LỜI NÓI ĐẦU
Trong xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá về kinh tế, cạnh tranh trên thị
trường ngày càng trë lên quyết liệt, chất lượng sản phẩm là một trong
những yếu tố quyết định sự thành bại của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó đời sống xã hội ngày càng nâng cao, nhu cầu của con
người đối với hàng hoá ngày càng tăng không ngừng về số lượng và chất
lượng. Để thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng, các doanh nghiệp phải nỗ
lực, cố gắng tìm kiếm các phương pháp tối ưu để sản xuất và cung ứng sản
phẩm có chất lượng cao với giá thành hợp lý. Đó chính là con đường chủ
yếu để doanh nghiệp tồn tại và phát triển lâu dài. Chất lượng sản phẩm thực
sự trở thành một nhân tố cơ bản quyết định sự thành bại trong kinh doanh
của doanh nghiệp cũng như sự thành công hay tụt hậu của nền kinh tế đất
nước. Đảm bảo nâng cao chất lượng sản phẩm đối với các doanh nghiệp là
yêu cầu khách quan thúc đẩy sản xuất phát triển, đóng góp vào việc nâng
cao đời sống của cán bộ nhân viên và người lao động trong doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta hiện nay, các
doanh nghiệp được tự chủ trong kinh doanh, được hạch toán độc lập và tự
do cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật. Những doanh nghiệp thuộc các
thành phần kinh tế khác nhau đang cạnh tranh gay gắt để ngày càng phát
triển. Sản xuất kinh doanh đã thực sự trở thành mặt trận nóng bỏng. Hơn
nữa, từ khi có chính sách mở cửa, sức ép của hàng ngoại nhập và của người
tiêu dùng đã buộc các nhà kinh doanh cũng như các nhà quản trị phải hết
sức coi trọng vấn đÓ đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm, bởi chất
lượng sản phẩm là vũ khí cạnh tranh lợi hại.
Trải qua 20 năm xây dựng và trưởng thành, ngày nay Công ty 247 đã trở
thành một doanh nghiệp vững mạnh trong ngành dệt may của nước ta. Mặc
1
dự sn phm ca cụng ty ó c th trờng chp nhn v cht lng sn
phm ngy cng c ci tin rừ rt, song cụng tỏc cht lng sn phm
ca cụng ty vn cũn nhiu hn ch. Do vy có th phỏt trin v ng
vng c trờn th trng, vn t ra cho cụng ty l cn phi tip tc
nghiệp.
1. khái niệm, đặc điểm và vai trò chất lợng sản phẩm.
1.1. Khái niệm và phân loại chất lợng sản phẩm.
1.1.1. Các quan điểm về chất lợng sản phẩm.
Thuật ngữ chất lợng sản phẩm xuất hiện từ rất sớm trong hoạt động của con
ngời, khi xã hội hình thành hoạt động trao đổi hàng hóa và tiến lên mua bán
hàng hóa. Cùng với sự phát triển của hoạt động thơng mại, của khoa học kỹ
thuật mà các khái niệm và định nghĩa về chất lợng cũng thay đổi và phát triển
theo. Bởi vì khái niệm chất lợng luôn phải gắn liền với một đối tợng, đối tợng
đó có thể là hoạt động dịch vụ hoặc một thực thể sản phẩm. Hiện nay nói đến
chất lợng sản phẩm thì có rất nhiều quan điểm. Mỗi quan niệm đều có những
căn cứ khoa học, ý nghĩa thực tiễn khác nhau và có những đóng góp nhất
định thúc đẩy khoa học quản trị chất lợng không ngừng phát triển, hoàn
thiện.
Tùy theo góc độ quan niệm, xem xét của mỗi nớc trong từng thời kỳ kinh
tế xã hội nhất định mà nhằm những mục tiêu khác nhau mà ngời ta đa ra
nhiều khái niệm về chất lợng sản phẩm. Sau đây, ta có thể nêu ra một vài
khái niệm về chất lợng sản phẩm.
Theo quan điểm triết học Mác: chất lợng sản phẩm là mức độ, là thớc đo
biểu hiện giá trị sử dụng của nó. Giá trị sử dụng của một sản phẩm tạo nên
tính hữu ích của sản phẩm đó mà đó chính là chất lợng sản phẩm.
3
Theo quan điểm này thì chất lợng sản phẩm chỉ xem xét thêm một thớc đo
duy nhất đó là thớc đo giá trị sử dụng, cha nói lên đợc ý nghĩa chất lợng với
chi phí và sự phù hợp với nhu cầu khác nhau và khẩu vị riêng biệt của ngời
tiêu dùng.
Quan điểm của chất lợng sản phẩm theo hớng công nghệ:
Chất lợng sản phẩm là tổng hợp những đặc tính bên trong của sản phẩm có
thể đo đợc hoặc so sánh đợc phản ánh giá trị sử dụng và chức năng của sản
Trong nền kinh tế thị trờng khi nhu cầu thị trờng đợc coi là xuất phát điểm
của mọi quá trình sản xuất kinh doanh. Tôn chỉ hoạt động của mọi doanh
nghiệp là sản xuất những gì mà ngời tiêu dùng cần chứ không sản xuất
những gì mà ta có chất lợng sản phẩm cần phải đợc nhìn nhận một cách linh
hoạt gắn bó chặt chẽ với nhu cầu của khách hang trên thị trờng. Phần lớn các
chuyên gia về chất lợng trong nền kinh tế thị trờng đều coi chất lợng sản
phẩm là sự phù hợp với nhu cầu hay mục đích sử dụng của khách hàng. Các
đặc điểm kinh tế kỹ thuật phản ánh chất lợng sản phẩm khi chúng thỏa mãn
đợc những đòi hỏi của khách hàng. Chỉ có những đặc tính đáp ứng đợc nhu
cầu của khách hàng mới là chất lợng sản phẩm. Điều này có nghĩa là chất l-
ợng sản phẩm phải gắn liền với nhu cầu của ngời tiêu dùng trên thị trờng.
Những quan điểm này đã tạo nên lý thuyết chất lợng sản phẩm theo hớng
khách hàng. Lý thuyết này cho rằng: chất lợng sản phẩm phụ thuộc vào
đánh giá của ngời tiêu dùng đối với chính sản phẩm đó. Vì vậy tiêu chuẩn
quan trọng nhất để đánh giá chất lợng sản phẩm là khả năng thỏa mãn những
đòi hỏi yêu cầu của ngời tiêu dùng. Cách tiếp cận này đã dựa trên cơ sở giả
định ngời tiêu dùng có ý chí, vì vậy mọi cố gắng đợc tập trung vào nghiên
cứu, tìm hiểu nhu cầu khách hàng và luôn hớng tới cải tiến chất lợng liên tục
để thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Đây là một quan niệm rất đặc trng của nền
kinh tế thị trờng và rất phổ biến hiện nay trong giới kinh doanh hiện đại.
Theo quan điểm của tổ chức kiểm tra chất lợng Châu Âu (EOQC) cho
rằng: chất lợng sản phẩm là sự phù hợp của sản phẩm với yêu cầu của ngời
tiêu dùng.ở đây ngời ta dựa vào mức đáp ứng nhu cầu để đánh giá chất lợng
5
sản phẩm chứ không chú ý đến các thuộc tính sản phẩm. Từ đó có thể tác
động đến các thuộc tính làm tăng chất lợng sản phẩm.
Nh vậy có rất nhiêù quan điểm về chất lợng sản phẩm khác nhau và ở mỗi
quan điểm khái quát hóa về chất lợng sản phẩm trên những góc độ khác nhau
và phù hợp với từng góc độ nghiên cứu. Để phát huy mặt tích cực và khắc
phục những hạn chế của các quan niệm trên tổ chức tiêu chuẩn chất lợng
phẩm khác nhau. Nhng hiện nay chất lợng sản phẩm thờng đợc phân loại nh
sau:
- Chất lợng thiết kế: là giá trị thể hiện bằng các tiêu chuẩn chất lợng
đợc phác thảo bằng các văn bản, bản vẽ.
- Chất lợng tiêu chuẩn: là chất lợng đợc đánh giá thông qua các chỉ
tiêu kỹ thuật của quốc gia, quốc tế địa phơng hoặc ngành.
- Chất lợng thị trờng : là chất lợng bảo đảm thỏa mãn những nhu cầu
nhất định mong đợi của ngời tiêu dùng .
- Chất lợng thành phần: là chất lợng bảo đảm thỏa mãn những nhu
cầu mong đợi của một hoặc một số nhóm ngời nhất định.
- Chất lợng phù hợp: là chất lợng phù hợp với ý thích sở trờng, và
tâm lý của ngời tiêu dùng.
- Chất lợng tối u: là giá trị các thuộc tính của sản phẩm hàng hóa phù
hợp với nhu cầu xã hội nhằm đạt đợc hiệu quả kinh tế cao nhất.
1.2. Đặc điểm của chất lợng sản phẩm .
Chất lợng sản phẩm là một phạm trù tổng hợp về kinh tế xã hội và công
nghệ, chất lợng sản phẩm luôn gắn bó chặt chẽ với những mong đợi của
khách hàng và những xu hớng vận động của những mong đợi đó trên thị tr-
ờng. Bởi vậy, chất lợng sản phẩm là một phạm trù có ý nghĩa tơng đối, không
phải là bất biến mà thờng xuyên thay đổi theo thời gian và không gian. Chất
lợng sản phẩm có thể đợc coi là tốt trong một thời điểm nhất định tại một thị
7
trờng nhất định nhng có thể sẽ không phù hợp trong giai đoạn khác hoặc tại
một thị trờng khác.
Mỗi sản phẩm đợc đặc trng bằng các tính chất đặc điểm riêng biệt nội tại
của bản thân sản phẩm. Những đặc tính đó phản ánh tính khách quan của bản
thân sản phẩm thể hiện trong quả trình hình thành và sử dụng sản
phẩm.Những đặc tính khách quan này phụ thuộc rất lớn vào trình độ thiết kế
quy định cho sản phẩm. Mỗi tính chất đợc biểu thị bằng các chỉ tiêu lý hóa
nhất định có thể đo lờng đánh giá đợc. Vì vậy nói đến chất lợng phải thông
mong muốn của khách hàng. Mức độ phù hợp càng cao thì chất lợng sản
phẩm càng cao. Loại chất lợng này phụ thuộc vào mong muốn và sự đánh giá
chủ quan của ngời tiêu dùng và nó tác động mạnh mẽ đến khả năng tiêu thụ
của sản phẩm .
1.3. Vai trò của chất lợng trong sản xuất kinh doanh .
Hiện nay cơ chế thị truờng đã tạo ra nhiều động lực mạnh mẽ nhằm thúc
đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng
.Tuy nhiên qua sự chi phối của các quy luật kinh tế đặc biệt là quy luật cạnh
tranh, cơ chế kinh tế này cũng đặt ra những thách thức khó khăn mới đối với
các doanh nghiệp .
Nền kinh tế thị trờng cho phép các doanh nghiệp tự do cạnh tranh với
nhau trên mọi phơng diện nhờ vậy mà ngời tiêu dùng đợc tự do lựa chọn các sản
phẩm theo yêu cầu sở thích và khả năng của họ do đó doanh nghiệp nào thu
hút đợc khách hàng sử dụng sản phẩm của mình nhiều nhất thì doanh nghiệp
đó sẽ tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trờng. Chính điều này đã buộc
các doanh nghiệp này phải tìm mọi cách để phục vụ khách hàng tốt nhất.
Đối với mọi doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp sản xuất nói
riêng chất lợng sản phẩm luôn là một trong những yếu tố quan trọng nhất
quyết định khả năng cạnh tranh trên thị truờng của họ. Chất lợng sản phẩm là
9
cơ sở các doanh nghiệp thực hiện chiến lợc Marketing, mở rộng thị trờng, tạo
uy tín và danh tiếng cho sản phẩm của mình, khẳng định vị trí của sản phẩm
trên thị trờng. Từ đó, ngời tiêu dùng sẽ a thích và quyết định sử dụng sản
phẩm của doanh nghiệp, đó chính là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển lâu dài
của doanh nghiệp.
Sự thành công của doanh nghiệp không chỉ phụ thuọc vào năng lực sản
xuất cao, khả năng tiêu thụ lớn, mà còn phụ thuộc rất nhiều vào việc doanh
nghiệp có thực hiện tốt việc tiết kiệm nguyên vật liệu, thiết bị và lao động
trong quá trình hoạt động sản xuất. Các doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện tốt
tiết kiệm bằng cách liên tục nâng cao chất lợng sản phẩm của mình. Với mục
triển của mỗi doanh nghiệp. Theo M. E. Porter( Mỹ) thì khả năng cạnh tranh
của mỗi doanh nghiệp đợc thể hiện thông qua hai chiến lợc cơ bản là phân
biệt hóa sản phẩm và chi phí thấp. Chất lợng sản phẩm trở thành một trong
những chiến lợc quan trọng nhất làm tăng năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp. Xu thế toàn cầu hóa, mở ra thị trờng rộng lớn hơn nhng cũng làm
tăng thêm cung trên thị trờng. Ngời tiêu dùng có quyền lạ chọn nhà sản xuất,
cung ứng một cách rộng rãi hơn. Yêu cầu về chất lợng của thị trờng nớc
ngoài rất khắt khe, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nớc ngoài rất
lớn, chất lợng sản phẩm cao, chi phí sản xuất hợp lý. Tình hình đó dặt ra
những thách thức to lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam việc tham gia thị tr-
ờng thế giới. Chất lợng sản phẩm sẽ là yếu tố đầu tiên quan trọng nhất cho sự
tham gia của sản phẩm Việt Nam vào thị trờng quốc tế và nâng cao khả năng
cạnh tranh của các doanh nghiệp nớc ta .
2. Các chỉ tiêu phản ánh chất lợng sản phẩm.
2.1. Các chỉ tiêu thuộc tính chất lợng sản phẩm.
Chất lợng sản phẩm đợc phản ánh thông qua một hệ thống các chỉ tiêu cụ
thể. Những chỉ tiêu chất lợng đó chính là các thông số kinh tế - kỹ thuật và
các đặc tính riêng có của sản phẩm, phản ánh tính hữu ích của sản phẩm. Các
chỉ tiêu không tồn tại một cách độc lập là có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
11
Vai trò, ý nghĩa của từng chỉ tiêu cụ thể rất khác nhau với những sản phẩm
khác nhau.
Muốn đánh giá chính xác và khách quan chất lợng sản phẩm, cần xem xét
một hệ thống các chỉ tiêu đặc trng cả bên trong và bên ngoài của sản phẩm.
Mỗi sản phẩm đều đợc đặc trng bởi các tính chất, đặc điểm riêng, đây chính
là những đặc tính khách quan của sản phẩm đợc thể hiện trong quá trình hình
thành và sử dụng sản phẩm đó. Mỗi tính chất đợc biểu thị bởi các chỉ tiêu cơ,
lý, hóa, nhất định, có thể đo lờng đánh giá đợc. Qua đó, ta có thể so sánh
giữa các sản phẩm với nhau trên cùng một tiêu chí để biết đợc sản phẩm nào
đến môi trờng khi sử dụng.
- Chỉ tiêu an toàn: Đặc trng cho tính đảm bảo an toàn về sức khỏe
cũng nh tính mạng của ngời sản xuất và ngời tiêu dùng.
- Chỉ tiêu về chi phí, giá cả: Đăc trng cho hao phí xã hội cần thiết để
tạo ra sản phẩm.
Tùy theo từng loại sản phẩm mà doanh nghiệp nên tập trung giả quyết
những chỉ tiêu nào. Các chỉ tiêu này không tồn tại dộc lập, tách rời mà còn có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau.Vai trò và ý nghĩa của từng chỉ tiêu rất khác
nhau đối với những sản phẩm khác nhau. Mỗi loại sản phẩm cụ thể có những
chỉ tiêu mang tính trội và quan trọng hơn những chỉ tiêu khác. Mỗi doanh
nghiệp phải lựa chọn và quyết định những chỉ tiêu quan trọng nhất phù hợp
với điề kiện sản xuất của doanh nghiệp để làm ra những sản phẩm mang sắc
thái riêng biêt, độc đáo khác với những sản phẩm cùng loại trên thị trờng.
Nhng nhìn chung, một số sản phẩm đợc coi là có chất lợng cao khi nó đảm
bảo thỏa mãn một hệ thống các chỉ tiêu ràng buộc. Việc xây dựng một hệ
thống các chỉ tiêu để đánh giá chất lợng sản phẩm tùy thuộc vào từng loại sản
phẩm cụ thể. Đối với các sản phẩm khác nhau chỉ tiêu đánh giá khác nhau;
phơng tiện kiểm tra khác nhau, có thể tựu trung lại thành hai ngành lớn đó là
ngành sản xuất phi thực phẩm và ngành sản xuất thực phẩm.
Đối với ngành sản xuất phi thực phẩm, các chỉ tiêu phản ánh:
- Độ bền.
- Độ chính xác.
13
- Độ an toàn, tiện lợi khi sử dụng.
- Hình thức thẩm mỹ.
- Tính kinh tế.
Đối với những sản phẩm thực phẩm, các chỉ tiêu chất lợng phải đạt:
- Giá trị dinh dỡng cao.
- Hệ số tiêu hóa lớn.
phẩm đợc bán ở mức giá thấp, còn nếu thứ hạng chất lợng sản phẩm cao thì
sẽ bán đợc với giá cao. Để đánh giá thứ hạng chất lợng sản phẩm ta có thể sử
dụng phơng pháp giá đơn vị bình quân. Công thức tính nh sau:
(Q
1
ì P
k1
) + ( Q
2
ì P
k2
) + .. + ( Q
n
ì P
kn
)
P =
Q
1
+ Q
2
+ ..+ Q
n
Trong đó: P: Giá đơn vị bình quân.
P
ki
: Giá đơn vị kỳ gốc của thứ hạng i ( i =
1,2, n).
Q
i
cần phải đợc nghiên cứu phân tích và dự đoán bao gồm: Trạng thái phát
triển của nền kinh tế ( giai đoạn của chu kỳ kinh tế ), tỷ lệ lạm phát, tỷ giá
hối đoái, lãi suất ngân hàng, các chính sách kinh tế của Nhà nớc
Các nhân tố kinh tế trong môi trờng kinh tế quốc dân tơng đối rộng, nó
ảnh hởng đến nhiều mặt của công tác chất lợng sản phẩm trong mỗi doanh
16
nghiệp, do đó các doanh nghiệp cần chọn lọc những ảnh hởng của các nhân
tố này ( cả ở dạng đe dọa và cơ hội).
Ngày nay, xu thế quốc tế hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế đợc đề cập
nhiều lần với cả mặt tích cực và tiêu cực của nó. Đối với chất lợng sản phẩm
của hàng hóa, xu hớng này đã tạo ra những tác động nhất định. Nó buộc hầu
hết các doanh nghiệp hiện nay phải tích cực tăng cờng hoạt động nâng cao
chất lợng sản phẩm của mình. Nếu sản phẩm của doanh nghiệp có chất lợng
tốt thì doanh nghiệp đó cùng với sản phẩm của mình sẽ có thể tồn tại và phát
triển đợc trong thị trờng cạnh tranh khốc liệt với quy mô rộng lớn nh hiện
nay. Ngợc lại, doanh nghiệp có thể sẽ bị phá sản nếu nh chất lợng sản phẩm
của họ không đáp ứng đợc những yêu cầu khắt khe của thị trờng đợc quốc tế
hóa . Vì vậy ảnh hởng của xu thế quốc tế hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế đối
với các chất lợng sản phẩm của các doanh nghiệp là rất lớn.
b.Môi trờng chính trị pháp lý.
Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng hoạt động trong một môi trờng kinh
doanh nhất định, trong đó môi trờng pháp lý với những chính sách và cơ
chế quản lý kinh tế có tác động trực tiếp và to lớn đến việc tạo ra và nâng cao
chất lợng sản phẩm của các doanh nghiệp. Cơ chế quản lý kinh tế tạo môi tr-
ờng thuận lợi cho đầu t nghiên cứu nhu cầu, thiết kế sản phẩm. Nó cũng tạo
ra sức ép thúc đẩy các doanh nghiệp phải nâng cao chất lợng sản phẩm thông
qua cơ chế khuyến khích cạnh tranh, bắt buộc các doanh nghiệp phải nâng
cao tính tự chủ sáng tạo trong cải tiến chất lợng sản phẩm. Mặt khác ,cơ chế
quản lý kinh tế còn làm môi trờng lành mạnh, công bằng, đảm bảo quyền lợi
cho các doanh nghiệp sản xuất đầu t cải tiến nâng cao chất lợng sản phẩm và
ra sản phẩm đó. Các chỉ tiêu kỹ thuật này lại phụ thuộc vào trình độ kỹ thuật,
công nghệ sử dụng để tạo ra sản phẩm. đây là giới hạn cao nhất mà chất lợng
sản phẩm có thể đạt đợc. Tiến bộ khoa học công nghệ tạo ra khả năng
không ngừng nâng cao chất lợng sản phẩm.Tác động của tiến bộ khoa học
18
công nghệ là không giới hạn, nhờ đó mà sản phẩm sản xuất ra luôn có các
thuộc tính chất lợng với những chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật ngày càng hoàn
thiện, mức thỏa mãn nhu cầu ngời tiêu dùng ngày càng tốt hơn.
Tiến độ khoa học công nghệ tạo ra phơng tiện điều tra, nghiên cứu khoa
học chính xác hơn, xác định đúng đắn nhu cầu và biến đổi nhu cầu thành đặc
điểm sản phẩm chính xác hơn nhờ trang bị những phơng tiện đo lờng, dự báo,
thử nghiệm , thiết kế tốt hơn, hiện đại hơn.
Công nghệ thiết bị mới ứng dụng trong sản xuất giúp nâng cao các chỉ
tiêu kinh tế kỹ thuật của sản phẩm.
Nhờ tiến bộ khoa học công nghệ làm xuất hiện các nguồn nguyên liệu
mới tốt hơn, rẻ hơn nguồn nguyên liệu sẵn có.
Khoa học quản lý phát triển hình thành những phơng pháp quản lý tiên
tiến hiện đại góp phần nắm bắt nhanh hơn, chính xác hơn nhu cầu khách
hàng và giảm chi phí sản xuất, từ đó nâng cao chất lợng sản phẩm, tăng mức
thỏa mãn khách hàng.
Trong thời đại ngày nay, sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ
có ảnh hởng mạnh mẽ và quyết định đến việc nâng cao chất lợng sản phẩm.
Nhờ những thành tựu khoa học mà các sản phẩm có đợc độ bền chính xác
hơn với những nguyên liệu rẻ hơn tốt hơn. Từ đó doanh nghiệp có thể tiến tới
hoàn thiện của mình nhằm đáp ứng tốt nhất những yêu cầu của ngời tiêu
dùng. Đặc biệt đối với các doanh nghiệp công nghiệp có đặc trng chủ yếu là
sủ dụng nhiều loại máy móc thiết bị với những quy trình công nghệ khác
nhau để sản xuất ra sản phẩm, thì khoa học công nghệ càng có ảnh hởng
quan trọng đến năng suất lao động, khả năng sản xuất của doanh nghiệp, trở
thành động lực chính thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp.
Chính vì vậy các doanh nghiệp cần phải sản xuất ra những sản phẩm có
chất lượng đáp ứng được nhu cầu thị trường. Để làm được điều này doanh
nghiệp phải tiến hành một cách nghiêm túc, thận trọng công tác điều tra
nghiên cứu nhu cầu thị trường, phân tích môi trường kinh tế-xã hội, xác
định chính xác nhân tố của khách hàng, thói quen truyền thống, phong tục
tập quán, lối sống, văn hoá, mục đích sử dụng sản phẩm, khả năng thanh
toán … nhằm đưa ra nhưng sản phẩm phù hợp với từng thị trường. Có như
vậy doanh nghiệp mới đáp ứng được một cách tốt nhất những yêu cầu đòi
hỏi của khách hàng; lúc này việc nâng cao chất lượng sản phẩm mới đi
đúng hướng.
* Tình hình cạnh tranh:
Một doanh nghiệp khi tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh cần đặc
biệt qua tâm tới các đối thủ cạnh tranh cùng ngành; mức độ cạnh tranh của
ngành mạnh hay yếu có ảnh hưởng rất lớn đến mọi hoạt động sản xuất kinh
doanh, và đương nhiên cũng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm
của doanh nghiệp.
Số lượng và quy mô sản xuất kinh doanh của chúng ảnh hưởng đến khả
năng cung ứng hàng hoá của ngành và mức độ gay gắt của cuộc cạnh tranh
nội bộ ngành. Điều này buộc các doanh nghiệp phải luôn có kế hoạch nhằm
nâng cao chất lượng sản phẩm của mình và thực hiện những kế hoạch đó
một cách nghiêm túc để có thể tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh
tranh khốc liệt.
Do vậy các thông tin về các đối thủ cạnh tranh và tình hình thị trường có
ảnh hưởng quan trọng tới chất lượng sản phẩm của mỗi doanh nghiệp.
* Nhà cung cấp:
Số lượng, chất lượng và sức ép của các nhà cung cấp những yếu tố đầu
vào phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có
21
ảnh hưởng lớn tới môi trường cạnh tranh nội bộ ngành. Hoạt động của họ
có tác động trực tiếp đến quá trình sản xuất sản phẩm của các doanh
* Khả năng về máy móc thiết bị công nghệ hiện có của doanh nghiệp:
Mỗi doanh nghiệp tiến hành hoạt động trong những điều kiện xác định
về công nghệ. Trình độ hiện đại của máy móc thiết bị và quy trình công
nghệ của doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sản phẩm, đặc
biệt những doanh nghiệp tự động hoá cao, có dây chuyền sản xuất hàng
loạt. Cơ cấu công nghệ thiết bị của doanh nghiệp và khả năng bố trí phối
hợp máy móc thiết bị, phương tiện sản xuất ảnh hưởng lớn đến các hoạt
động, chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp. Trong nhiều trường hợp,
trình độ và cơ cấu công nghệ quyết định đến chất lượng sản phẩm tạo ra.
Công nghệ lạc hậu khó có thể sản xuất ra chất lượng sản phẩm đạt chất
lượng cao, phù hợp với nhu cầu của khách hàng cả về kinh tế và các chỉ
tiêu kinh tế- kỹ thuật. Quản lý máy móc thiết bị tốt, trong đó xác định đúng
phương hướng đầu tư phát triển sản phẩm mới, hoặc cải tiến nâng cao chất
lượng sản phẩm trên sở công nghệ hiện có và đầu tư đổi mới là một biện
pháp quan trọng nâng cao chất lượng sản phẩm của mỗi doanh nghiệp. Khả
năng đầu tư đổi mới công nghệ lại phụ thuộc vào tình hình máy móc thiết
bị hiện có, khả năng tài chính và huy động vốn của doanh nghiệp. Sử dụng
tiết kiệm và có hiệu quả máy móc thiết bị hiện có, kết hợp giữa công nghệ
hiện có với đổi mới để nâng cao chất lượng sản phẩm là một trong những
hướng quan trọng nâng cao chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp.
* Nguyên vật liệu và hệ thống cung ứng nguyên vật liệu của doanh
nghiệp:
23
Một trong những yếu tố đầu vào tham gia cấu thành sản phẩm và hình
thành các thuộc tính chất lượng là nguyên vật liệu. Vì vậy, đặc điểm và
chất lượng nguyên vật liệu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm.
Mỗi loại nguyên vật liệu khác nhau sẽ hình thành những đặc tính chất
lượng khác nhau. Tính đồng nhất và tiêu chuẩn hoá của nguyên liệu là cơ
sở quan trọng cho ổn định chất lượng sản phẩm. Để thực hiện các mục tiêu
Tuy nhiên tuỳ thuộc vào quan điểm nhìn nhận khác nhau của các
chuyên gia, các nhà nghiên cứu, tuỳ thuộc vào đặc trưng nền kinh tế mà
người ta đưa ra nhiều khái niệm về quản trị chất lượng, sau đây là một số
khái niệm cơ bản đặc trưng cho các giai đoạn phát triển khác nhau:
Quan điểm phương tây cho rằng: Quản trị chất lượng là một hệ thống
hoạt động thống nhất, có hiệu quả của những bộ phận khác nhau trong
doanh nghiệp, chịu trách nhiệm triển khai các thông số chất lượng thoả
mãn hoàn toàn nhu cầu của người tiêu dùng.
Theo tiêu chuẩn của Liên Xô: Quản trị chất lượng là việc xây dựng, đảm
bảo và duy trì mức chất lượng tất yếu của sản phẩm khi thiết kế, chế tạo,
lưu thông và tiêu dùng.
Theo quan niệm của người Nhật: Quản trị chất lượng là hệ thống các
biện pháp, công nghệ sản xuất, tạo điều kiện sản xuất kinh tế nhất những
sản phẩm hoặc dịch vụ thoả mãn yêu cầu của người tiêu dùng với chi phí
thấp nhất.
Hiện nay có một số phương pháp quản trị chất lượng như: quản trị chất
lượng đồng bộ ( TQM ), quản trị chất lượng rộng rãi toàn công ty
(CWQM ), quản trị chiến lược chất lượng ( SQM ) … Mỗi phương pháp
25