TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
------ ------
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Nghiên cứu tác động chính sách hỗ trợ lãi suất năm 2009 đến
phát triển làng nghề huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên
Tên sinh viên
: Hoàng Tùng
Chuyên ngành đào tạo : Kinh tế nông nghiệp
Lớp
: KT 51B
Niên khoá
: 2006 - 2010
Giảng viên hướng dẫn
: TS. Trần Văn Đức
HÀ NỘI - 2010
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN........................................Error: Reference source not found
(Tính bình quân 1 hộ sản xuất trong một tháng)..................................................................76
ĐVT: triệu đồng...................................................................................................................76
(Tính bình quân 1 hộ sản xuất trong một tháng)..................................................................78
(Tính bình quân 1 hộ sản xuất trong một tháng)..................................................................80
MỤC LỤC............................................................................................................................vii
DANH MỤC BẢNG...........................................................................................................viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ........................................................................................................ix
2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT........................................................................................x
3
DANH MỤC BẢNG
MỤC LỤC..............................................................................................................................2
DANH MỤC BẢNG..............................................................................................................4
DANH MỤC BIỂU ĐỒ.........................................................................................................5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT........................................................................................6
3.1.1.1 Vị trý địa lý và địa hình............................................................................................39
3.1.1.2 Thời tiết và khí hậu...................................................................................................40
3.1.1.3 Tình hình đất đai của huyện.....................................................................................41
3.1.2.1 Tình hình dân số và lao động...................................................................................43
3.1.2.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật.............................................................................................45
Hiện nay nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp chủ yếu được lấy từ nguồn nước của Sông
Hồng, cùng với hệ thống thuỷ lợi khá hoàn thiện nên việc cung cấp nước cho sản xuất
nông nghiệp luôn đáp ứng. Một số ít hộ sử dụng nước ngầm khai thác từ các giếng khoan,
chủ động hơn trong sản xuất nông nghiệp............................................................................46
3.1.2.1 Tình hình dân số và lao động...................................................................................43
3.1.2.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật.............................................................................................45
Hiện nay nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp chủ yếu được lấy từ nguồn nước của Sông
Hồng, cùng với hệ thống thuỷ lợi khá hoàn thiện nên việc cung cấp nước cho sản xuất
nông nghiệp luôn đáp ứng. Một số ít hộ sử dụng nước ngầm khai thác từ các giếng khoan,
chủ động hơn trong sản xuất nông nghiệp............................................................................46
3.1.2.3 Tình hình phát triển kinh tế của huyện.....................................................................46
3.2.1.1 Số liệu thứ cấp..........................................................................................................49
3.2.2.2 Số liệu sơ cấp............................................................................................................49
Bảng 4.8: Chi phí hoạt động SXKD làng nghề Mây tre đan................................................74
(Tính bình quân 1 hộ sản xuất trong một tháng)..................................................................74
ĐVT: triệu đồng...................................................................................................................74
Làng nghề gốm sứ................................................................................................................75
Từ khi có chính sách hỗ trợ lãi suất với mức lãi suất 0,4% của Chính phủ, các cơ sở SXKD
gốm sứ Xuân Quan đã chủ động vay vốn đầu tư để mở rộng quy mô sản xuất. Cụ thể:.....75
Bảng 4.9: Chi phí hoạt động SXKD làng nghề Gốm sứ......................................................76
(Tính bình quân 1 hộ sản xuất trong một tháng)..................................................................76
ĐVT: triệu đồng...................................................................................................................76
(Tính bình quân 1 hộ sản xuất trong một tháng)..................................................................78
(Tính bình quân 1 hộ sản xuất trong một tháng)..................................................................80
MỤC LỤC............................................................................................................................vii
DANH MỤC BẢNG...........................................................................................................viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ........................................................................................................ix
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT........................................................................................x
5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1
1.1 Tính cấp thiêt của đề tài
Làng nghề truyền thống là một trong những đặc thù của nông thôn Việt
Nam, với lịch sử phát triển hằng trăm năm, song song với quá trình phát triển
kinh tế, văn hóa, xã hội và nông nghiệp của đất nước, của từng địa phương.
6
Làng nghề không chỉ mang các giá trị trị về kinh tế mà nó còn mang đậm tính
văn hóa, giáo dục và bản sắc dân tộc sâu sắc. Lúc đầu các ngành nghề chỉ
mang tính chất là nghề phụ, hoạt động trong lúc nông nhàn, các sản phẩm làm
ra chủ yếu phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của người dân. Càng
ngày cùng với sự phát triển của xã hội, vai trò của làng nghề ngày càng được
khẳng định. Ngoài việc tận dụng những lao động dư thừa lúc nông nhàn, các
làng nghề còn giải quyết một lượng lớn công việc cho các lao động chưa có
việc làm, tạo nguồn thu chính cho nhiều gia đình. Bên cạnh đó nhiều sản
phẩm sản xuất trực tiếp tại các làng nghề trở thành thương phẩm trao đổi, có
giá trị xuất khẩu cao. Theo thống kê của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, hiện
nay nước ta có 2.790 làng nghề, phân bố tập trung chủ yếu tại đồng bằng sông
Hồng, chiếm khoảng 60%, miền Trung chiếm khoảng 30% và miền Nam
khoảng 10%. [4]
Năm 2007 và năm 2008, nền kinh tế nước ta gặp phải nhiều khó khăn,
thách thức khi phải đứng trước hai cuộc khủng hoảng lớn là khủng hoảng tài
chính, kinh tế thế giới năm 2008 và khủng hoảng giá nhiên liệu, nguyên liệu
năm 2007 - 2008 cộng với lạm phát trong nước…đã đẩy nền kinh tế vào tình
trạng suy thoái. [12] Thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường xuất khẩu
bị thu hẹp đã có tác động tiêu cực tới nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội (KTXH)
của nước ta. Mặt khác trong nước, thiên tai dịch bệnh xảy ra liên tiếp trên địa
bàn cả nước. Điều này ảnh hưởng không chỉ hoạt động sản xuất tiêu dùng của
người dân, mà ảnh hưởng đến toàn bộ các hoạt động kinh tế, chính trị của đất
tài: “Nghiên cứu tác động chính sách hỗ trợ lãi suất năm 2009 đến phát
triển làng nghề huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu tác động chính sách hỗ trợ lãi suất năm 2009 đến phát triển
làng nghề huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên, đồng thời tìm hiểu thực trạng
phát triển làng nghề và đưa ra một số giải pháp thúc đẩy phát triển làng nghề
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
8
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận, thực tiễn về hỗ trợ lãi suất và phát triển
làng nghề.
- Tìm hiểu thực trạng hoạt động SXKD của các làng nghề tại huyện
Văn Giang tỉnh Hưng Yên.
- Tìm hiểu tác động của chính sách hỗ trợ lãi suất năm 2009 đến phát
triển làng nghề tại huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên.
- Chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách hỗ trợ lãi suất năm 2009.
- Đề ra định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chính sách hỗ
trợ lãi suất đến phát triển làng nghề tại huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên.
1.3 Đối tượng & phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là chính sách hỗ trợ lãi suất năm 2009 mà Chính
phủ ban hành và các làng nghề được nghiên cứu thuộc huyện Văn Giang tỉnh
Hưng Yên.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: tác động của chính sách hỗ trợ lãi suất năm
2009 đến việc phát triển làng nghề thuộc huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên.
- Phạm vi về không gian: Đề tài được nghiên cứu tại 2 xã đại diện là xã
Vai trò của lãi suất được thể hiện trong nền kinh tế thị trường, lãi suất
giữ vị trí khá quan trọng.
Lãi suất là đòn bẩy, kích thích sự tăng trưởng kinh tế, góp phần thực
hiện mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia. Chính sách hỗ trợ lãi suất, nếu tạo
ra được mức lãi suất cho vay thấp hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân sẽ có tác
dụng thúc đẩy kích thích các doanh nhiệp tăng nhu cầu vốn đầu tư, mở rộng
sản xuất, đổi mới trang thiết bị, trang bị công nghệ vốn hiện đại bằng nguồn
vốn vay ngân hàng. Hiệu quả cuối cùng sẽ được tạo ra một nguồn vốn của cải
xã hội, tổng thu nhập quốc dân sẽ tăng lên rất nhiều.
Lãi suất là công cụ thúc đẩy nhanh sự cạnh tranh giữa các NHTM, lãi
suất là giá cả vốn, do vậy thông qua lãi suất của các NHTM sẽ điều chỉnh hoạt
10
động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng của mình mà kết quả cuối
cùng là nền kinh tế của các doanh nghiệp cac tầng lớp nhân dân được hưởng
lợi giá rẻ và chất lượng dịch vụ cao.
Lãi suất là công cụ để điều chỉnh các hoạt động đầu tư trong nền kinh
tế, hay nói cách khác khi các doanh nghiệp, các tầng lớp nhân dân có vốn đầu
tư vào lĩnh vực nào đó cần phải lấy lãi suất tín dụng trong nền kinh tế làm cơ
sở và việc quyết định. It nhất hiệu quả đầu tư vào các lĩnh vực khác để sinh
lời phải có tỷ lệ lớn hơn hoặc cùng lắm phải bằng lãi suất tín dụng.
Lãi suất tín dụng còn là công cụ để kiềm chế lạm phát rất hữu ích thông
qua chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước (NHNN). Trong trường hợp
nền kinh tế có lạm phát, NHNN sẽ sử dụng chính sách thắt chặt tiền tệ, tăng
lãi suất để thu hút tiền nhàn rỗi trong lưu thông về nhằm điều hòa lượng tiền
trong lưu thông, cân đối với khối lượng hàng hóa.
2.1.1.2 Phân loại lãi suất
Dựa trên chức năng nhiệm vụ và mục đích người ta phân ra 3 loại lãi
NHNN trong ngắn hạn. Theo luật NHNN, lãi suất cơ bản chỉ áp dụng cho
Đồng Việt Nam do NHNN công bố, làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn
định lãi suất kinh doanh. Lãi suất cơ bản được dựa trên lãi suất thị trường liên
ngân hàng, lãi suất nghiệp vụ ngân hàng thị trường mở của NHNN, lãi suất
huy động vốn đầu vào của các tổ chức tín dụng và cac xu hướng biến động
vốn cung – cầu. Theo luật dân sự các tổ chức tín dụng không cho vay với lãi
suất cao gấp rưỡi lãi suất cơ bản.
Tuy được nhắc đến trong luật NHNN và luật này có hiệu lực từ ngày 01
tháng 10 năm 1998 song lãi suất cơ bản chỉ được công bố lần đầu vào 30
tháng 5 năm 2000. trong lần đầu công bố lãi suất cơ bản ở mức 7,2%/năm.
Vào thời điểm tháng 6 năm 2008, lãi suất cơ bản là 14%. Điều này có nghĩa
các tổ chức tín dụng có thể quyết định mức lãi suất cho vay của mình cao tới
21%/năm. Lãi suất cơ bản được NHNN công bố hàng tháng.
Các công cụ điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương
nước ngoài tương tự như lãi suất cơ bản của NHNN Việt Nam là Fer Funds
12
Rate của Hoa Kỳ, London Interbank Offered Rate (LIBOR) của Anh, Tokyo
Interbank Offered rate (TIBOR) của Nhật Bản, Euro Interbank Offered Rate
của Liên minh Châu Âu.
Rcb = Rd + Rtn
Trong đó:
- Rcb: Lãi suất cơ bản
- Rd: Lãi suất huy động
- Rtn: Tỷ lệ thu nhập do đầu tư của ngân hàng
• Lãi suất cho vay
Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản và truyền thống của ngân hàng.
Khi cạnh tranh trên thị trường cho vay ngày càng cao, ngân hàng phải cố gắng
- Rtd: tỷ lệ bù đắp rủi ro tín dụng do ngân hàng ước lượng
- Rth: Tỷ lệ điều chỉnh rủi ro thời hạn
Thị trường tiền tệ liên ngân hàng là thị trường mà các NHTM thực hiện
việc vay và cho vay lẫn nhausau khi họ đã tự cân đối nguồn vốn và sử dụng
vốn tại ngân hàng của mình. Lãi suất cho vay liên ngaanh hàng là mức lãi suất
trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, nó chỉ dẫn khá chính xác về chi phí vốn
vay của các NHTM và cung – cầu vốn trên thị trường.
2.1.2 Chính sách hỗ trợ lãi suất
2.1.2.1 Khái niệm chính sách hỗ trợ lãi suất
Hỗ trợ lãi suất là hình thức hỗ trợ về lãi suất tiền vay của Chính phủ đối
với một số đối tượng vay vốn NHNN nhất định, trong một khoảng thời gian
nhất định (theo chu kỳ kinh doanh, theo quý, theo năm hoặc không có thời
hạn). Hỗ trợ lãi suất là chủ trương lớn của Đảng, nhà nước nhằm ngăn chặn
suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng và an sinh xã hội. [2]
Chính sách hỗ trợ lãi suất là các quyết định của Thủ tướng hoặc phó thủ
tướng ký duyệt, thông qua việc hỗ trợ mức lãi suất vay hàng năm cho các đối
tượng cụ thể có trong quyết định. [2]
Ví dụ như Quyết định 131 của Thủ tướng Chính phủ ký: thì đối tượng
được hưởng là các cá nhân, tổ chức hoạt động SXKD với mức lãi suất hỗ trợ
14
là 4% /năm. Các chính sách này có thể kéo dài 1 năm, 2 năm hoặc cũng có thể
trong một thời gian dài, cho đến khi có các quyết định khác liên quan về việc
chỉnh sửa các nội dung có trong quyết định trước.
Tùy theo tình hình nền kinh tế mà Chính phủ đưa ra mức lãi suất cơ
bản hoặc mức hỗ trợ lãi suất với các đối tượng vay vốn. Phương thức thực
hiện hỗ trợ lãi suất là khi thu tiền vay, các NHTM, công ty tài chính giảm trừ
số tiền lãi phải trả cho khách hàng vay bằng với số lãi tiền vay được hỗ trợ lãi
ban hành
6. Quyết định 1048/QĐ-NHNN 23/8/2004 của NHNN về lãi suất tiền
gửi bàng VNĐ tại NHNN của các tổ chức tín dụng có số dư tiền gửi huy động
phải tính dự trữ bắt buộc dưới 500 triệu đồng, của Quỹ tín dụng nhân dân cơ
sở và của Ngân hàng Chính sách xã hội
7. Thông tư 14/2009/TT-NHNN ngày 16/9/2009 của NHNN Việt Nam
quy định chi tiết thi hành việc hỗ trợ lãi suất đối với các khoản vay của người
nghèo và các đối tượng chính sách khác tại Ngân hàng Chính sách xã hội.
8. Thông tư 06/2009/TT-NHNN của NHNN quy định chi tiết về chính
sách cho vay ưu đãi lãi suất theo Chương trình hỗ trợ các huyện nghèo tại
Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ
9. Thông tư 183/2009/TT-BTC về hướng dẫn cấp bù lãi suất do thực
hiện chính sách cho vay ưu đãi lãi suất theo chương trình hỗ trợ các huyện
nghèo tại Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ do
Bộ Tài chính ban hành. [15]
2.1.2.2 Vai trò của chính sách hỗ trợ lãi suất
Lãi suất là một trong những biến số được theo dõi một cách chặt chẽ
nhất trong nền kinh tế. Diễn biến của nó được đưa tin hàng ngày trên các
phương tiện thông tin đại chúng. Sự dao động của lãi suất ảnh hưởng trực tiếp
đến các quyết định của cá nhân, doanh nghiệp cũng như hoạt động của các tổ
chức tín dụng và toàn bộ nền kinh tế.
16
Việc Chính phủ đưa ra mức hỗ trợ lãi suất nhằm một số mục tiêu là hỗ
trợ doanh nghiệp, hộ sản xuất duy trì SXKD, mở rộng đầu tư, giảm giá thành
để tăng khả năng cạnh tranh, tạo việc làm, góp phần thực hiện mục tiêu hàng
đầu là ngăn chặn suy giảm kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội.
- Chính sách hỗ trợ lãi suất góp phần nâng cao hiệu quả nền kinh tế nói
Để đưa ra các quyết định về hỗ trợ lãi suất đối với nền kinh tế trong
nước, Chính phủ đã phải xem xét và dựa vào một số các nhân tố có ảnh
hưởng đến chính sách hỗ trợ lãi suất như:
Chu kỳ kinh doanh khi nền kinh tế suy thoái: Chu kỳ kinh tế, còn gọi là
chu kỳ kinh doanh, là sự biến động của GDP thực tế theo trình tự ba pha lần
lượt là suy thoái, phục hồi và hưng thịnh (bùng nổ).
Suy thoái kinh tế (tiếng Anh: recession/economic downturn) được định
nghĩa trong Kinh tế học vĩ mô là sự suy giảm của Tổng sản phẩm quốc nội
thực trong thời gian hai hoặc hơn hai quý liên tiếp trong năm (nói cách khác,
tốc độ tăng trưởng kinh tế âm liên tục trong hai quý). Tuy nhiên, định nghĩa
này không được chấp nhận rộng rãi. Cơ quan nghiên cứu kinh tế quốc gia
(NBER) của Hoa Kỳ đưa ra định nghĩa về suy thoái kinh tế còn mập mờ hơn
“là sự tụt giảm hoạt động kinh tế trên cả nước, kéo dài nhiều tháng”. Suy
thoái kinh tế có thể liên quan sự suy giảm đồng thời của các chỉ số kinh tế của
toàn bộ hoạt động kinh tế như việc làm, đầu tư, và lợi nhuận doanh nghiệp.
Các thời kỳ suy thoái có thể đi liền với hạ giá cả (giảm phát), hoặc ngược lại
tăng nhanh giá cả (lạm phát) trong thời kì đình lạm. [6]
Một sự suy thoái trầm trọng và lâu dài được gọi là khủng hoảng kinh tế.
Sự tan vỡ tàn phá nền kinh tế là suy sụp, đổ vỡ kinh tế.
Các nền kinh tế theo định hướng thị trường có đặc điểm là tăng giảm
theo chu kỳ kinh tế, nhưng sự suy giảm thực tế (suy giảm các hoạt động kinh
tế) không thường xảy ra.
Trong quá trình hoạt động SXKD, khi bước vào giai đoạn suy thoái
kinh tế, các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất gặp phải rất nhiều khó khăn.
Thêm vào đó, nếu kinh tế đất nước cũng đang trong giai đoạn suy thoái, cần
18
duy trì và ổn dịnh lại sản xuất, khi đó Chính phủ sẽ ban hành chính sách hỗ
sau khủng hoảng kinh tế năm 2008, là giai đoạn mà hầu hết các ngành nghề,
lĩnh vực hoạt động kinh tế đều gặp phải khó khăn, do đó chính phủ cần có các
chính sách hõ trợ, tuy nhiên đối tượng nào đang ở giai đoạn suy yếu nhất, đối
tượng nào vẫn còn khả năng tự giải quyết khó khăn, và cần hỗ trợ bao nhiêu
cho phù hợp với sự phát triển của mỗi cơ sở, với ngân sách nhà nước là câu
hỏi đặt ra với các nhà hoạch định chính sách.
Ngoài các nhân tố chính tác động, ảnh hưởng đến việc ra chính sách còn
có một vào các yếu tố khác như vấn đề việc làm đối với người lao động tại
các cơ sở SXKD đó và lao động đang thất nghiệp bên ngoài, vấn đề môi
trường, các vấn đề an ninh quốc phòng….
2.1.3 Khái niệm, tiêu chuẩn xác định và phân loại Làng nghề
Khái niệm làng nghề có từ lâu đời nó nhằm phân biệt với phường hội ở
khu vực đô thị, mà đặc điểm nổi bật nhất là trình độ và công nghệ ở khu vực
nông thôn vẫn mang nặng hoạt động thủ công và gắn với sản xuất nông nghiệp.
Làng nghề Việt Nam, làng nghề thủ công, làng nghề truyền thống, hoặc
làng nghề cổ truyền... thường được gọi ngắn gọn là làng nghề, là những làng
mà tại đó hầu hết dân cư tập trung vào làm một nghề duy nhất nào đó, nghề
của họ làm thường có tính chuyên sâu cao và mang lại nguồn thu nhập cho
dân làng. Trước đây, làng nghề không chỉ là trung tâm sản xuất sản phẩm thủ
công mà còn là điểm văn hóa của khu vực, của vùng. Làng nghề là nơi hội tụ
những thợ thủ công có tay nghề cao mà tên tuổi đã gắn liền với sản phẩm
trong làng. Ngoài ra, làng nghề cũng chính là điểm tập kết NVL, là nơi tập
trung những tinh hoa trong kỹ thuật sản xuất sản phẩm của làng. Các mặt
hàng sản xuất ra không chỉ để phục vụ sinh hoạt hằng ngày mà còn bao gồm
cả các sản phẩm mỹ nghệ, đồ thờ cúng, dụng cụ sản xuất... nhằm đáp ứng nhu
cầu thực tế của thị trường khu vực lân cận.
Hiện nay có rất nhiều ý kiến đưa ra về khái niệm làng nghề, chính vì
vậy hiện nay số lượng làng nghề theo báo cáo của một số địa phương chênh
những làng nghề xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử và còn tồn tại đến ngày
21
nay; làng nghề mới là những làng nghề xuất hiện do sự phát triển lan tỏa của
các làng nghề truyền thống hoặc du nhập từ các địa phương khác. Một số làng
mới được hình thành do chủ trương của một số địa phương cho người đi học
nghề ở nơi khác rồi về dạy cho dân địa phương nhằm tạo việc làm cho người
dân địa phương mình. [5]
Năm 2006, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành
Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 quy định nội
dung và các tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề
truyền thống. Theo đó:
Nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những
sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày
nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền.
Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn,
phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, (được
gọi chung là làng) có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một
hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau.
Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống được hình
thành từ lâu đời.
Cũng theo Thông tư nói trên, các tiêu chí dùng để công nhận nghề
truyền thống, làng nghề và làng nghề truyền thống được quy định như sau:
Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 03 tiêu chí sau: (a)
nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công
nhận; (b) nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc; (c) nghề
gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề.
Làng nghề được công nhận phải đạt 03 tiêu chí sau: (a) có tối thiểu
Xét theo quá trình hình thành và hoạt động, làng nghề được phân ra
làm 2 loại là: Làng nghề truyền thống và Làng nghề mới hình thành.
Đây sẽ là căn cứ chung để tiến hành các hoạt động quản lý, quy hoạch
phát triển làng nghề để các ban ngành địa phương và trung ương có được sự
thống nhất chung về khái niệm, tiêu chuẩn xác định làng nghề.
23
2.1.4 Lý thuyết về sự phát triển nói chung và phát triển làng nghề nói riêng
2.1.4.1 Lý thuyết về sự phát triển
Phát triển là khái niệm dùng để chỉ sự tăng lên về mặt số lượng và chất
lượng của một vấn đề hiện tượng nào đó.
Phát triển kinh tế có thể hiểu là một quá trình lớn lên (hay tăng tiến) về
mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Trong đó bao gồm cả sự
tăng thêm về quy mô, sản lượng (tăng trưởng) và sự tiến bộ của cơ cấu kinh tế
- xã hội. [3]
Khái niệm “phát triển bền vững” xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi
trường từ những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ 20. Năm 1987, trong
Báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” của Hội đồng Thế giới về Môi
trường và Phát triển (WCED) của Liên hợp quốc, “phát triển bền vững” được
định nghĩa “là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng
không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”.
Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở
Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát
triển bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 đã xác
định “phát triển bền vững” là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp
lý và hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế (nền tảng là
tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (mục tiêu là thực hiện tiến bộ, công
bằng xã hội; xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi
tốc độ thu hút dần số lao động từ nông nghiệp phải cùng nhịp với số lao động
từ nông nghiệp chuyển dịch ra các ngành phi nông nghiệp. Chỉ lệch pha một
chút trong quá trình này cũng đã đủ để có thể gây hậu quả lớn về mặt xã hội,
đó là tình trạng vừa thiếu lại vừa thừa sức lao động trong nền kinh tế quốc
dân, gây lãng phí và tạo ra nhiều vấn đề xã hội cần phải giải quyết.
Hiện nay, về cơ bản đã có sự thống nhất chung về khái niệm làng nghề:
làng nghề là làng ở nông thôn thì phải gắn với hoạt động nông nghiệp, nhưng
hoạt động của các nghề phi nông nghiệp đang mạnh lên và tạo thu nhập ngày
càng tăng. Tuy đã có rất nhiều làng có nghề như vậy, nhưng có một số quan
25