Báo cáo thực địa địa lý kinh tế - xã hội tổng hợp Hà Nội - Hải Phòng – Quảng Ninh
MỞ ĐẦU
I. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA THỰC ĐỊA KINH TẾ - XÃ HỘI
1. Mục đích
Thực địa là một học phần bắt buộc đối với sinh viên trường Đại học Sư phạm
nói chung và khoa Địa lí nói riêng và nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong chương
trình đạo tạo hệ cử nhân của khoa Địa lí. Thực địa kinh tế - xã hội không nằm ngoài
nội dung đó. Học phần này được thực hiện sau khi sinh viên có kiến thức cơ bản về
Địa lí kinh tế - xã hội đại cương và Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam.
Thông qua việc khảo sát và nghiên cứu không gian kinh tế - xã hội trong thực tế
sinh viên có cơ hội để củng cố, cập nhật và vận dụng những kiến thức đã được tích lũy
qua giáo trình, thông tin đại chúng vào trong thực tế. Qua đó sinh viên đưa ra những
nhận định riêng về không gian lãnh thổ nghiên cứu dựa trên kiến thức đã tích lũy. Việc
tiếp cận các đối tượng kinh tế - xã hội giúp cho sinh viên thấy được mối quan hệ và sự
tác động qua lại giữa các thành phần tự nhiên, kinh tế và xã hội trong một không gian
nhất định,
Bên cạnh đó, thực địa kinh tế - xã hội giúp sinh viên làm quen với việc thu thập
tài liệu, số liệu trong quá trình nghiên cứu và khảo sát các đối tượng. Đặc biệt sinh
viên biết vận dụng các phương pháp luận khi nghiên cứu các đối tượng kinh tế - xã hội
trên lãnh thổ nào đó.
Mặt khác, sinh viên có dịp vận dụng những kiến thức đã học để giải thích sự
phân bố, quá trình phát sinh, phát triển và sự thay đổi của các đối tượng kinh tế - xã
hội.
Thực địa không chỉ giúp sinh viên hoàn thành tốt về chuyên môn mà quan trong
giúp cho sinh viên biết trân trọng giá trị cuộc sống của người lao động, tình yêu quê
hương đất nước, sinh viên có hành vi tích cực nhằm đóng góp sức lực của mình vào
công cuộc xây dựng quê hương đất nước.
2. Yêu cầu.
Để đạt được mục đích trong quá trình thực địa đòi hỏi mỗi cá nhân phải có tính
kỉ luật cao, ý thức trách nhiệm trong công việc, tinh thần đoàn kết giúp đỡ nhau trong
mọi hoàn cảnh khó khăn.
tế các đối tượng tự nhiên, kinh tế - xã hội tại địa bàn nghiên cứu.
2. Phương pháp bản đồ.
2
Báo cáo thực địa địa lý kinh tế - xã hội tổng hợp Hà Nội - Hải Phòng – Quảng Ninh
Sử dụng những bản đồ hiện có như là tài liệu tham khảo bổ ích cho việc nghiên
cứu. Thành lập các bản đồ chuyên đề về nội dung nghiên cứu cho báo cáo thực địa.
3. Phương phân tích, đánh giá tổng hợp trong phòng.
Xử lý các thông tin thu thập được từ điều tra thực địa và các tài liệu, số liệu cần
thiết từ các nguồn khác nhau kết hợp với việc tham khảo tài liệu liên quan. Phân tích,
đánh giá tổng hợp các thông tin thu thập được để đưa ra các kết quả nghiên cứu nghiên
cứu chính thức theo mục đích và nội dung báo cáo.
4. Phương pháp sử dụng hệ thống thông tin địa lí (GIS).
Sử dụng hệ thống các phần mềm để thu thập thông tin lưu trữ và quản lí các
thông tin, phân tích và xử lí thông tin, triết xuất và hiện thị thông tin theo mục đích và
nội dung nghiên cứu của báo cáo. Các phần mềm chính có thể sử dụng trong quá trình
thực hiện báo cáo là Word, Mapinfo…
3
Báo cáo thực địa địa lý kinh tế - xã hội tổng hợp Hà Nội - Hải Phòng – Quảng Ninh
PHẦN NỘI DUNG
Chương I: MỘT SỐ NGUỒN LỰC TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA
TỈNH QUẢNG NINH.
I. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ.
Quảng Ninh là một tỉnh biên giới, nằm phía đông bắc của Tổ quốc. Quảng Ninh
vừa có phần đất liền rộng lớn, vừa có vùng hải đảo bao la với hàng nghìn hòn đảo lớn
nhỏ nhấp nhô trên biển. Quảng Ninh là một cửa ngõ quan trọng của nước ta, theo quốc
lộ 18A và các cảng Cửa Ông, Hồng Gai, Cái Lân có thể dễ dàng vào vùng đồng bằng
sông Hồng. hay ra thế giới bên ngoài như các nước ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản…
Quảng Ninh có tọa độ địa lí từ 20
0
40
Quảng Ninh có 2 thành phố (thành phố Hạ Long và thành phố Móng Cái), có 2 thị xã
(Thị xã Cẩm Phả và thị xã Uông Bí), có 10 huyện: Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà, Đông
Triều, Tiên Yên, Yên Hưng, Hoành Bồ, Ba Chẽ, Vân Đồn và Cô Tô với 11 thị trấn, 45
phường và 130 xã.
Quảng Ninh với vịnh Hạ Long được công nhận 2 lần là di sản của thế giới, với
hàng trăm di tích lịch sử, văn hóa là một trung tâm du lịch biển hàng đầu của Việt
4
Báo cáo thực địa địa lý kinh tế - xã hội tổng hợp Hà Nội - Hải Phòng – Quảng Ninh
Nam. Với vị trí địa lí mang lại Quảng Ninh có những điều kiện vô cùng thuận lợi để
thu hút vốn đầu tư cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
II. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN.
1. Địa hình.
Vùng đất Quảng Ninh có lịch sử địa chất trẻ hơn các khu vực khác. Đây là nơi
tiếp giáp giữa miền nền và địa máng, lại thuộc nhiều đới kiến tạo có đặc điểm phát
triển khác nhau nên cấu trúc địa chất của lãnh thổ phức tạp. Là một tỉnh miền núi thuộc
vùng Đông Bắc, Quảng Ninh có đầy đủ các dạng địa hình đồi núi, đồng bằng ven biển
và cả hệ thống đảo và thềm lục địa.
Diện tích tự nhiên của Quảng Ninh là 5938km
2
, trong đó đồi núi và núi thấp là
một bộ phận quan trọng nhất chiếm tới 80% diện tích, đồng bằng ven biển chỉ chiếm
khoảng 18% còn lại là diện tích đồi núi đá vôi.
Địa hình của Quảng Ninh có sự thay đổi rõ rệt cụ thể ở phía Tây Bắc là vùng đồi
núi thấp, tiến đến là dãy núi cao – cánh cung Đông Triều, phía nam và đông nam là
miền đồng bằng ven biển, ngoài khơi là hàng nghìn đảo nhỏ đá vôi hoặc sa, diệp thạch,
tạo thành bức bình phong chắn gió cho đất liền. Đồi núi và vịnh đảo chạy song song,
đối xứng nhau qua bờ biển.
Có thể chia địa hình Quảng Ninh thành các khu vực sau đây:
- Vùng cánh cung Đông Triều – Móng Cái: Vùng này chạy theo hướng tây –
đông ở phía nam và hướng đông bắc – tây nam ở phía bắc. Nó có vai trò quan trọng
Cô Tô...Các núi đá trên đảo có độ cao trung bình từ 150m đến 200m. Đỉnh cao nhất là
núi Nàng Tiên cao 470m trên đảo Cái Bầu. Ngoài ra các đảo lớn, còn có hàng nghìn
đảo nhỏ xếp thành hai dãy nối đuôi nhau từ núi Ngọc đến nam Hạ Long. Đó là khu vực
núi đá vôi cổ ngập nước biển. Đây là vùng caxtơ sót điển hình có các vách đá dốc
đứng, sắc nhọn, nhiều hang động.
Đường bờ biển của Quảng Ninh dài 250km, bị chia cắt mạnh bởi đồi núi ăn ra
sát biển và bởi các vịnh đảo, cửa sông. Đoạn từ Móng Cái đến Cửa Ông tương đối
bằng phẳng được bồi tụ, mài mòn tạo nên các bãi triều rộng, sú vẹt mọc trên diện tích
lớn (80 nghìn ha), đứng thứ hai của cả nước (sau Cà Mau). Riêng bờ biển Trà Cổ sóng
mạnh, tạo nên các bãi ven biển dựng, nhiều hốc mòn ở chân núi đá vôi. Ven biển có
nhiều bãi biển đẹp thuận lợi cho phát triển kinh tế biển.
2. Khí hậu
Khí hậu Quảng Ninh mang đặc tính chung của khí hậu các tỉnh miền bắc với đặc
điểm là khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh, nhưng chịu ảnh hưởng mạnh nhất
6
Báo cáo thực địa địa lý kinh tế - xã hội tổng hợp Hà Nội - Hải Phòng – Quảng Ninh
của gió mùa Đông Bắc và ảnh hưởng ít hơn của gió mùa Đông Nam so với các địa
phương khác.
Do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc mạnh nhất nên nhiệt độ mùa đông ở đây
thấp hơn các khu vực khác cùng vĩ độ từ 1
0
c đến 3
0
c. Nhiệt độ trung bình năm của
Quảng Ninh là 21
0
c. Mùa đông ở Quảng Ninh kéo dài từ 4 – 5 tháng, từ tháng VI năm
trước đến tháng III năm sau. Mùa hạ từ tháng V đến tháng IX, nóng và mưa nhiều, với
gió thịnh hành hướng Đông Nam do ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam, của dải hội tụ
nhiệt đới và của các xoáy thuận nhiệt đới.
dinh dưỡng dễ tiêu. Loại đất này chiếm diện tích lớn nhất là đất feralit vàng đỏ và
feralit thứ sinh phát triển ở địa hình đồi, núi thấp.
- Đất feralit vàng đỏ có mùn trên núi có ở những vùng núi cao trên 700m thuộc
cánh cung Đông Triều. Loại đất này chiếm khoảng 7.8% diện tích tự nhiên.
- Đất feralit vàng đỏ trên vùng đồi, núi thấp (dưới 700m) phân bố hai sườn của
cánh cung Đông Triều với diện tích 440.000 ha. Loại đất này phổ biến ở vùng đồi
Hoành Bồ, tây Tiên Yên, Quảng Hà, Bình Liêu.
- Đất phù sa cổ có diện tích 40.105 ha phân bố ở Đầm Hà, Hà Cối, Móng Cái.
Vùng đất phù sa trồng lúa tập trung ở Yên Hưng, Đông Triều, Quảng Hà và lưu vực
các sông, suối, thung lũng thuộc Tiên Yên, Ba Chẽ.
- Đất mặn ven biển phân bố dọc ven biển và ven sông Bạch Đằng, Đá
Bạc..chiếm diện tích khoảng 50.900ha. Một số vùng được khai thác để trồng cói, làm
ruộng muối, nuôi thủy sản và rừng sú vẹt.
- Đất cát và cồn cát ven biển với diện tích 6087 ha phân bố ven biển, ven các
đảo, nhiều nơi là những bãi cát trắng, nguyên liệu tốt để làm thủy tinh.
- Đất vùng đồi đá vôi ở các đảo, quần đảo có diện tích là 46627 ha. Trên các đảo
đất như Tuần Châu, đảo Ngọc Vừng được cấu tạo bởi đá phiến thạch có đất feralit màu
vàng đỏ.
5. Sinh vật.
Rừng Quảng Ninh phân bố ở những địa hình thấp, dễ khai thác. Rừng nguyên
sinh hầu như không có mấy, mà chủ yếu là kiểu rừng thứ sinh. Độ che phủ rừng hiện
nay chỉ còn 32%, chủ yếu là rừng thứ sinh và rừng trồng. Quảng Ninh còn có rừng
ngập mặn đứng thứ hai của nước ta sau rừng ngập mặn ở Cà Mau với các loài cây điển
hình như sú, vẹt, đước. Loại rừng này mọc phổ biến từ Móng Cái – Tiên Yên.
8
Báo cáo thực địa địa lý kinh tế - xã hội tổng hợp Hà Nội - Hải Phòng – Quảng Ninh
Ở các đảo và quần đảo, rừng còn bảo tồn, như ở đảo Ba Mùn có rừng nguyên
sinh chạy dài trên 20 km, rộng 1,5 km với hai tầng thực vật cao thấp. Tầng nguyên
sinh là các loại cây gỗ quí hiếm như nghiến, sến, táu…Tầng thứ sinh có nhiều cây
thuốc quý như ngũ gia bì, tam thất…
nằm trên trục quốc lộ 18, 10, 4B. Sự phát triển của đô thị đã thu hút dân cư tập trung
theo quốc lộ, hình thành dải dân cư ven biển. Quảng Ninh thuộc diện tỉnh có số dân
trung bình trong cả nước. Tỷ lệ tăng dân số bình quân từ năm 1999 đến 2009 là 1,3%
(trung bình cả nước là 1,2%).
Mật độ dân số trung bình Quảng Ninh năm 2008 là 182 người/km
2
thấp hơn so
với mật độ dân số trung bình của cả nước (260 người/km
2
) và đứng hàng thứ 4 trong
các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc. Dân cư phân bố không đồng đều giữa các
miền, giữa các huyện. Phần phía tây chỉ chiếm 41,52% diện tích, kéo dài từ Đông
Triều đến thị xã Cẩm Phả bao gồm cả thành phố Hạ Long, tập trung tới 68,7% dân số
của toàn tỉnh. Ngược lại phần phía đông với 58.48% diện tích, nhưng dân số chỉ có
31.3%. Dân số tập trung đông đúc các đô thị ven biển ngược dân số thưa thớt tại các
vùng sâu trong tỉnh.
1.2. Nguồn lao động
Nguồn lao động 606.5 nghìn người, trong đó số lao động tham gia vào các hoạt
động kinh tế chiếm trên 90%. Dân số tập trung chủ yếu các ngành như nông, lâm, ngư
nghiệp (274.2 nghìn người); khai thác mỏ (70.6 nghìn người); sửa chữa xe động cơ
(78,1 nghìn người). Do ngành khai thác mỏ năm qua tương đối phát triển nên đã thu
hút nhiều lao động nam từ các tỉnh khác và trở thành đội ngũ lao động đông đảo cho
tỉnh Quảng Ninh.
Quảng Ninh là tỉnh có cơ cấu dân số trẻ: 51,4% dân số dưới 24 tuổi, tỉ lệ 0 – 14
tuổi trên 30%, tỉ lệ trên 60 tuổi là 7,2%. Như vậy Quảng Ninh có lực lượng lao động
dồi dào. Đây là lợi thế cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Về thành phần dân tộc: Quảng Ninh có 21 dân tộc sinh sống, trong đó dân tộc
Việt chiếm trên 80% tổng số dân, ngoài ra còn có người Dao, Tày, Sán Chay, Sán Chỉ,
Cao Lan, Hoa…Sự đa dạng về truyền thống sản xuất và văn hóa cua các dân tộc là một
tiềm năng to lớn để phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, cần phải có chính sách giúp
-Công nghiệp, xây dựng 49,7 46,3 48,5
Dịch vụ 44,0 49,7 50,1
-Nông,lâmnghiệp,thuỷ sản 6,2 4,0 1,4
4 GDP/người(USD)
11
Báo cáo thực địa địa lý kinh tế - xã hội tổng hợp Hà Nội - Hải Phòng – Quảng Ninh
-Theo giá so sánh 1994 352,9 950,0 3.127,8
-Theo giá hiện hành 869,3 1.757,1 6.292,7
Nguồn: http://www.quangninh.gov.vn
Chương 2: HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TỈNH QUẢNG NINH.
I. KHÁI QUÁT CHUNG
Nền kinh tế Quảng Ninh được phát triển dựa trên việc khai thác tổng hợp của sự
đa dạng về tài nguyên thiên nhiên và nguồn lực kinh tế - xã hội. Với thế mạnh ấy
Quảng Ninh đã xây dựng được một cơ cấu ngành kinh tế tương đối đa dạng, hoàn thiện
và điển hình ở nước ta, trong đó có những ngành mũi nhọn đóng vai trò quan trọng
trong sự phát triển của tỉnh như công nghiệp, du lịch. Các ngành nông nghiệp, thương
mại, dịch vụ giao thông vận tải và thông tin liên lạc cùng các ngành khác, đang khởi
sắc và có những đóng góp không nhỏ.
Giá trị tổng sản phẩm của tỉnh chiếm khoảng 5% (năm 2007) giá trị tổng sản
phẩm của cả nước, 12% giá trị tổng sản phẩm của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2000 – 2008 là 13,3%. GDP bình quân theo đầu
người đạt 869,3 USD (năm 2005).
Biểu đồ thể hiện tổng sản phẩm và chỉ số phát triển giai đoạn (2003 – 2007)
Giá trị so sánh 1994
12
Tổng sản phẩm
Chỉ số phát triển (năm 2003 = 100%)
2003 2004
2005
2006
Dương. Từ năm 1990 tới nay việc sản xuất ngành than có nhiều biến động song đang
dần đi vào ổn định.
Bảng 1: Sản lượng than Quảng Ninh giai đoạn 1995 – 2007(Đơn vị: triệu tấn)
13
Báo cáo thực địa địa lý kinh tế - xã hội tổng hợp Hà Nội - Hải Phòng – Quảng Ninh
Năm 1995 1996 1997 1998 2000 2001 2002 2003 2004 2006 2007
Sản
lượng
7,5 9,4 10,8 11,3 11,0 12,6 14,5 14 27,3 36.8 40
Ngành công nghiệp khai thác than đóng vai trò quan trọng đối với tỉnh Quảng
Ninh. Đó là ngành mang lại thu nhập chính cho tỉnh đồng thời cùng thu hút nhiều lao
động trong tỉnh cũng như ngoài tỉnh. Thời gian gần đây do nhu cầu trong và ngoài
nước về than ngày càng nhiều làm cho giá trị của than ngày càng tăng.
1.1.1 Cơ cấu tổ chức ngành than.
Ngành công nghiệp than của Quảng Ninh không phải do tỉnh quản lí mà do Bộ
công thương trực tiếp quản lí bởi Tập đoàn than – khoáng sản Việt Nam. Hiện nay trên
địa bàn tỉnh có: Công ty than Cẩm Phả, Công ty than Quảng Ninh, Công ty than Hòn
Gai.
- Công ty than Uông Bí: phạm vi khai thác kéo dài từ Bãi Cháy đến hết Đông
Triều, phương thức khai thác chủ yếu là hầm lò. Sản lượng khai thác than của công ty
năm 2008 là 2,37 triệu tấn than. Mục tiêu phấn đấu của công ty trong những năm tới là
nâng sản lượng khai thác than của các mỏ thuộc vùng than Uông Bí lên 10-12.5triệu
tấn than vào năm 2010 và từ 13- 14.6triệu tấn vào năm 2015. Với 7 công ty thành viên,
hiện nay công ty đang quản lý , thực hiện 7 dự án khai thác mỏ vừa và nhỏ được phê
duyệt với công suất từ 100.000- 600.000 tấn /năm.
- Công ty than Hồng Gai: Địa bàn khai thác từ Đèo Bụt đến phà Bãi Cháy. Với
các mỏ lớn là Hà Lầm, Hà Tu và Tân Lập.
- Công ty than Cẩm Phả: là công ty than lớn nhất Quảng Ninh với gần 40.000
công nhân và 6 mỏ sản xuất than có 3 mỏ khai thác theo phương thức hầm lò: Thống
Nhất, Mông Dương, Khe Chàm, 3 mỏ khai thác theo hình thức lộ thiên: Đèo Nai, Cọc
tiến hành khi hệ số bốc đất đá thấp (dưới 4m
3
đất đá/tấn than), trong đó thế giới là
9m
3
/tấn than.
Sơ đồ công nghệ khai thác than lộ thiên.
Khai thác lộ thiên đem lại năng suất cao hơn so với năng suất khai thác hầm lò
và giá thành cũng hạ hơn, vì khai thác lộ thiên chỉ cần bóc đất đá để xúc than. Tuy
nhiên, khai thác lộ thiên ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, làm thay đổi địa
hình, ô nhiễm nguồn nước, không khí…
Công ty cổ phần than Cao Sơn.
Công ty cổ phần Cao Sơn được thành lập 06/06/1974. Đoàn thực địa khảo sát tại
Công ty cổ phần Cao Sơn vào sáng ngày 13/10/2009. Năm 2005, công ty đã vinh dự
được Đảng Và Nhà nước phong tặng “ Anh hùng lao động” vì đã có thành tích đặc biệt
15
Thiết kế
Mở mong
khai thác,
tháo dỡ đất
đá bằng nổ
mìn
Bốc xúc
Than và đất
đá được đưa
lên các
phương tiện
vận tải
i
Vận tải