Xây dựng chiến lược sản xuất tại Công ty Vận tải Dầu khí
Lêi më §Çu
Mọi tổ chức, mọi doanh nghiệp đều phải lập kế hoạch hoạt động, xây dựng
chiến lược và từ đó tổ chức thực thi chiến lược. Đối với các doanh nghiệp trong
nền kinh tế Thị trường với sự tồn tại và điều tiết của những quy luật khách quan
như: quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, giá cả… đòi hỏi phải cung cấp những
thông tin một cách chính xác, kịp thời và toàn diện thì công tác này có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng.
Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như ngày nay, người xây dựng chiến lược
phải tính đến nhiều yếu tố khách quan bên ngoài và chủ quan bên trong doanh
nghiệp. Đồng thời phải phân tích những yếu tố đó một cách khoa học và có hệ
thống để làm cơ sở, căn cứ cho công tác xây dựng chiến lược hoạt động kinh
doanh cho doanh nghiệp sao cho chiến lược lập ra mang lại hiệu quả cao nhất cho
xã hội nói chung và cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng. Hơn
nữa do ảnh hưởng của các yếu tố môi trường luôn thay đổi, cạnh tranh và xu thế
hội nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của các ngành kinh tế nên công tác
xây dựng chiến lược không ngừng đổi mới cho phù hợp với điều kiện kinh tế Thị
trường. Vì đó mà việc xây dựng chiến lược, lập kế hoạch ngày càng phải được chú
trọng.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác xây dựng chiến lược nên cũng
như các doanh nghiệp khác, Công ty Vận tải dầu khí thực sự chú trọng đến công
tác này. Bởi lẽ dầu mỏ và khí thiên nhiên vốn là tài nguyên quý hiếm và không thể
tái tạo được. Hiện nay và trong nhiều thập niên kế tiếp dầu khí vẫn là nguồn năng
lượng, nhiên liệu quan trọng của nước ta và các nước khác trên Thế giới. Ngành
Dầu khí nói chung và Công ty vận tải Dầu khí nói riêng thường xuyên chú trọng
xây dựng chiến lược để có thể đảm bảo cho Công ty hoạt động có hiệu quả và nắm
Trần Minh Huệ K12QT1
Xây dựng chiến lược sản xuất tại Công ty Vận tải Dầu khí
thế chủ động trong kinh doanh, từ đó có sức cạnh tranh với các đối thủ trong nước
cũng như trên trường quốc tế.
Trong quá trình thực tập tại Công ty với thời gian chưa lâu nhưng em đã học
yếu tố đầu vào thành hàng hóa hoặc dịch vụ mong muốn, đáp ứng nhu cầu xã hội.
1.2/ Nội dung của Quản trị sản xuất :
Quản trị sản xuất bao gồm các nội dung sau :
a / Xây dựng chiến lược trong quản trị sản xuất
Chiến lược kinh doanh là chiến lược nhằm đảm bảo sự thành
công của Công ty. Một chiến lược tốt là chiến lược trong đó công ty có thể chiếm
được lợi thế chắc chắn so với các đối thủ cạnh tranh với chi phí có thể chấp nhận
được. Vì vậy hoạch định chiến lược là một công việc không thể thiếu của người
quản trị nói chung và người quản trị sản xuất nói riêng.Công tác xây dựng chiến
lược trong doanh nghiệp là một hoạt động có ý nghĩa hết sức quan trọng và chiếm
vị trí quan trọng hàng đầu. Bởi nếu không có chiến lược thì doanh nghiệp không
thể thực hiện bất kì việc gì có hiệu quả cao được.
Trần Minh Huệ K12QT1
Xây dựng chiến lược sản xuất tại Công ty Vận tải Dầu khí
b / Dự đoán cầu đối với hàng hóa hoặc dịch vụ
Đây là nội dung quan trọng đầu tiên, là xuất phát điểm của Quản trị sản xuất.
Tìm hiểu, nghiên cứu tình hình thị trường, dự báo nhu cầu sản phẩm để trả lời câu
hỏi cần sản xuất sản phẩm gì? Bao nhiêu? Vào thời gian nào? Những đặc điểm kinh
tế - kỹ thuật cần có của sản phẩm là gì? Kết quả dự báo cho thấy số lượng sản
phẩm cần sản xuất trong từng thời kì, trên cơ sở đó xác định các kế hoạch sản xuất
sản phẩm và khả năng sản xuất cần có. Đây là căn cứ để xác định có nên sản xuất
hay không nên sản xuất. Nếu tiến hành sản xuất thì cần thiết kế hệ thống sản xuất
như thế nào để đảm bảo thỏa mãn được nhu cầu đã dự báo một cách tốt nhất. Tất cả
các hoạt động thiết kế, hoạch định và tổ chức điều hành hệ thống sản xuất đều phải
căn cứ vào dữ liệu dự báo và nhằm đáp ứng nhu cầu sản phẩm trên thị trường.
c / Lựa chọn địa điểm và bố trí mặt bằng doanh nghiệp
Ngày nay lựa chọn địa điểm và bố trí mặt bằng doanh nghiệp được coi là nội
dung không thể thiếu của QTSX. Hầu hết các doanh nghiệp đều coi định vị doanh
nghiệp là một giải pháp và nội dung có ý nghĩa chiến lược trong phát triển sản xuất
kinh doanh, bởi quyết định đúng sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh rất lớn cả về những yếu
dự trữ. Do đó doanh nghiệp phải tìm cách xác định điểm cân bằng giữa mức độ đầu
tư cho hàng dự trữ và lợi ích thu được do thỏa mãn nhu cầu của sản xuất và nhu cầu
của hàng tiêu dùng với chi phí thấp nhất.
Hàng dự trữ và hàng tồn kho của doanh nghiệp có nhiều loại và nó phụ thuộc vào
từng loại hình doanh nghiệp. Vì vậy từng doanh nghiệp có nội dung và cách kiểm
soát hàng dự trữ khác nhau.
f / Xây dựng kế hoạch sản xuất và cung ứng sản phẩm cho doanh nghiệp
Trước khi tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải phân
tích đặc điểm sản phẩm và khả năng sản xuất để xác định xem nên tiến hành sản
Trần Minh Huệ K12QT1
Xây dựng chiến lược sản xuất tại Công ty Vận tải Dầu khí
xuất hay đặt hàng gia công bên ngoài. Quyết định được lựa chọn không chỉ căn cứ
vào nhu cầu sản phẩm mà còn căn cứ vào khả năng sản xuất của doanh nghiệp.
Tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá là chi phí sản xuất trên 1 đơn vị sản phẩm
có chất lượng tương tự nhau được khách hàng chấp nhận. Trường hợp khả năng
máy móc, thiết bị, công nghệ của doanh nghiệp có thể tự sản xuất được nếu chi phí
tự sản xuất thấp hơn giá gia công với cùng loại sản phẩm có cùng chất lượng thì
nên đặt hàng gia công. Ngược lại, chi phí sản xuất thấp hơn hoặc tiến hành sản xuất
sẽ cho chất lượng sản phẩm cao hơn, giúp doanh nghiệp tận dụng được khả năng
sản xuất, mở rộng thị trường thì nên tiến hành sản xuất.
g / Quản trị tiến độ và kiểm soát sản xuất
Tiến độ sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Vì vậy bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải kiểm soát tiến độ sản
xuất của doanh nghiệp mình. Thực chất quản trị tiến độ là toàn bộ các hoạt động
xây dựng lịch trình sản xuất, điều phối, phân giao các công việc cho từng người,
nhóm người, từng máy và sắp xếp thứ tự các công việc ở từng nơi làm nhằm hoàn
thành đúng tiến độ đã xác định trong lịch trình sản xuất trên cơ sở sử dụng có hiệu
quả khả năng sản xuất hiện có của doanh nghiệp. Quản trị tiến độ và kiểm soát sản
xuất phải giải quyết tổng hợp các mục tiêu trái ngược nhau như giảm thiểu thời
gian chờ đợi của khách hàng, chi phí dự trữ, thời gian sản xuất… đồng thời sử dụng
+ Chiến lược là nghệ thuật mà doanh nghiệp dùng để chống lại cạnh tranh và
giành thắng lợi.
+ Chiến lược là nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh vững chắc nhằm
phòng thủ.
- Khuynh hướng 2 : Theo quan điểm về phạm trù quản lý coi chiến lược là 1
dạng kế hoạch
Trần Minh Huệ K12QT1
Xây dựng chiến lược sản xuất tại Công ty Vận tải Dầu khí
+ Chiến lược là việc xác định những con đường và những phương tiện để đạt
tới các mục tiêu đã được xác định thông qua chính sách.
+ Chiến lược là những kế hoạch tổng quát dẫn dắt hoặc hướng doanh nghiệp
đi đến những mục tiêu mong muốn. Nó là cơ sở cho việc định ra các chính sách và
các thủ pháp tác nghiệp.
+ Chiến lược là một loại kế hoạch mang tính thống nhất, toàn diện và tổng
hợp được thiết kế để đảm bảo các mục tiêu của doanh nghiệp sẽ được thực hiện.
- Khuynh hướng 3 : Khuynh hướng này là sự kết hợp của 2 khuynh hướng 1
và 2
+ Chiến lược là nghệ thuật phối hợp các hoạt động và điều khiển chúng đạt
tới các mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp
+ Chiến lược bao hàm việc ấn định các mục tiêu dài hạn cơ bản của doanh
nghiệp đồng thời chọn cách thức hoặc tiến trình hành động và phân bổ các nguồn
lực thiết yếu của doanh nghiệp, tổ chức, thực thi các mục tiêu đó.
Từ 3 khuynh hướng trên ta có thể định nghĩa về chiến lược 1 cách tổng quát như
sau:
Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp là 1 nghệ thuật thiết kế, tổ chức các
phương tiện nhằm đạt tới các mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp và có mối quan hệ
với sự biến đổi của môi trường kinh doanh và cạnh tranh.
2.2/ Phân loại chiến lược
Có nhiều cách phân loại chiến lược
- Dựa vào căn cứ xây dựng chiến lược có 3 chiến loại chiến lược
- Môi trường chính trị - luật pháp
Sự ổn định hay không ổn định về chính trị, sự thay đổi luật pháp và chính sách
quản lý vĩ mô có thể gây sức ép hay tạo cơ hội cho doanh nghiệp kinh doanh có
hiệu quả hơn. Phải nhận thức được nguy cơ hay cơ hội đối với từng loại thay đổi.
Trần Minh Huệ K12QT1
Xây dựng chiến lược sản xuất tại Công ty Vận tải Dầu khí
- Môi trường kỹ thuật và công nghệ
Là yếu tố môi trường ảnh hưởng lớn đến chiến lược kinh doanh của ngành và
nhiều doanh nghiệp. Sự biến đổi công nghệ làm chao đảo nhiều lĩnh vực, ngược lại
nhưng lại làm xuất hiện nhiều lĩnh vực kinh doanh mới hoàn thiện hơn.
- Môi trường văn hóa – xã hội
Khi thị hiếu của người tiêu dùng thay đổi, hay khi trình độ dân trí tăng cao thì
doanh nghiệp sẽ thế nào? Những nguy cơ đe dọa, những cơ hội nào có thể nắm bắt?
Nhiệm vụ của nhà quản lý phải phân tích kịp thời các thay đổi này. Có như vậy
thông tin mới đầy đủ và có hệ thống giúp cho hoạch định chiến lược có căn cứ toàn
diện hơn.
3.2/ Phân tích mối đe dọa của đối thủ mới và cường độ cạnh tranh của các doanh
nghiệp hiện có
Doanh nghiệp phải biết được đối thủ nào mới xuất hiện. Nó có bị cản trở
xâm nhập thị trường từ phía các đối thủ khác không? Có thể làm gì cản trở đối thủ
này.
Cường độ cạnh tranh đặc trưng bởi số lượng đối thủ cạnh tranh và tỷ trọng
đối thủ ngang sức chiếm bao nhiêu trong số đó? Các đối thủ ngang sức có những
đặc điểm nào mạnh, yếu.
3.3/ Phân tích áp lực của sản phẩm mới thay thế
Liệu có sản phẩm nào trên thị trường làm cho người tiêu dùng bỏ thói quen
mua hàng của mình không? Vì sao người tiêu dùng thích sản phẩm đó? Và rất
nhiều câu hỏi tương tự như vậy mà nhà hoạch định chiến lược cần phải điều tra và
trả lời.
3.4/ Phân tích quyền lực khách hàng
b/ Đưa ra chiến lược bộ phận dựa vào ma trân SWOT
Trần Minh Huệ K12QT1
Xây dựng chiến lược sản xuất tại Công ty Vận tải Dầu khí
c/ Đưa ra giải pháp thực hiện ý đồ chiến lược đã chọn
d/ Đưa ra các biện pháp cụ thể để triển khai giải pháp( đưa ra kế hoạch hoạt
động )
e/ Tính hiệu quả kinh tế của biện pháp
f/ Quyết định áp dụng biện pháp để khai triển ý đồ chiến lược( thực chất là đưa
biện pháp vào kế hoạch khoa học- công nghệ để chuẩn bị áp dụng)
Cơ hội (O)
Cơ hội 1
Cơ hội 2
Cơ hội 3
Nguy cơ ( T )
Nguy cơ 1
Nguy cơ 2
Nguy cơ 3
Điểm mạnh( S)
Điểm mạnh 1
Điểm mạnh 2
Điểm mạnh 3
Kết hợp S- O
Sử dụng các điểm mạnh để tận
dụng cơ hội
Kết hợp S- T
Sử dụng điểm mạnh để vượt
qua các đe dọa
Điểm yếu ( W)
Điểm yếu 1
Điểm yếu 2
- Tên đối ngoại : PETROVIETNAM TRANSPORTATION COMPANY
- Tên viết tắt : PV Trans
Số điện thoại : + 84-8- 911301
Số fax : +84-8- 911300
Email : pvtrans @ hcm.fpt.vn
- Giấy phép ĐKKD số 113087 ngày 11/10/2002 do Sở kế hoạch và Đầu tư
Thành phố Hồ Chí Minh cấp ( thay đổi lần 2 ngày 14/12/2005)
1.2 / Giám đốc hiện tại của Công ty : Ông Bùi Thọ Mạnh
1.3 / Địa chỉ :
Hiện nay PV Trans có trụ sở chính Thành phố HỒ CHÍ MINH và 02 chi
nhánh tại Hà Nội và Thành phố Vũng tàu. Cụ thể như sau:
STT Tên đơn vị Địa chỉ
1 Trụ sở chính 56 Nguyễn Đình Chiểu, P. Đa kao, Q1, TP. HCM
2 Chi nhánh Hà Nội 96 Nguyễn Du, Q. Hai Bà Trưng, Tp. Hà Nội
3
Chi nhánh Vũng
Tầu 92 xô Viết Nghệ Tĩnh, P2, Tp. Vũng tầu,Tỉnh Bà Rịa Vũng Tầu
Bảng 2. Trụ sở chính và các chi nhánh của Công ty
Trần Minh Huệ K12QT1
Xây dựng chiến lược sản xuất tại Công ty Vận tải Dầu khí
1.4 / Cơ sở pháp lý thành lập của Công ty :
- Quyết định thành lập Công ty Vận tải Dầu khí số 358/ QĐ-VPCP ngày
27/05/2002 củ Bộ trưởng, chủ nhiệm văn phòng Chính phủ.
- Quyết định số 2024/ QĐ-HĐQT ngày 19/09/2002 của Hội đồng Quản Trị
Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam về việc ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động
của công ty Vận tải Dầu khí.
- Quyết định số 288/QĐ – HĐQT ngày 28/02/2003 của Hội đồng Quản trị
Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam về việc bổ sung chức năng nhiệm vụ cho Công ty
Vận tải Dầu khí .
+ Kinh doanh dịch vụ môi giới tàu biển, đại lý hàng hải, cung ứng tàu biển,
dịch vụ sửa chữa tàu biển và các dịch vụ hàng hải khác. Bên cạnh đó còn các hoạt
động phụ khác như sửa chữa tầu biển và các dịch vụ hàng hải……
- Từ khi thành lập đến nay Công ty luôn hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ do
Tổng Công ty dầu khí Việt Nam giao cho đồng thời tự mình gánh vác và vượt qua
những khó khăn, thử thách của nền kinh tế Thị trường nói chung và những khó
khăn của ngành vận tải dầu khí nói riêng. Trong giai đoạn từ đó đến năm 2006
Công ty vẫn tồn tại và hoạt động theo cơ chế của một Công ty Nhà nước. Công ty
có một con tầu mang tên Poseidon M có tổng trọng tải 100.000 DWT. Con tàu này
đã mang lại cho công ty số doanh thu đáng kể là 740,85 tỷ đồng.
- Trong năm 2006, do nhận thức được tầm quan trọng của mảng kinh doanh
dầu thô nên Công ty đã tiến hành đầu tư mua mới con tầu chở dầu loại Aframax có
trọng tải 100.000 DWT
- Đến năm 2007, do xu hướng hội nhập kinh tế Quốc tế và nhằm nâng cao tính
trách nhiệm của các thành viên Công ty đặc biệt là người đứng đầu Công ty, đồng
Trần Minh Huệ K12QT1
Xây dựng chiến lược sản xuất tại Công ty Vận tải Dầu khí
thời cũng nâng cao tính hiệu quả kinh doanh nên Công ty đã tiến hành cổ phần hóa
Công ty với 51% vốn Nhà nước.
1.8 / Sơ đồ tổ chức bộ máy của Công ty
Hình 1 : Sơ đồ bộ máy quản lý của Công ty
Trần Minh Huệ K12QT1
Đại hội cổ
đông
Ban lãnh đạo
Ban kiểm
soát
P.HC
P.T
CN
nước ngoài; tích cực xây dựng công nghiệp lọc hóa dầu và sử dụng khí thiên nhiên;
đảm bảo an ninh năng lượng quốc qia; đa dạng hóa phương thức đầu tư và kinh
doanh trong lĩnh vực dầu khí; từng bước hình thành và phát triển thị trường cạnh
tranh; mở rộng và đẩy mạnh phát triển các loại hình dịch vụ dầu khí; phát triển
nhanh, hiệu quả đi đôi với việc đảm bảo an ninh quốc phòng; đảm bảo chủ quyền
quốc gia, bảo vệ tài nguyên, môi trường sinh thái và tiết kiệm năng lượng cho sự
phát triển bền vững của đất nước”. Công ty Vận tải Dầu khí cũng đã xây dựng
chiến lược phát triển đội tầu giai đoạn từ nay đến 2015 và định hướng đến 2025 để
có thể cùng chung sức hoàn thành kế hoạch đã đề ra của Tổng Công ty và ngành
dầu khí.
2.1/ Tình hình Thế giới
* Dự báo cung- cầu dầu khí trên Thế giới giai đoạn từ nay đến 2025
Theo dự báo của EIA thì nguồn cung cấp năng lượng chính cho Thế giới
trong thời gian tới vẫn là từ dầu khí và than với số lượng tiêu thụ dầu khí hiện nay
là 82 triệu thùng/ngày, 103 triệu thùng/ngày vào năm 2015 và 119 triệu thùng/ngày
vào năm 2025. Mức tăng trưởng nhu cầu năng lượng trung bình trong giai đoạn từ
nay đến 2025 khoảng 2%/năm.Mặc dù giá dầu thô ngày càng cao, nhu cầu tiêu thụ
dầu thô sẽ không bị ảnh hưởng nhiều. Theo dự báo về mức tiêu thụ của Trung
Quốc là 7,5% trong giai đoạn từ nay đến 2010 và 2,9% trong giai đoạn sau đó.
Trần Minh Huệ K12QT1
Xây dựng chiến lược sản xuất tại Công ty Vận tải Dầu khí
Theo như dự báo tại Hội nghị dầu khí Châu Á lần thứ 7 tổ chức tại Kuala Lumpur
ngày 10/06/2002, Châu Á sẽ trở thành khu vực nhập khẩu ròng dầu mỏ lớn nhất thế
giới vào năm 2020, vượt cả Châu Âu và Bắc Mỹ khi tốc độ tăng trưởng kinh tế của
khu vực này cao hơn các khu vực khác trên Thế giới. Nhu cầu nhập khẩu ròng dầu
mỏ của khu vực Châu Á sẽ tăng hơn gấp 2 lần trong vòng 15năm tới cho đến năm
2020.
Nhu cầu về khí có mức tăng trưởng trung bình là 2,3%/năm với mức tiêu thụ
năm 2002 là 92.000tỷ m
3
OPEC, sẽ đảm bảo 60% mức tăng nhu cầu. Các nước không thuộc OPEC sẽ bổ
sung 17 triệu thùng/ ngày trong khoảng thời gian từ nay đến 2025 và đặc biệt các
nước mới không thuộc OPEC tại Caspian, Tây Phi, Trung và Nam Mỹ sẽ có mức
cung dầu thô tăng đáng kể.
Tỷ trọng thương mại trên thế giới về dầu khí là lớn nhất so với tất cả các
hàng hóa khác kể cả về số lượng,giá trị, năng lực và công suất phương tiện chuyên
chở. Vận tải từ các kho chứa đóng vai trò hết sức quan trọng trong kinh doanh dầu
khí, nó không chỉ là cầu nối giữa xuất khẩu và nhập khẩu mà còn là giữa các vùng
khai thác tới các nhà máy lọc dầu, giữa nhà máy lọc dầu tới hệ thống thương mại và
giữa hệ thống này tới người tiêu dùng. Theo quy luật chung, dòng chảy của dầu là
từ nơi khai thác tới thị trường gần nhất, sau đó mới tới các thị trường xa hơn. Tuy
nhiên, quy luật này cũng có ngoại lệ ảnh hưởng không nhỏ tới ngành vận tải biển:
cuộc khủng hoảng Suez năm 1957 đã làm các tàu dầu phải đi quãng đường dài
vòng qua mũi Hảo Vọng và VLCC để giảm giá thành vận chuyển trên các tuyến
đường dài. Chính trị, chính sách thuế và chính sách về môi trường của các quốc gia
cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đến dòng chảy và chi phí vận tải dầu
khí: Mỹ cấm các công ty nhập dầu từ Iran, Liby; Liên hiệp quốc chỉ cho Irắc xuất
khẩu lượng dầu có giới hạn…
Trần Minh Huệ K12QT1
Xây dựng chiến lược sản xuất tại Công ty Vận tải Dầu khí
Trên thế giới hiện nay có hai phương thức chính để vận tải dầu thô là: Tàu
chở dầu và đường ống dẫn dầu. Ngoài ra, dầu thô còn vận chuyển bằng đường sắt
tuy nhiên số lượng rất ít( tuyến Nga- Trung quốc). Vận tải bằng tàu biển có tính
linh động cao hơn, giá rẻ và hiệu quả. Đường ống dẫn dầu cũng có phương thức
vận tải dầu thô và các sản phẩm dầu khí rất có hiệu quả vì lưu lượng ổn định và sử
dụng trong khoảng thời gian dài. Hiện nay, ngoài các đường ống từ mỏ về các nhà
máy lọc dầu và từ nhà máy lọc dầu đến các trung tâm tiêu thụ, con người đã xây
dựng các đường ống xuyên lục địa để phục vụ nhu cầu to lớn và ổn định của các
quốc gia.
Các tuyến vận tải khác nhau thường không dùng chung một cỡ tầu nào mà mỗi
Erika và Prestige, các chủ tàu chủ yếu tập trung vào đầu tư các tàu hiện đại và chất
lượng cao.
Bảng 3: Thống kê đội tầu vận tải dầu thô và dầu sản phẩm trên thế giới
Loại tàu Số lượng(tàu) Tổng DWT(Nghìn DWT)
Tàu chở dầu
10.000- 25.000 DWT 86 1.441
25.000- 50.000 DWT 95 3.578
Panamax 50.000- 80.000 DWT 156 10.178
Aframax 80.000- 120.000 DWT 487 48.494
Suermax 120.000- 200.000 DWT 257 38.701
VLCC 200.000- 300.000 DWT 425 121.882
ULCC > 300.000 DWT 11 4.309
Tàu chở dầu sản phẩm
10.000-25.000 DWT 266 4.365
25.000- 50.000 DWT 918 35.457
Pananmax 128 8.251
Aframax 119 11.481
Suermax 11 1.548
Tàu chuyên chở/ chuyên tuyến
10.000-25.000 DWT 1 20
25.000- 50.000 DWT 3 137
Pananmax 4 268
Aframax 14 1.433
Suermax 29 3.677
VLCC
(Nguồn Fearnleys 2004)
Trần Minh Huệ K12QT1
- Chu kỳ đóng mới và thay thế tàu cũ 1973- 2003;
- Yêu cầu thay thế các tàu dầu thế hệ cũ thân đơn bằng các tàu thân đôi;
- Nhu cầu vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu của Trung Quốc tăng đột biến
trong những năm gần đây;
- Giá sắt thép, nguyên liệu, nhiên liệu tăng;
- Đồng USD giảm giá so với đồng Euro;
Trong các nguyên nhân trên thì có 3 nguyên nhân đầu tiên chỉ mang tính thời
điểm và sẽ có những thay đổi lớn làm giá tàu giảm dần trong tương lai gần, các tàu
được đóng mới lần lượt được hạ thủy làm cân bằng nhu cầu vận tải.
2 nguyên nhân tiếp theo và giá dầu tăng làm cho giá tàu đứng ở mặt bằng giá mới
có thể cao hơn mức trung bình từ trước tới nay và do vậy giá cước vận tải tuy nhiều
biến động nhưng cũng sẽ có mặt bằng trung bình cao hơn mức trước đây.
Căn cứ vào những lý do trên, giá tàu có thể bắt đầu giảm vào khoảng cuối năm
2005 và tiếp tục giảm nhiều trong các năm sau do yếu tố cạnh tranh giữa các nước
có ngành công nghiệp đóng tàu lớn như Nhật bản, Hàn quốc, Trung quốc . Theo
phân tích, dự báo giá tàu trong thời gian tới sẽ giảm từ 10- 20% so với giá tàu tại
thời điểm giữa năm 2005.
2.2/ Tình hình phát triển đội tàu vận tải dầu khí trong khu vực:
Do tốc độ phát triển kinh tế của Trung Quốc trong các năm gần đây tăng
mạnh, nhu cầu năng lượng của nước này cũng tăng đột biến. Năm 2004 Trung
Quốc nhập khẩu 123 triệu tấn dầu thô, trở thành nước nhập khẩu dầu thô lớn thứ 2
thế giới, dự báo đến năm 2010 Trung Quốc sẽ nhập khẩu 150 triệu tấn và năm 2020
nhu cầu này sẽ là 250 triệu tấn. Nguồn nhập khẩu dầu thô của Trung Quốc chủ yếu
là từ Trung Đông, Châu Phi, Châu Mỹ và từ các nước Đông Nam Á.
Trần Minh Huệ K12QT1