức bền chuyên
môn tốt thì khả năng chống lại ( khắc phục) trạng thái cực điểm sẽ yếu dần
dẫn đến VĐV không đạt thành tích cao. Hơn nữa việc phát triển sức bền
chuyên môn đòi hỏi người tập phải có sự nỗ lực ý trí lớn, sự kiên trì, chịu
đựng và chống lại những sự mệt mỏi, nhàm chán, đơn điệu của bài tập, hơn
nữa đòi hỏi người tập phải có sự tích luỹ, thích nghi dần và kéo dài liên tục
trong nhiều năm, không nên nôn nóng gò ép vì phát triển sức bền chuyên môn
không phải ngày một ngày hai là được. Chính vì vậy có thể khẳng định rằng
trong cự ly chạy 800m thì sức bền chuyên môn là yếu tố ảnh hưởng lớn tới
thành tích của VĐV.
Do vậy, các bài tập huấn luyện và giảng dạy sức bền chuyên môn được
sử dụng phải là các bài tập có khối lượng vận động lớn và tăng lên một cách
có hệ thống theo từng buổi tập, cường độ và các LVĐ này chỉ cao tới mức khi
năng lượng có thể sử dụng một cách rộng rãi nhất theo con đường oxy hoá.
Những bài tập này nhằm nâng cao khả năng thích ứng của cơ thể trong điều
kiện trao đổi chất đầy đủ dưỡng khí của cơ thể hoạt động với giai đoạn tập
luyện khác nhau của VĐV. Sinh viên, học sinh thì việc lựa chọn bài tập nhằm
phát triển sức bền chuyên môn là rất có ý nghĩa.
1.5. Những phƣơng pháp huấn luyện sức bền.
21
đoạn đầu của quá trình huấn luyện nâng cao sức bền, đặc điểm của phương
pháp này là thực hiện bài tập liên tục, không có nghỉ giữa quãng, với mức độ
gần tới hạn, và thời gian tập luyện tương đối dài, với phương pháp này khả
năng phối hợp hoạt động của các hệ thống bảo đảm việc hấp thụ oxy được
nâng nên ngay trong quá trình vận động, đồng thời bài tập có thể đạt hiệu quả
cao do chúng tác động lên cơ thể trong thời gian tương đối lâu. Thời gian bài
tập dài (10' - 12') đối với những VĐV cấp cao có thể từ 1h - 1h30'.
Phương pháp lặp lại( gọi là phương pháp giãn cách) và phương pháp
biến đổi được áp dụng để phát triển sức bền là phương pháp dựa trên những
bài tập yếm khí (tức là với tốc độ trên tới hạn) và thời gian mỗi lần thực hiện
bài tập tương đối ngắn, những quãng nghỉ giữa (quãng giãn cách) có tính toán
kỹ lưỡng để phát huy tối đa khả năng ưa khí của cơ thể. Nếu bài tập được lặp
lại vào thời điểm mà các chỉ số tuần hoàn và hô hấp đang ở mức độ tương đối
cao thì mức hấp thụ oxy sẽ tăng dần đến mức tối đa và nhiều trường hợp tăng
cao cả mức hấp thụ oxy tối đa vốn có của VĐV. Như vậy, tác động của bài
tập diễn ra chủ yếu là trong thời gian giãn cách giữa các lần lặp lại, tức là mức
hấp thụ oxy cao nhất đạt được vào lúc nghỉ giữa quãng, chứ không phải trong
lúc thực hiện bài tập.
Qua đó có thể thấy tác động của bài tập chủ yếu diễn ra trong thời gian
giãn cách giữa các lần lặp lại của bài tập thường có cấu trúc các thành phần
của lượng như nhau:
+ Cường độ hoạt động (tốc độ di chuyển) cao hơn mức tới hạn, tức là
vào khoảng 75% - 80% tốc độ tối đa sao cho cuối mỗi lần lặp lại tần số mạch
đạt xấp xỉ 180 lần/ phút (đây là tần số nhịp tim có hiệu suất cao nhất).
+ Độ dài cự ly, phải được lựa chọn sao cho thời gian thực hiện không
quá 1' - 1.5' để cơ thể hoạt động trong điều kiện đủ oxy, từ đó làm cho cơ thể
cung cấp năng lượng yếm khí:
+ Cường độ bài tập (tốc độ bài tập) gần tốc độ tối đa hoặc thấp hơn một
chút (90%) tốc độ này không ảnh hưởng đến trao đổi chất, tạo điều kiện kiểm
tra kỹ thuật bài tập và tránh hiện tượng" Hàng rào tốc độ".
+ Thời gian bài tập: Chỉ giới hạn từ 3" - 8", sở dĩ như vậy là do dự trữ
23
photpho Creatin trong cơ rất ít, sự phân huỷ hợp chất này chỉ diễn ra trong
thời vài giây (3" - 8") sau khi bắt đầu hoạt động.
+ Thời gian nghỉ giữa quãng: Từ 2' - 3' đó cũng là thời gian đủ để hồi
phục photpho Creatin không tạo ra Axit Lactic lên tốc độ trả nợ oxy diễn ra
quá nhanh. Nhưng do dự trữ CP trong cơ quá ít, chỉ sau 3 - 4 lần lặp lại thì
hoạt động của cơ chế Glucophân tăng lên, còn cơ chế photpho Creatin giảm
đi. Để khắc phục hiện tượng này, người ta chia bài tập thành 2 đến 3 nhóm,
mỗi nhóm 3 - 5 lần lặp lại, thời gian nghỉ giữa các nhóm là 7'- 10'.
+ Cần sử dụng hình thức nghỉ ngơi tích cực, nhất là trong thời gian nghỉ
giữa các nhóm, như đi bộ, bơi thả lỏng... Ngay sau mỗi lần lặp lại, sau đó có
thể nghỉ ngơi thoải mái để cho cơ thể trở về trạng thái tương đối tĩnh ban đầu.
+ Số lần lặp lại: Tuỳ thuộc vào trình độ tập luyện của VĐV, sao cho tốc
độ không bị giảm.
- Để hoàn thiện cơ chế Glucophân: Tức là khả năng yếm khí của cơ thể.
+ Cường độ vận động( tốc độ di chuyển) 90% - 95% xấp xỉ tốc độ tối
đa ở các cự ly tương ứng được sử dụng. Sau mỗi lần lặp lại chỉ số tốc độ tuyệt
đối có thể giảm đi một ít, nhưng vẫn được coi là xấp xỉ tốc độ tối đa trong
trạng thái hiện có của cơ thể.
+ Thời gian mỗi lần lặp lại có thể từ 20"- 2'.
+ Thời gian nghỉ ngơi được giảm dần sau mỗi lần lặp lại. Giữa lần 1 và
lần 2 là từ 5'- 8', lần 2 và lần3 là từ 3' - 4'.
- Lứa tuổi: Có ảnh hưởng nhất định về thể tích tâm thu và thể tích phút
tối đa. Thể tích tâm thu dao động trong khoảng từ 120 - 140ml. Thể tích phút
dao động trong khoảng 24 - 28l/ phút, lưu lượng tâm thu ở VĐV nữ tăng tới
160ml trong khi người bình thường từ 60 -70ml/ 1 lần tâm thu.
Lưu lượng này phụ thuộc vào lượng máu tĩnh mạch trở về tim và kích
thước buồng tim, phụ thuộc vào lực bóp của tâm thất, lượng máu đọng trong
buồng tim, lứa tuổi, giới tính và trình độ huấn luyện.
25
Lưu lượng phút đạt giá trị tối đa khi hoạt động thể thao là 32 - 34lần/
phút (thực tế thì không bao giờ đạt giá trị này), lưu lượng phút được tính theo
công thức:
LLP =LLTT x TSM
Trong đó:
LLP : Lưu lượng phút
LLTT: Lưu lượng tâm thu
TSM : Tần số mạch
Như vậy: Lưu lượng phút của tim phụ thuộc vào lưu lượng tâm thu và
tần số mạch. Nếu nhịp tim đạt giá trị tối đa thì lưu lượng phút sẽ giảm bởi vì:
Nhịp tim tăng thì thời gian của một chu chuyển tim sẽ giảm, một chu
chuyển tim kéo dài 0.8" gồm 3 thời kỳ: Tâm nhĩ thu, tâm thất thu và tâm
trương toàn bộ do đó khi nhịp tim tăng, thì thời gian của thời kỳ tâm trương
của một chu chuyển tim bị giảm.
Trong hoạt động TDTT với sự thay đổi thời gian của từng chu chuyển
tim thì thời gian cả hai thời kỳ đều được rút ngắn hơn thời kỳ tâm trương, bởi
vì lượng máu được nạp vào tim nhiều hơn.
Huyết áp tăng dần cùng với lứa tuổi, ở lứa tuổi này huyết áp khoảng
100 - 110mmHg, huyết áp tối thiểu tăng 80 - 95 mmHg, hoạt động thể lực làm