Phân tích và đánh giá chính sách hỗ trợ lãi suất 4% cho doanh nghiệp việt nam - Pdf 95

Phân tích và đánh giá Chính sách hỗ trợ lãi suất 4% cho doanh nghiệp Việt Nam
MỤC LỤC
I/ BỐI CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM TRONG
THỜI KỲ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ HIỆN NAY 1
1. Bối cảnh kinh tế - xã hội thế giới 1
2. Bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam 2
II/ NỘI DUNG CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ LÃI SUẤT CHO DOANH
NGHIỆP 3
III/ CƠ SỞ LÍ LUẬN CHO SỰ RA ĐỜI CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ LÃI
SUẤT CHO DOANH NGHIỆP 3
IV/ ĐÁNH GIÁ ƯU NHƯỢC ĐIỂM CỦA CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ LÃI
SUẤT CHO DOANH NGHIỆP 7
1. Ưu điểm chính sách hỗ trợ lãi suất của Chính phủ Việt Nam 7
2. Nhược điểm chính sách hỗ trợ lãi suất của Chính phủ Việt Nam 8
V/ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ THỰC TẾ CỦA CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ LÃI
SUẤT CHO DOANH NGHIỆP 10
1. Dưới góc độ doanh nghiệp: 10
2. Dưới góc độ các ngân hàng 12
3. Dưới góc độ toàn xã hội 12
VI/ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ,GIẢI PHÁP 14
PHỤ LỤC 16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Nhóm2 - Lớp Kinh tế Công cộng 9
Phân tích và đánh giá Chính sách hỗ trợ lãi suất 4% cho doanh nghiệp Việt Nam
§Ò TµI:
Phân tích và đánh giá hiệu quả Chính sách hỗ trợ lãi suất
cho doanh nghiệptrong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn
cầu ở Việt Nam
Kinh tế thế giới phải hứng chịu một cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất trong gần 80 năm
qua và đang để lại những hệ quả đáng lo ngại. Chỉ trong một thời gian ngắn, cuộc khủng
hoảng đã tàn phá thị trường bất động sản, ngành công nghiệp ôtô, thương mại, vận tải,

mức tồi tệ hơn so với tất cả các dự đoán trước đây". Hàng loạt các ngành sản xuất kinh
doanh bị đình đốn, hoạt động sản xuất của nhiều tập đoàn kinh tế bị đình trệ. Sự phá sản
hàng loạt ngân hàng và tổ chức tài chính hàng đầu thế giới, sự sụt giảm của ngành sản
xuất ôtô, sự tuột dốc của thị trường chứng khoán, sự xuống dốc của thị trường bất động
sản diễn ra trầm trọng ở các nước có nền kinh tế phát triển. Xuất nhập khẩu bị suy giảm
nặng nề. Số người thất nghiệp năm 2009 sẽ tăng thêm 51 triệu người, làm cho thế giới có
tới 230 triệu người không có việc làm.
2. Bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam
Năm 2008-2009 nền kinh tế Việt Nam đã gặp nhiều thách thức: sự bấp bênh của thị
trường tài chính – tiền tệ do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới, trong đó đặc
biệt là mối quan hệ lãi suất - tỷ giá - lạm phát; Ngân sách Nhà nước thiếu ổn định, khả
năng giảm tốc độ tăng thu là thực tế và rất rõ ràng.
Theo tổng cục thống kê, tình hình kinh tế đầu năm 2009 có dấu hiệu chững lại, giá trị
sản xuất công nghiệp đạt 106 tỷ đồng, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm ngoái; kim ngạch
xuất khẩu và nhập khẩu đều giảm mạnh, kim ngạch xuất khẩu tháng 2 đạt 8 tỷ USD,
giảm 5% so với cùng kỳ năm 2008, kim ngạch nhập khẩu đạt 7,73 tỷ USD, giảm 43,1 %
so với cùng kỳ năm 2008. Đặc biệt, kim ngạch nhập khẩu giảm mạnh ở những nhóm
hàng phục vụ cho hoạt động sản xuất, gây khó khăn cho nền kinh tế Việt Nam năm 2009.
Do kinh tế khó khăn, số lượng công nhân mất việc làm dự báo có thể xảy ra ở ngành
dệt may, da giầy, chế biến thuỷ hải sản; cùng với đó là suy thoái kinh tế ở các thị trường
xuất khẩu nhiều lao động của Việt Nam như Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản khiến cho
nhiều công nhân, lao động bị mất việc làm phải về nước trước thời hạn, đã làm số lượng
người thất nghiệp tăng cao.Khu vực doanh nghiệp sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề của khủng
hoảng tài chính – tín dụng. Không chỉ các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá - dịch vụ
thông thường mà cả các doanh nghiệp là tổ chức tài chính như các tổ chức tín dụng, quỹ
đầu tư, các công ty chứng khoán, bảo hiểm… cũng gặp nhiều khó khăn lớn. Những dấu
hiệu được cảnh báo gần đây càng bộc lộ rõ như xuất khẩu hàng hoá giảm; khan hiếm
nguồn vốn ngoại, tỷ giá USD tăng; doanh nghiệp không mặn mà vay vốn ngân hàng, mặc
dù lãi suất giảm, vì không chọn được phương án kinh doanh trước quá nhiều bất ổn bên
trong và bên ngoài.

doanh nghiệp, tác động trực tiếp đến nguồn cung hàng hóa trên thị trường. Việc tăng
hoặc giảm chi phí sản xuất tác động lớn đến hành vi của doanh nghiệp. Cụ thể là khi chi
phí tăng, với một lượng vốn nhất định, doanh nghiệp buộc phải thu hẹp quy mô sản xuất,
cắt giảm sản lương, hệ lụy tất yếu của nó là doanh nghiệp cắt giảm lao động, số lao động
mất việc làm tăng lên. Như vậy, hành vi cá nhân của doanh nghiệp gây ra một ngoại ứng
tiêu cực đối với người lao động. Đối với toàn bộ nền kinh tế, hành vi này gây ra một
ngoại ứng: làm tổng sản phẩm của nền kinh tế giảm, thất nghiệp gia tăng, gây sức ép lên
nền kinh tế. Khi không nhận được một sự hỗ trợ nào, tất yếu là cung hàng hóa dịch vụ
của doanh nghiệp sẽ giảm, sản lượng giảm, mức giá tăng.
Đồ thị quan hệ cung cầu sau sẽ minh họa cụ thể điều này:
Nhóm 2 - Lớp Kinh tế Công cộng 9 3
P’
P
E’
E
Q

Q
D
S’
S
Mức giá, chi phí
Số hàng hóa,
dịch vụ
Phân tích và đánh giá Chính sách hỗ trợ lãi suất 4% cho doanh nghiệp Việt Nam

• Trục hoành biểu diễn số lượng hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp sẽ tao ra trong
quá trình sản xuất.
• Trục tung biễu diễn mức giá và chi phí sản xuất hàng hóa, dịch vụ.
• D: đường cầu hàng hóa, dịch vụ của thị trường.

1
Q
2
Lãi suất DN phải
trả NHTM
Số dự án mà DN
sẽ thực hiện
Phân tích và đánh giá Chính sách hỗ trợ lãi suất 4% cho doanh nghiệp Việt Nam
lên. Hành vi này của doanh nghiệp không chỉ tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao
động thu nhập của họ tăng (người lao động được hưởng ngoại ứng tích cực) mà đối với
toàn nền kinh tế, GDP sẽ tăng, thất nghiệp giảm, kinh tế tăng trưởng và phát triển.
Tuy nhiên trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay, ở Việt Nam, các
doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn trong khâu tiêu thụ. Các doanh nghiệp cắt giảm sản
lượng, cắt giảm lao động. Đội quân mất việc làm tăng lên gây sức ép lên nền kinh tế.
Quyết định của doanh nghiệp tương ứng với số dự án mà doanh nghiệp sẽ tiến hành nhỏ
hơn số dự án mà xã hội mong muốn được doanh nghiệp thực hiện. Do đó, để đạt mức mà
xã hội mong muốn, chính phủ trong vai trò của người cha sẽ phải can thiệp vào thị trường
để khắc phục ngoại ứng tích cực. Chính phủ sẽ phải tiến hành trợ cấp để các doanh
nghiệp cảm thấy lợi ích của mình tăng lên từ đó thực hiện thêm nhiều dự án mới. Vấn đề
đặt ra là chình phủ phải can thiệp như thế nào?
Ta đã biết mối quan hệ nghịch giữa lãi suất vốn vay và số dự án mà các doanh nghiệp
sẽ tiến hành. Chính phủ có thể tác động vào lãi suất (giảm lãi suất) mà doanh nghiệp phải
trả cho các Ngân hàng Thương mại giúp doanh nghiệp giảm chi phí, có điều kiện mở
rộng sản xuất kinh doanh. Đây là một tiền đề quan trọng cho sự ra đời của chính sách hỗ
trợ 4% lãi suất cho doanh nghiệp đang được áp dụng trên thực tế ở Việt Nam hiện nay.
Chính sách này sẽ khắc phục thất bại thị trường là ngoại ứng như thế nào, ta xem xét đồ
thị sau.
• Trục hoành biểu diễn số dự án mà doanh nghiệp sẽ tiến hành đầu tư.
• Trục tung biểu diễn lợi ích cận biên mà doanh nghiệp nhận được cũng như
chi phí cận biên doanh nghiệp phải bỏ ra khi có thêm một dự án được thực hiện.

1
>Q).
Để đưa số dự án doanh nghiệp sẽ thực hiện lên mức mà xã hội mong muốn thì chính
phủ phải tiến hành trợ cấp một khoản trợ cấp s để lợi ích doanh nghiệp tăng lên là MPB’:
MPB’= MPB+s. Hình thức trợ cấp là thông qua hỗ trợ lãi suất, khi NHTM thu lãi cho vay
đối với các doanh nghiệp sẽ giảm trừ cho các doanh nghiệp số tiền lãi đúng bằng 4% tính
trên số tiền vay.
s là số tiền trợ cấp mà chính phủ trích ra từ ngân sách tương đương với 4% lãi suất
doanh nghiệp phải trả cho NHTM khi vay vốn để thức hiện thêm một dự án. Khi được
hưởng hỗ trợ này, lợi ích của doanh nghiệp tăng. Đường MPB dịch chuyển sang phải
( đường MPB’). Khoảng cách giữa MPB và MPB’ đúng bằng s. Cân bằng mới được thiết
lập tại đó số dự án là Q
1,
mức giá là P
1
.Tổng mức trợ cấp là diện tích hình chữ nhật
P
1
P
2
MN. Khi số dự án tăng lên, số hàng hóa dịch vụ được tạo ra sẽ tăng lên, GDP tăng và
số người lao động có việc làm tăng. Để làm rõ hơn tác động của chính sách hỗ trợ này
trên cơ sở lý thuyết , chúng ta cùng xem đồ thị sau.
• Trục hoành biểu diễn số lượng hàng hóa dịch vụ doanh nghiệp sản xuất ra.
• Trục tung biểu diễn số lượng hàng hóa dịch vụ.
Trước khi được hỗ trợ lãi suất, doanh nghiệp cung ứng lượng hàng hóa được biểu
diễn trên đường cung S,cân bằng thị trường tại E với mức giá P và sản lượng Q. Sau khi
có hỗ trợ lãi suất,doanh nghiệp cảm thấy lợi ích của mình tăng lên nên tiến hành vay vốn
nhiều hơn để thực hiện nhiều dự án hơn, tăng cung, đường cung dịch chuyển sang phải
(là S

P
2
P
1
Q
Q
1
P
D
S
S
S
S
P
Q
Phân tích và đánh giá Chính sách hỗ trợ lãi suất 4% cho doanh nghiệp Việt Nam
xã hội, đồng thời đã khắc phục được tính phi hiệu quả của quyết định cắt giảm sản lượng
của doanh nghiệp, thay vào đó doanh nghiệp vẫn tiến hành sản xuất ở mức mà xã hội
mong muốn (tức là thực hiện số dự án mà xã hội mong muốn).
Tuy nhiên, phải nhìn nhận rằng chính sách này vẫn tạo ra một phần mất không với xã
hội đó là diện tích tam giác EME
s
. Trên quan điểm xã hội phải khẳng định rằng, chính
sách hỗ trợ 4% cho doanh nghiệp ra đời vào thời điểm hiện nay sẽ có tác dụng tốt phát
huy ngoại ứng tích cực mà hành vi của doanh nghiệp nếu được hỗ trợ sản xuất sẽ đem lại
cho toàn bộ nền kinh tế.
IV/ ĐÁNH GIÁ ƯU NHƯỢC ĐIỂM CỦA CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ LÃI SUẤT
CHO DOANH NGHIỆP.
1. Ưu điểm chính sách hỗ trợ lãi suất của Chính phủ Việt Nam
Thứ nhất, chính sách hỗ trợ lãi suất sẽ giúp thúc đẩy kích cầu đầu tư, hỗ trợ sản xuất

cách Ngân hàng Nhà nước cho các ngân hàng thương mại vay với lãi suất thấp thì sẽ ảnh
hưởng đến lãi suất huy động, có thể không kích thích người dân đem vốn nhàn rỗi gửi
vào ngân hàng.
Thứ tư, chính sách này là một giải pháp kích cầu có tính đòn bẩy rất cao: Việc sử
dụng 17 ngàn tỷ đồng hỗ trợ lãi suất (4%), theo một phép tính đơn giản, có thể cực đại
tạo ra được tổng tín dụng lên đến trên 600 ngàn tỷ đồng. Về bản chất đây là việc sử dụng
chính sách tài khóa để làm đòn bẩy cho chính sách tiền tệ. Một mặt để đạt được hiệu quả
tăng tổng đầu tư của nền kinh tế trong khi chính phủ không phải huy động một nguồn tài
chính quá lớn. Mặt khác, việc hỗ trợ lãi suất giúp chính phủ không phải hạ mặt bằng lãi
suất chung, mà vẫn giúp doanh nghiệp tiếp cận được vốn vay rẻ, trong khi đó người gởi
tiền vẫn được hưởng lãi suất tiền gởi cao, đủ để tiền không rời bỏ hệ thống ngân hàng,
tránh được tình trạng bẫy thanh khoản.
Cuối cùng, một trong những ưu điểm của chính sách có thể nhìn thấy rõ là khả năng
tác động cải thiện cán cân xuất nhập khẩu. Cuối năm 2008, nước ta liên tục nhập siêu,
tình hình tiêu thụ trong nước lại chững lại dẫn đến hàng tồn nhiều khiến các nhà nhập
khẩu trong nước phải chùng xuống. Ngay sau đó, giá hàng nhập khẩu lại giảm khiến các
nhà nhập khẩu rơi vào tình trạng bị lỗ và cạn vốn nếu vẫn tăng cường nhập khẩu. Kinh tế
Việt Nam được dự báo trong năm 2009 sẽ tiếp tục trong tình trạng nhập siêu. Khi đó,
chính sách hỗ trợ lãi suất, đặc biệt ưu tiên các doanh nghiệp xuất khẩu, cùng với những
cải cách mạnh mẽ hơn nữa về thủ tục hành chính, nguồn nhân công rẻ… sẽ giúp doanh
nghiệp có được chi phí đầu vào hợp lý hơn, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
cũng như hàng hóa nước ta trên thị trường thế giới, từ đó giúp thục hiện mục tiêu cải
thiện cán cân thương mại
2. Nhược điểm chính sách hỗ trợ lãi suất của Chính phủ Việt Nam
Đầu tiên, do nguồn vốn hỗ trợ lãi suất của chính sách một phần được lấy từ ngân
sách nhà nước, điều này có thể dẫn đến thâm hụt ngân sách, gây ra lãng phí tiền của nếu
như hiệu quả chính sách không đạt được như mong muốn. Ngoài ra, ngân sách nhà nước
dành cho những chương trình kích cầu đầu tư trực tiếp của Chính phủ có lợi cho quốc kế
dân sinh và tạo ra công ăn việc làm mới, hoặc dành cho những khoản ứng cứu cấp thiết
hơn sẽ bị cắt giảm.

Ngoài ra, tín dụng hỗ trợ sẽ khiến các ngân hàng bớt chịu sức ép, do đó có thể tăng cường
mở rộng các khoản tín dụng không ưu đãi chẳng hạn như tín dụng tiêu dùng. Điều này có
thể kích hoạt một chu kỳ nóng lên của thị trường tài sản như thường thấy, kéo liền sau đó
sức ép tăng mức giá chung, thuật ngữ kinh tế gọi là lạm phát.
Cuối cùng, sử dụng chính sách hỗ trợ lãi suất nếu không kết hợp nhiều chính sách
khác sẽ dẫn đến những tác động tiêu cực cho nền kinh tế, không đảm bảo được các mục
tiêu đề ra.
Nhóm 2 - Lớp Kinh tế Công cộng 9 9
Phân tích và đánh giá Chính sách hỗ trợ lãi suất 4% cho doanh nghiệp Việt Nam
V/ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ THỰC TẾ CỦA CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ LÃI SUẤT
CHO DOANH NGHIỆP.
1. Dưới góc độ doanh nghiệp:
Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay, có thể khẳng định chính sách
hỗ trợ 4% lãi suất cho vay sản xuất, kinh doanh và bảo lãnh tín dụng của Chính phủ là
quyết định “cởi trói” về vốn cho các Doanh nghiệp, chủ yếu là các Doanh nghiệp vừa và
nhỏ. DN được bảo lãnh vay vốn của Ngân hàng thương mại là một trong những điều kiện
để mạnh dạn đầu tư sản xuất kinh doanh ổn định, tạo việc làm thường xuyên cho người
lao động. Trong gói kích cầu thứ hai, việc mở rộng cho vay trung và dài hạn là biện pháp
tiếp theo nhằm duy trì vững chắc hiệu ứng của các giải pháp đã thực hiện nhằm vực dậy
nền kinh tế.
Kết quả sau 2 tháng triển khai quyêt định 131 của Chính phủ về chương trình hỗ trợ
lãi suất đối với các khoản vay ngắn hạn của các tổ chức, cá nhân để làm vốn lưu động sản
xuất - kinh doanh, tính đến cuối tháng 3/2009, dư nợ cho vay lãi suất đã lên đến gần 202
nghìn tỷ đồng
2
. Nguồn vốn đã đi tới từng doanh nghiệp với cơ cấu là doanh nghiệp Nhà
nước (chiếm 36%), doanh nghiệp ngoài quốc doanh (chiếm 60%), còn lại là hợp tác xã,
hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác
3
.

tiếp cận với chính sách hỗ trợ lãi suất của Chính phủ. Công ty cổ phần Yên Thành (huyện
Yên Bình, tỉnh Yên Bái), vốn hỗ trợ lãi suất được vay là 1,2 tỷ đồng đã tạo điều kiện cho
công ty tăng giá thu mua măng nguyên liệu của nông dân để có đủ nguyên liệu sản xuất.
Giám đốc công ty Nguyễn Ðức Dũng cho biết, do công ty là DN nhỏ nên toàn bộ phần
vốn lưu động đều phải đi vay ngân hàng. Năm 2008, có thời điểm, công ty phải vay ngân
hàng 700 triệu đồng với lãi suất 21%/năm, nên làm bao nhiêu cũng chỉ đủ để trả lãi vay
ngân hàng. Nay nhờ vốn hỗ trợ lãi suất, những tháng đầu năm 2009, công ty đã khôi phục
lại sản xuất, duy trì việc làm cho người lao động. Sản phẩm của công ty cũng vì thế bắt
đầu được tiêu thụ, tăng sản lượng măng chế biến xuất khẩu
Vậy là, chính sách hỗ trợ lãi suất đã phần nào đạt được mục tiêu đề ra của Chính phủ
về duy trì sản xuất, kinh doanh và tạo việc làm trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Song bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại những bất cập trong thực tế thực hiện chính sách
này của Chính phủ. Đối với những doanh nghiệp vừa và nhỏ (đối tượng ưu tiên của chính
sách), do những hạn chế như hiệu quả kinh doanh thấp, công nghệ lạc hậu, sức cạnh tranh
yếu, thiếu phương án kinh doanh, thiếu tài sản thế chấp cộng với các báo cáo tài chính
của doanh nghiệp vừa và nhỏ thường không được kiểm toán khiến họ rất khó tiếp cận
vốn vay của ngân hàng. Chưa kể đến hiện tượng thông tin không đối xứng trên thị trường
làm cho một phần không nhỏ các doanh nghiệp vừa và nhỏ không biết hoặc không hiểu
rõ yêu cầu của ngân hàng, muốn vay mà không biết bắt đầu từ đâu, như thế nào…
Thực tế cũng cho thấy không phải nguồn tín dụng rẻ này thực sự rộng mở cho tất cả
mọi đối tượng khách hàng mà chỉ đến tay những doanh nghiệp là khách hàng quen của
các Ngân hàng thương mại trong khi nhiều doanh nghiệp khác tuy thực sự có nhu cầu
nhưng lại chưa vay được. Các doanh nghiệp có hợp đồng vay vốn trước ngày 01/02/2009
còn tiếp tục vay và trả nợ trong năm 2009 theo Quy định của Quyết định 131/QĐ-TTg
ngày 23/01/2009 của Thủ tướng Chính phủ thì không được hỗ trợ lãi suất 4%. Nếu muốn
được hỗ trợ lãi suất các doanh nghiệp phải trả nợ sớm rồi vay các khoản nợ mới để đảm
bảo hợp đồng được ký sau ngày 01/02/2009, điều này đã gây ra khó khăn cho doanh
nghiệp khi tiếp cận vốn vì rất nhiều doanh nghiệp hiện có khoản vay cũ lãi suất cao chưa
thể trả được thì khó vay vốn mới (tất nhiên ở đây không nói đến những doanh nghiệp lợi
dụng việc hỗ trợ lãi suất của Chính phủ vay để đảo nợ).

sách biện pháp xã hội khác phối hợp cùng nhằm tăng hiệu quả xã hội cũng như mục tiêu
đè ra của chính sách hỗ trợ lãi suất như trợ cấp cho người nghèo, người có thu nhập thấp,
người thất nghiệp (theo kiểu 200.000 đồng cho một gia đình nghèo tiêu tết vừa qua
nhưng cần tránh ăn chặn), miễn, giảm thuế cho người dân, chi cho nông nghiệp, y tế, giáo
dục, đào tạo, hoàn tất các dự án hạ tầng hiệu quả v.v…
Như đã phân tích ở phần 2, hiệu quả xã hội của chính sách hỗ trợ lãi suất cũng chính
là những ngoại ứng tích cực do chính sách đem lại. Và một trong số các ngoại ứng tích
cực đó là việc giải quyết nhu cầu việc làm cho một số lượng lớn lao động. Số liệu của Sở
khảo sát cho thấy đến cuối năm 2008, hơn 35.000 người lao động tại thành phố đã mất
việc làm. Số lao động mất việc tập trung chủ yếu ở các doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu,
gia công hàng xuất khẩu thuộc ngành dệt may, da giày, doanh nghiệp sản xuất lắp ráp
điện tử do đơn đặt hàng từ các nước nhập khẩu giảm mạnh dẫn đến các doanh nghiệp
5
www.vietnamnet.vn
Nhóm 2 - Lớp Kinh tế Công cộng 9 12
Phân tích và đánh giá Chính sách hỗ trợ lãi suất 4% cho doanh nghiệp Việt Nam
phải cho công nhân nghỉ việc luân phiên. Nhưng khi nhận được sự trợ giúp của chính phủ
qua chính sách hỗ trợ lãi suất, các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế đã bắt đầu
xây dựng và đang triển khai lại các dự án sản xuất kinh doanh của mình. Một số doanh
nghiệp đã công bố chính sách tuyển thêm lao động, hoặc kêu gọi lao động nghỉ việc trước
tết quay trở lại làm việc. Theo đánh giá của Sở LĐ-TB&XH, qua báo cáo nhanh của 208
doanh nghiệp trong đầu năm cho thấy, ước tính tổng số lao động thiếu việc làm trên toàn
thành phố là chỉ còn khoảng 6.000 - 9.000 người, chiếm khoảng 0,7% tổng số lao động
của các doanh nghiệp.
Vậy là mục tiêu giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động khi chính phủ ban
hành chính sách hỗ trợ lãi suất 4% cho các doanh nghiệp đã bước đầu đạt được những
thành công nhất định.
Bên cạnh đó, một mục tiêu khác của chính sách hỗ trợ lãi suất mà Chính phủ đã đề ra
là tăng sản lượng của nền kinh tế, giảm giá thành sản phẩm hàng hóa. Theo các chuyên
gia kinh tế, mặc dù còn đang gặp nhiều khó khăn song nhờ chính sách kích cầu của

triển cho một số doanh nghiệp trong nền kinh tế hay đang giúp cho các doanh nghiệp này
kéo dài thời hạn “lay lắt, hấp hối” của mình. “Nếu khủng hoảng là cơ hội để chấp nhận
những đổ vỡ lành mạnh, những doanh nghiệp thoi thóp nên chấp nhận giải thể thì thực tế,
lại vẫn đang được hà hơi tiếp sức. Chính sách 4% đã chỉ giúp cho nhiều DN đang "chết
lâm sàng" được kéo dài thêm thời gian", Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế TW Đinh
Văn Ân cảnh báo. Và chính điều này sẽ cản trở tốc độ tái cấu trúc nền kinh tế - mục tiêu
đang được đặt ra như một cơ hội cho Việt Nam trong khủng hoảng. Hay như ý kiến của
TS Vũ Thành Tự Anh - Giám đốc nghiên cứu Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright
tại Việt Nam: "Việc được cấp cứu bằng nguồn vốn rẻ vô hình trung đã làm trì hoãn việc
tái cấu trúc doanh nghiệp và ngân hàng, một nhiệm vụ khó khăn, đau đớn nhưng cần
thiết. Như vậy, chính sách hỗ trợ lãi suất đã làm lỡ một cơ hội tăng cường năng lực cạnh
tranh của các doanh nghiệp để chuẩn bị cho sự phục hồi của kinh tế thế giới"
Giải pháp hỗ trợ lãi suất mới được triển khai hơn 3 tháng, khoảng thời gian còn quá
ngắn để bình luận về tính hiệu quả của một chính sách lớn. Song ta vẫn có thể khẳng định
một điều rằng, cho đến thời điểm này, biện pháp kích cầu qua hỗ trợ lãi suất đã đáp ứng
được nguyên tắc đúng thời điểm, nhanh và cơ cấu phân bổ đối tượng tương đối hợp lý.
VI/ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ,GIẢI PHÁP.
Từ những đánh giá về ưu nhược điểm cũng như hiệu quả thực tế của chính sách nêu
trên, nhóm chúng tôi xin phép được đưa ra một số kiến nghị và giải pháp nhằm khắc
phục những vấn đề còn tồn tại của chính sách:
Thứ nhất, cần có các biện pháp để ngăn chặn tình trạng đảo nợ của các doanh nghiệp.
Phải quyết liệt thực hiện hậu kiểm chặt chẽ để đảm bảo tiền hỗ trợ từ ngân sách được sử
dụng hiệu quả và đúng mục đích. Để hạn chế hành vi đảo nợ bên cạnh chế độ kiểm tra,
giám sát của NHNN và của Tổ công tác thực hiện cơ chế hỗ trợ lãi suất, thì vai trò của
các NHTM rất quan trọng. Bởi các doanh nghiệp muốn vay vốn của ngân cần phải có dự
án đầu tư, sản xuất hiệu quả, có tài sản thế chấp, đáp ứng đầy đủ các thủ tục cho vay và
phải trải qua quá trình xét duyệt cẩn thận của cán bộ ngân hàng.
Thứ hai, giải quyết đầu ra cho các doanh nghiệp bởi chỉ cung cấp vốn rẻ chưa đủ để
làm nên thành công của chính sách kích cầu. Trước hết, các cơ quan chức năng phải đẩy
mạnh công tác xúc tiến thương mại để tìm thị trường, đồng thời Chính phủ cũng phải là

Nhóm 2 - Lớp Kinh tế Công cộng 9 15
Phân tích và đánh giá Chính sách hỗ trợ lãi suất 4% cho doanh nghiệp Việt Nam
PHỤ LỤC
Dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới do IMF đưa ra
Nhóm 2 - Lớp Kinh tế Công cộng 9 16
Phân tích và đánh giá Chính sách hỗ trợ lãi suất 4% cho doanh nghiệp Việt Nam
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. Giáo trình Kinh tế công cộng.
II. Các trang web trên mạng internet:
1. Website của tổng cục thông kê : www.gso.gov.vn
2. Trang thông tin mạng của Bộ công thương: www.moit.gov.vn
3. Website của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam - Viet Nam www.vnba.org.vn
4. Website của Ngân hàng Công thương: www.vietinbank.vn
5. Báo VietNamNet: www.vietnamnet.vn
6. Báo Thanh nien online: www.thanhnienonline.vn
7. Báo Sức khỏe và đời sống: www.suckhoedoisong.vn
8. Báo Nhân dân: www.nhandan.org.vn

Nhóm 2 - Lớp Kinh tế Công cộng 9 17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status