ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------
MAI THÚC ĐỊNH
NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ
CHẤT LƢỢNG SẢN PHẨM Ở
CÔNG TY CỔ PHẦN BAO BÌ PP HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – Năm 2015
ơ
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------
MAI THÚC ĐỊNH
NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ
CHẤT LƢỢNG SẢN PHẨM Ở
CÔNG TY CỔ PHẦN BAO BÌ PP HẢI PHÒNG
Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh
Mã số: 60 34 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
1.1.3 Các nguyên tắc quản lý chất lƣợng
8
1.1.4. Chức năng của quản lý chất lƣợng
13
1.1.4.1. Cơ sở khoa học của quản lý chất lƣợng
13
1.1.4.2. Chức năng quản lý chất lƣợng
13
1.1.5. Vài trò và tính hiệu quả của quản lý chất lƣợng sản phẩm.
14
1.2. Nội dung cơ bản của quản lý chất lƣợng sản phẩm.
15
1.2.1. Những yêu cầu cơ bản của công tác quản lý chất lƣợng sản
15
phẩm.
1.2.3.4. Kiểm soát chất lƣợng toàn diện (Total Quality Control -
25
TQC)
1.2.3.5. Quản lý chất lƣợng toàn diện (Total Quality Management -
27
TQM)
1.2.4. Công tác kiểm tra, kiểm soát chất lƣợng sản phẩm.
28
1.2.4.1. Kiểm soát các yếu tố đầu vào của qúa trình sản xuất.
28
1.2.4.2. Kiểm soát quá trình sản xuất.
28
1.2.4.3. Kiểm soát chất lƣợng sản phẩm nhập kho.
29
1.2.4.4. Thực hiện không ngừng cải tiến chất lƣợng sản phẩm.
33
1.4.1. 7 công cụ đểgiải quyết vấn đề chất lƣợng
33
1.4.2. Tấn công não
35
1.4.3. Phƣơng pháp 5S
36
1.4.4. Kaizen
38
1.4.5. Mô hình Ishikawa ( mô hình xƣơng cá ).
40
1.4.6. Luật số lớn và nguyên lý khách quan, khoa học:
41
Chƣơng 2 : Phân tích thực trạng công tác quản lý chất lƣợng sản
42
55
2.3.3. Công tác chuẩn bị sản xuất
57
2.3.4. Kiểm tra, kiểm soát và đánh giá chất lƣợng sản phẩm trong
58
quá trình sản xuất.
2.3.5. Kiểm tra, kiểm soát chất lƣợng sản phẩm nhập kho.
60
2.3.6. Hệ thống thông tin phản hồi từ phía khách hàng.
61
2.3.7. Mối quan hệ các bộ phận trƣớc khi sản phẩm đƣợc nhập
62
kho.
2.3.8. Tay nghề ngƣời lao động.
63
Chƣơng 3- - Kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản
cơ bản của nền kinh tế thế giới. Từ xu thế này khiến cho hàng hoá tràn ngập thị
trường, các hàng hoá này có nguồn gốc từ rất nhiều nước khác nhau trên thế
giới. Đồng thời cùng với nó là sự xuất hiện của rất nhiều khối liên minh, liên
kết kinh tế ...Giữa các khối hay trong cùng một khối đều có những ưu đãi và
các quy định rõ ràng về sản phẩm xuất nhập khẩu hay nói cách khác là các quy
định về chất lượng sản phẩm đem ra trao đổi giữa các nước. Khi các công cụ
hạn ngạch, thuế quan đối với hàng nhập khẩu từ các nước đang bị bãi bỏ dần
thì để hạn chế hàng nhập khẩu các nước sử dụng công cụ quan trọng đó là tiêu
chuẩn về chất lượng sản phẩm. Các sản phẩm hiện nay đều có những tính năng
tiên tiến, hiện đại, kiểu dáng đa dạng, phong phú thì các doanh nghiệp sẽ cạnh
tranh với nhau bằng chất lượng sản phẩm. Chất lượng sản phẩm ngày càng giữ
vai trò quan trọng, là mục tiêu hướng tới của các doanh nghiệp nhằm nâng cao
năng lực cạnh tranh. Việt Nam đã gia nhập WTO và ngày càng hội nhập vào
nên kinh tế chung của thế giới đã mở ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp Việt
Nam nhằm nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế. Tuy nhiên cũng có
không ít thách thức với doanh nghiệp trong nước bởi các doanh nghiệp Việt
Nam hiện nay năng lực cạnh tranh còn chưa cao đòi hỏi các doanh nghiệp phải
tìm ra hướng đi đúng đắn để có thể hoà nhập vào nền kinh tế Thế giới với
những cạnh tranh gay gắt, khốc liệt.
Do đó tôi có chọn đề tài: “ Nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng sản
phẩm ở Công ty cổ phần Bao bì PP Hải Phòng
1
“ để làm luận văn thạc sĩ tốt
nghiệp.
Từ việc nghiên cứu quản lý chất lượng sản phẩm ở công ty cổ phần bao
bì PP Hải Phòng với phạm vị nghiên cứu là sản phẩm bao bì phục vụ đóng gói
cho ngành xi măng, hóa chất, phân bón, thức ăn gia súc, nông sản...thông qua
BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN THẠC SĨ GỒM 3 CHƢƠNG :
Chương 1 : Cơ sở lý luận về việc nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng sản
phẩm.
Chương 2 : Phân tích thực trạng công tác quản lý chất lượng sản phẩm bao
bì ở Công ty cổ phần bao bì PP Hải Phòng.
Chương 3 : Kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất
lượng sản phẩm ở Công ty Cổ phần bao bì PP Hải Phòng
3
Chƣơng 1 : Cơ sở lý luận về việc nâng cao hiệu quả quản lý chất lƣợng sản
phẩm.
1.1. Các khái niệm về chất lƣợng, quản lý chất lƣợng và vai trò của quản lý
chất lƣợng.
1.1.1. Khái niệm về chất lƣợng sản phẩm.
Khái niệm chất lượng đã xuất hiện từ lâu, ngày nay được sử dụng phổ
biến trong mọi lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh của con người. Tuy
nhiên, hiểu như thế nào là chất lượng sản phẩm lại là vấn đề không đơn giản.
Chất lượng sản phẩm là một phạm trù rất rộng và phức tạp, phản ánh tổng hợp
các nội dung kỹ thuật, kinh tế và xã hội.
Do tính phức tạp đó nên hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về chất
lượng sản phẩm. Đứng ở những góc độ khác nhau và tùy theo mục tiêu, nhiệm
vụ sản xuất kinh doanh có thể đưa ra những quan niệm về chất lượng xuất phát
từ sản phẩm, từ người sản xuất hay từ đòi hỏi của thị trường.
Theo quan niệm xuất phát từ sản phẩm cho rằng chất lượng sản phẩm
được phản ánh bởi các thuộc tính đặc trưng của sản phẩm đo. Quan niệm này
đã đồng nghĩa sản phẩm với số lượng các thuộc tính hữu ích của sản phẩm. Tuy
nhiên, sản phẩm có thể có nhiều thuộc tính hữu ích nhưng không được người
các doanh nghiệp tán đồng vì nó phản ánh đúng nhu cầu của người tiêu dùng,
giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu thỏa mãn khách hàng, đạt được thành
công trong kinh doanh.
Theo tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hóa ( ISO ) định nghĩa: “ Chất
lượng là mức độ thỏa mãn của một tập hợp các thuộc tính vốn có của một sản
phẩm, hệ thống hoặc quá trình đối với các yêu cầu của khách hàng và các bên
có liên quan ”. Yêu cầu là những nhu cầu hay mong đợi được nêu ra hay tiềm
ẩn. Định nghĩa này được chấp nhận một cách rộng rãi trong hoạt động kinh
doanh quốc tế hiện nay.
5
1.1.2. Khái niệm quản lý chất lƣợng.
Chất lượng không tự nhiên sinh ra và cũng không phải là một kết quả
ngẫu nhiên, nó là kết quả tác động của hàng loạt các yếu tố có liên quan chặt
chẽ với nhau. Muốn đạt được chất lượng mong muốn cần phải quản lý tốt các
yếu tố này. Hoạt động quản lý định hướng vào chất lượng được gọi là quản lý
chất lượng
Quản lý chất lượng là một khái niệm được phát triển và hoàn thiện liên
tục, thể hiện ngày càng đầy đủ hơn bản chất chất tổng hợp, phức tạp của vấn đề
chất lượng và phản ánh sự thích ứng với điều kiện và môi trường kinh doanh
mới.
Hiện nay, quản lý chất lượng đã mở rộng tới tất cả các hoạt động, từ sản
xuất đến cung cấp dịch vụ và trong toàn bộ chu trình sản phẩm. Có nhiều khái
niệm về quản lý chất lượng được đưa ra, tuy nhiên một khái niệm đầy đủ sẽ
phải đề cập đến những vấn đề cơ bản của quản lý chất lượng: Mục tiêu của
quan lý chất lượng là gì? Phạm vi bao trùm của nó và mối quan hệ với môi
trường bên ngoài như thế nào? Chức năng của quản lý chất lượng là gì? Nhiệm
vụ của quản lý chất lượng là gì? và quản lý bằng những phương tiên, biện pháp
hệ thống chính sách khuyến khích phát triển chất lượng và quy trình, trách
nhiệm.
Quản lý chất lượng được thực hiện trong suốt chu trình sống của sản
phẩm từ thiết kế, chế tạo đến sử dụng sản phẩm. Trách nhiệm cảu doanh nghiệp
không dừng lại ở khâu bán sản phẩm mà còn có trách nhiệm cả khi sản phẩm
đã đến tay khách hàng.
Quản lý chất lượng là một quá trình mang tính hệ thống, thể hiện sự gắn
bó chặt chẽ giữa bên trong và bên ngoài: Quản lý chất lượng tập trung trước
tiên vào quản trị quá trình, đảm bảo toàn bộ quá trình được kiểm soát. Các công
cụ thống kê được sử dụng rộng rãi để phát triển nguyên nhân và khắc phục
những vấn đề chất lượng.
7
Nhiệm vụ của quản lý chất lượng trong sản xuất là duy trì và cải tiến
chất lượng của doanh nghiệp nhằm đảm bảo chất lượng theo những tiêu chuẩn
đã được quy định (theo thiết kế, theo tiêu chuẩn ngành, quốc gia,...) và phải
đáp ứng ngày càng tốt hơn những đòi hỏi của khách hàng.
1.1.3. Các nguyên tắc quản lý chất lƣợng
Nguyên tắc 1: Định hƣớng vào khách hàng
Chất lượng sản phẩm và dịch vụdo khách hàng xem xét quyết định. Các
chỉ tiêu chất lượng sản phẩm và dịch vụmang lại giá trịcho khách hàng và làm
cho khách hàng thoảmãn và phải là trọng tâm của hệthống chất lượng. Chất
lượng định hướng vào khách hàng là một yếu tốchiến lược, dẫn tới khả năng
chiếm lĩnh thịtrường, duy trì và thu hút khách hàng, nó đòi hỏi phải luôn nhạy
cảm với yêu cầu của thị trường, nó cũng đòi hỏi ý thức phát triển công nghệ,
khả năng đáp ứng mau chóng và linh hoạt các yêu cầu của thị trường.
Theo nguyên tắc này, doanh nghiệp phải
- Hiểu nhu cầu và mong đợi của khách hàng;
- Thiết lập các mục tiêu kích thích;
- Thực hiện chiến lược và chính sách để đạt được mục tiêu này.
Nguyên tắc 3: Sựtham gia của mọi thành viên
Con người là nguồn lực quan trọng nhất của mọi doanh nghiệp và sự
tham gia đầy đủvới những hiểu biết và kinh nghiệm của họcó thể được sử dụng
cho lợi ích của của doanh nghiệp. Thành công trong cải tiến chất lượng, công
việc phụ thuộc rất nhiều vào kỹnăng, nhiệt tình hăng say trong công việc của
lực lượng lao động. Do đó những yếu tố liên quan đến vấn đềan toàn, phúc lợi
xã hội của mọi thành viên cần phải gắn với mục tiêu cải tiến liên tục và các
hoạt động của doanh nghiệp.
Khi được huy động đầy đủ, nhân viên sẽ
- Giám nhận công việc, nhận trách nhiệm đểgiải quyết các vấn đề;
- Tích cực tìm kiếm các cơhội đểcải tiến, nâng cao hiểu biết, kinh
9
nghiệm và truyền đạt trong nhóm;
- Tập trung nâng cao giá trịcho khách hàng;
- Đổi mới và sáng tạo đểnâng cao hơn các mục tiêu của doanh nghiệp;
- Giới thiệu doanh nghiệp cho khách hàng và cộng đồng;
- Thoả mãn nhiệt tình trong công việc và cảm thấy tự hào là thành viên
của doanh nghiệp;
Nguyên tắc 4: Phƣơng pháp quá trình
Kết quảmong muốn sẽ đạt được một cách hiệu quảkhi các nguồn và các
hoạt động được quản lý nhưmột quá trình. Quá trình là tập hợp các hoạt động
có liên quan với nhau hoặc tương tác để biến đổi đầu vào thành đầu ra. Lẽ dĩ
nhiên, đểquá trình có ý nghĩa, giá trịcủa đầu ra phải lớn hơn đầu vào, có nghĩa
là, quá trình làm gia tăng giá trị. Trong một doanh nghiệp, đầu vào của quá
trình này là đầu ra của một quá trình trước đó. Quản lý các hoạt động của một
Nguyên tắc 6: Cải tiến liên tục
Cải tiến liên tục là hoạt động lặp lại để nâng cao khả năng thực hiện các
yêu cầu.
Cải tiến liên tục là mục tiêu, đồng thời cũng là phương pháp của mọi
doanh nghiệp. Muốn có được khảnăng cạnh tranh và mức độchất lượng cao
nhất, doanh nghiệp liên tục cải tiến. Cách thức cải tiến cần phải “ bám chắc”
vào công việc của doanh nghiệp.
Để thực hiện cải tiến doanh nghiệp phải
- Cải tiến liên tục sản phẩm, quá trình và hệthống là mục tiêu của từng
người trong doanh nghiệp;
- Áp dụng các phương pháp cơbản của cải tiến từng bước và cải tiến lớn;
- Cải tiến liên tục hiệu quảvà hiệu suất của tất cảcác quá trình;
- Giáo dục và đào tạo cho các thành viên vềcác phương pháp và công cụ
cải tiến như
+ Chu trình PDCA
11
+ Kỹthuật giải quyết vấn đề
+ Đổi mới kỹthuật cho quá trình
+ Đổi mới quá trình
- Thiết lập các biện pháp và mục tiêu đểhướng dẫn cải tiến;
- Thừa nhận các cải tiến.
Nguyên tắc 7: Quyết định dựa trên sựkiện
Mọi quyết định và hành động của hệthống quản lý hoạt động kinh doanh
muốn có hiệu quảphải được xây dựng dựa trên việc phân tích dữliệu thông tin.
Việc đánh giá phải bắt nguồn từchiến lược của doanh nghiệp, các quá
trình quan trọng, các yếu tố đầu vào và kết quảcủa các quá trình đó.
Theo nguyên tắc này doanh nghiệp phải
Quản lý chất lượng là một quá trình thực hiện các biện pháp quản lý kinh
tế- kỹ thuật, hành chính xã hội, văn hoá tư tưởng...nhằm mục đích đảm bảo và
nâng cao chất lượng. Quản lý chất lượng một cách khoa học là điều kiện chủ
yếu để:
- Đảm bảo chất lượng, duy trì chất lượng trong suốt quá trình hình thành
và lưu thông sản phẩm,
- Trên cơ sở đảm bảo chất lượng, năng suất lao động nâng lên, năng lực
thực hiện kếhoạch sản xuất được đảm bảo,
- Khi chất lượng được đảm bảo góp phần hạn chếcác chi phí đem lại
hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp,
1.1.4.2. Chức năng quản lý chất lƣợng
Quản lý chất lượng phải được xem xét trên chu trình chất lượng, không
thể bỏsót hay xem nhẹ một khâu nào. Khái quát, quản lý chất lượng có các
chức năng
• Chức năng quy định chất lượng
Chức năng này thể hiện ở khâu điều tra nghiên cứu nhu cầu và thị trường
từ đó thiết kế, đềxuất mức chất lượng, hoặc quy định các điều kiện, tiêu chuẩn
13
kỹ thuật cụ thể để sản phẩm đáp ứng được nhu cầu và phù hợp với những định
chế.
• Chức năng quản lý chất lượng
Đây là chức năng chủyếu của quản lý chất lượng. Chức năng này thể
hiện tính xuyên suốt của quản lý quá trình tạo sản phẩm từ khâu nghiên cứu
thiết kế đến lưu thông phân phối sản phẩm.
• Chức năng đánh giá chất lượng
Chức năng này bao gồm đánh giá chất lượng trong từng khâu, từng bộ
phận cũng như chất lượng toàn phần của sản phẩm. Đây là chức năng quan
ích kinh tế - xã hội trên một đơn vị chi phí đầu vào, tiết kiệm tài nguyên, sức
lao động, tiền vốn và giảm ô nhiễm môi trường.
-
Nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ giảm được chi phí do giảm phế
phẩm, giảm công việc sửa chữa lại và khắc phục hậu quả do sản phẩm kém chất
lượng, sử dụng tốt hơn nguyên liệu, máy móc thiết bị...từ đó có thể mở rộng thị
trường, đảm bảo được việc làm và tăng thu nhập cho người lao động.
Quản lý chất lượng là bộ phận hợp thành của quản lý doanh nghiệp. Khi
nền kinh tế và sản xuất kinh doanh phát triển thì quản lý chất lượng càng đóng
vai trò qua trọng và trở thành nhiệm vụ cơ bản không thể thiếu được của doanh
nghiệp. Quản lý chất lượng làm cho chất lượng sản phẩm, dịch vụ thỏa mãn tốt
hơn nhu cầu của khách hàng hàng, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp. Quản lý chất lượng giúp doanh nghiệp xác định được
đúng hướng sản phẩm cần cải tiến, đổi mới để thỏa mãn, tốt hơn những mong
đợi của khách hàng cả về tính hữu ích và giá cả, tăng cường vị thế, uy tín trên
thị trường, tăng cường quản lý chất lượng giúp doanh nghiệp xác định đầu tư
đúng hướng, khai thác, sử dụng có hiệu quả hơn yếu tố lao động, công nghệ,
máy móc thiết bị,...Như vậy, chất lượng sản phẩm là vấn đề sống còn của một
doanh nghiệp. Tầm quan trọng của quản lý chất lượng ngày càng được nâng
cao, do đó phải không ngừng đổi mới và nâng cao trình độ quản lý chất lượng
của doanh nghiệp.
1.2. Nội dung cơ bản của quản lý chất lƣợng sản phẩm.
1.2.1. Những yêu cầu cơ bản của công tác quản lý chất lƣợng sản phẩm.
Quản lý chất lượng ngày càng đóng vai trì quan trọng trong việc nâng
cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, đây là
một lĩnh vực quản lý có những đặc thù riêng, đòi hỏi các doanh nghiệp khi thực
hiện quản lý chất lượng phải thực hiện đơpcj những yêu cầu cơ bản sau:
dùng sản phẩm. Để phòng ngừa là chính, phải xác định mọi nguyên nhân gây ra
chất lượng kém và tìm cách loại bỏ chúng ngay trong từng khâu nhằm hạn chế
16
những trục trặc, khuyết điểm của sản phẩm và giảm chi phí kiểm tra.
1.2.2. Xác định các nhân tố ảnh hƣởng tới chất lƣợng sản phẩm.
Chất lượng sản phẩm không chỉ được hình thành trong quá trình sản xuất
mà nó là kết quả của quá trình liên tục: từ thiết kế sản phẩm đến khi sản phẩm
được đưa ra thị trường. Trong suốt quá trình đó chất lượng sản phẩm chịu ảnh
hưởng tác động của nhiều nhân tố, bao gồm nhân tố bên trong và nhân tố bên
ngoài doanh nghiệp, cụ thể:
1.2.2.1 Nhân tố bên trong doanh nghiệp:
Chất lượng sản phẩm chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố bên trong doanh
nghiệp, nên để tiện cho việc phân tích người ta đã sắp xếp chúng thành nhóm.
Sơ đồ 1: Các nhân tố bên trong ảnh hƣởng tới chất lƣợng sản phẩm
Material
(NVL)
Men
(Con người)
Machines
(máy móc)
Chất lượng
sản phẩm
Method
(Phương thức)
về thành phẩm, tính chất, công dụng. Nắm vững được đặc tính của nguyên vật
liệu để thiết kế sản phẩm là điều cần thiết song trong quá trình chế tạo, việc
theo dõi, kiểm soát chất lượng sản phẩm theo tỷ lệ phối trộn là điều quan trọng
để mở rộng mặt hàng, thay thế nguyên vật liệu, xác định đúng đắn các chế độ
gia công để không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm. Quá trình công nghệ
là quá trình phức tạp, vừa làm thay đổi ít nhiều hoặc bổ xung, cải thiện nhiều
tính chất ban đầu của nguyên vật liệu theo hướng sao cho phù hợp với công
dụng của sản phẩm. Vì vậy, nó có ảnh hưởng lớn quyết định đến chất lượng sản
phẩm. Ngoài yếu tố kỹ thuật công nghệ cần phải chú ý đến việc lựa chọn thiết
18
bị, khi kỹ thuật và công nghệ được đổi mới nhưng thiết bị cũ kỹ thì không thể
nào nâng cao được chất lượng sản phẩm. Hay nói cách khác, nhóm yếu tố kỹ
thuật – công nghệ – thiết bị có mối quan hệ khá chặt chẽ, không chỉ góp phần
vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm, mà còn tăng tính cạnh tranh của sản
phẩm trên thương trường, đa dạng hoá chủng loại nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu
dùng, tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ.
* Method (Phƣơng pháp tổ chức, phƣơng pháp quản lý công nghệ,
trình độ tổ chức quản lý và tính chất sản xuất của doanh nghiệp):
Trình độ quản lý nói chung và trình độ quản lý chất lượng nói riêng là
một trong những nhân tố cơ bản góp phần đẩy nhanh tốc độ cải tiến, chất lượng
sản phẩm của doanh nghiệp. Các chuyên gia quản lý chất lượng đồng tình cho
rằng trong thực tế có 80% những vấn đề chất lượng là do quản trị gây ra. Vì
vậy nói đến quản trị chất lượng ngày nay trước hết người ta cho rằng đó là chất
lượng của quản trị. Các yếu tố sản xuất như nguyên vật liệu, kỹ thuật – công
nghệ thiết bị và người lao động dù có ở trình độ cao nhưng không biết tổ chức
quản lý tạo ra sự phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng ăn khớp giữa các khâu, giữa
các yếu tố của quản trị sản xuất thì không thể tạo ra một sản phẩm có chất
nước này nhưng chưa chắc đã đảm bảo đạt tiêu chuẩn chất lượng ở nước
khác. Trong nhu cầu của nền kinh tế có các nhân tố sau ảnh hưởng tới chất
lượng sản phẩm:
- Nhu cầu của thị trường:
Đầu tiên, nhu cầu thị trường sẽ quyết định tới tiêu chuẩn chất lượng của
sản phẩm cho công tác thiết kế và phát triển sản phẩm. Nhu cầu thị trường rõ
nét thì khi đó chuyển thành tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm sẽ thuận lợi và
20