Nghiên cứu phân tích và đánh giá chính sách đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp ngành công nghiệp (nghiên cứu doanh nghiệp ở 03 ngành công nghiệp phần mềm, dệt may và chế biến thực phẩm) - Pdf 14


1
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH, KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
=================================================================
BÁO CÁO TỔNG HỢP
Đề tài cấp Bộ 2009-2010

Nghiên cứu phân tích và đánh giá chính sách đổi mới công nghệ cho
doanh nghiệp ngành công nghiệp
(Nghiên cứu doanh nghiệp ở 03 ngành công nghiệp ph

n m

m, dệt may
và chế biến thực phẩm) Chủ nhiệm đề tài: Ths.Nguyễn Việt Hoà
Cùng các thành viên:
Ths. Nguyễn Mạnh Quân
TS. Nguyễn Quang Tuấn
TS. Lê Ngọc Hùng
Ths. Nguyễn Quang Thắng
KS. Phan Thị Hiền
CN. Nguyễn Hồng Anh
CN. Nguyễn Hoài Anh


6. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 5
Phần thứ hai. Nội dung nghiên cứu
Chương I. Nhữ
ng vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng chính sách đổi mới
công nghệ cho các doanh nghiệp ngành công nghiệp
10
1. Sự cần thiết hình thành chính sách đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp
ngành công nghiệp
10
1.1. Lý luận về chính sách đổi mới, chính sách đổi mới công nghệ cho doanh
nghiệp ngành công nghiệp
10
1.2. Vị trí, vai trò của doanh nghiệp ngành công nghiệp trong nền kinh tế quốc
dân và hoạt động KH&CN
12
1.3. Đặc điểm các doanh nghiệp ngành công nghiệp (nghiên cứu doanh nghi
ệp 03
ngành công nghiệp phần mềm, dệt may và chế biến thực phẩm)
16
2. Thực tiễn về xây dựng chính sách đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp
ngành công nghiệp
19
2.1. Kinh nghiệm của các nước trong xây dựng chính sách đổi mới công nghệ cho
các doanh nghiệp ngành công nghiệp (Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia,
Đài Loan)
19
2.2. Mục tiêu, các điều kiện xây dựng chính sách đổi mới công nghệ 29
2.3. Nội hàm của chính sách đổi mới công nghệ (đổi mớ
i sản phẩm, qui trình
công nghệ)

ra cơ cấu tổ chức mới của doanh nghiệp ngành công nghiệp.
54
2.2. Chính sách đổi mới cơ chế quản lý KH&CN tác động đến việc đổi mới cơ
chế quản lý các đơn vị, nhân lực của doanh nghiệp ngành công nghiệp.
61

3

2.3. Chính sách quản lý chất luợng và môi truờng tác động đến việc thực hiện các
kỹ thuật quản lý tiên tiến như Hệ thống quản lý (HTQL) chất lượng ISO 9000;
HTQL an toàn thực phẩm HACCP/ISO 2200:2005; HTQL chất lượng môi trường
ISO 14000: 2004….

63
2.4. Chính sách hội nhập và cạnh tranh quốc tế tác động đến việc thực hiện các
định hướng chiến lược mới của doanh nghiệp ngành công nghiệp.
66
2.5. Đánh giá những thành công và hạ
n chế của chính sách đổi mới đến hoạt động
đổi mới về tổ chức và quản lý của doanh nghiệp ngành công nghiệp.
73
3. Phân tích tác động của chính sách đổi mới công nghệ đến hoạt động đổi mới
công nghệ của doanh nghiệp ngành công nghiệp (nghiên cứu trường hợp 3 ngành
công nghiệp phần mềm, dệt may và chế biến thực phẩm)
75
3.1. Chính sách đầu tư tài chính đến các hoạt động 75
3.2. Chính sách phát triể
n thị trường công nghệ tác động đến các hoạt động 81
3.3. Chính sách phát triển nhân lực NC&PT, chính sách giáo dục-đào tạo nhân
lực tác động đến việc tổ chức thu hút, sử dụng, đào tạo và quản lý nhân lực trong

Kết luận Chương II 107
Chương III. Đề xuất xây dựng và giải pháp thực thi chính sách đổi mới cho
các doanh nghiệp ngành công nghiệp giai đoạn 2011-2020
109
1. Đưa ra quan điểm, định hướng xây dựng chính sách đổi mới công nghệ cho các
doanh nghiệp ngành công nghiệp giai đoạn 2011-2020
109
2. Đề xuất xây dựng và giải pháp thực thi chính sách đổi mới cho các doanh
nghiệp ngành công nghiệp giai đoạn 2011-2020.
110
3. Kết luận và khuyến nghị đối với các doanh nghiệp ngành công nghiệp và
trường hợp cụ thể 3 ngành công nghiệp phần mềm, dệt may và chế biế
n thực
phẩm
116
Tài liệu tham khảo
119
Phụ lục

4

DANH NHỮNG TỪ VIẾT TẮT ĐƯỢC SỬ DỤNG

KH&CN Khoa học và công nghệ
NCKH&ĐMCN Nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ
KT-XH Kinh tế-Xã hội
OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

Lời nói đầu

Đề tài “Nghiên cứu phân tích và đánh giá chính sách đổi mới công nghệ cho
doanh nghiệp ngành công nghiệp (Nghiên cứu doanh nghiệp ở 03 ngành công
nghiệp phần mềm, dệt may và chế biến thực phẩm)” bắt đầu thực hiện từ tháng 05
năm 2009, kết thúc vào tháng 12 năm 2010.
Trong quá trình thực hiện đề tài luôn nhận được sự động viên, giúp đỡ từ
Lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ, Lãnh đạo Viện Chiến lược và Chính sách
Khoa học và Công nghệ, Lãnh đạ
o Ban nghiên cứu Chiến lược và Dự báo, các bạn
đồng nghiệp trong và ngoài Viện, các doanh nghiệp ở 03 ngành công nghiệp phần
mềm, dệt may và chế biến thực phẩm.
Chủ nhiệm đề tài và các thành viên xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của
các cấp lãnh đạo, các bạn đồng nghiệp và cộng tác của các doanh nghiệp đã giành
thời quý báu trả lời phỏng vấn, cung cấp thông tin, điền phiếu điều tra.
Trong quá trình nghiên cứu, tậ
p thể tác giả đã có nhiều cố gắng, song không
thể tránh được những sai sót, rất mong các nhà quản lý và các bạn đồng nghiệp
đóng góp ý kiến và chia xẻ các vấn đề nghiên cứu cùng tập thể tác giả.

Trân trọng cảm ơn
Tập thể đề tài

6
PHẦN THỨ NHẤT. MỞ ĐẦU
1. Luận giải về sự cần thiết, tính cấp bách, ý nghĩa lý luận và thực tiễn
của đề tài.
Trước hết, đổi mới công nghệ là nhu cầu thường xuyên, cấp bách của nhiều
doanh nghiệp ngành công nghiệp ở các quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Thực
tế cho thấy các quốc gia thành công trong đổi mới công nghệ là những quốc gia có

tốt hơn trên cơ sở nghiên cứu phân tích nội dung của chính đổi mới công nghệ,
đánh giá làm rõ sự thành công và hạn chế của chính sách đổi mới công nghệ cho
các doanh nghiệp ngành công nghiệp trong thời gian qua. Đề xuất các giải pháp
xây dựng và thực thi chính sách đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp ngành
công nghiệp giai
đoạn 2011-2020 để nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp ngành công nghiệp là cần thiết.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung: Cung cấp luận cứ khoa học về chính sách đổi mới công
nghệ cho các doanh nghiệp ngành công nghiệp trên cơ sở phân tích và đánh giá

7
chính sách đổi mới công nghệ của Việt Nam tác động đến doanh nghiệp ngành
công nghiệp ở hai mặt hiệu quả và không hiệu quả. Đưa ra được tư vấn xây dựng
và thực thi chính sách đổi mới công nghệ để nâng cao hiệu quả hoạt động và năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp ngành công nghiệp giai đoạn 2011-2020.
Mục tiêu cụ thể:
• Phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn trong xây dự
ng, hoạch định
và thực thi chính sách đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp ngành công
nghiệp.
• Đánh giá tác động chính sách đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp
ngành công nghiệp giai đoạn 2001-2010 để rút ra được những thành công và hạn
chế của chính sách đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp ngành công nghiệp
giai đoạn 2011-2020.
• Đưa ra quan điểm, định hướng xây dựng chính sách đổi mới công nghệ
cho các doanh nghiệp ngành công nghiệp giai đoạn 2011-2020.
• Đề xu
ất các giải pháp xây dựng và thực thi chính sách đổi mới công

Nhà nước đối với doanh nghiệp ở 3 ngành công nghiệp (phần mềm, dệt may và
chế biến thực phẩm) trên cơ sở khảo sát/điều tra các doanh nghiệp đang tiến hành
hoạt động đổi mới trong 3 năm qua, làm rõ doanh nghiệp ngành công nghiệp nào
chịu tác động của chính sách đổi mới công nghệ nhiều nhất và ít nhất. Tìm ra nhu
cầu, yêu cầu m
ới đặt ra, những vấn đề mới phát sinh của doanh nghiệp ngành
công nghiệp.
-Đối tượng và tiêu chí lựa chọn doanh nghiệp điều tra: Các doanh nghiệp ở
3 ngành công nghiệp (phần mềm, dệt may và chế biến thực phẩm) ở hai khu vực
Nhà nước và Tư nhân có quy mô lớn (tập đoàn, tổng công ty,) vừa và nhỏ; có hoạt
động đổi mới công nghệ trong 3 năm gần đây, hoạt động hợp pháp.
-Nộ
i dung: Đánh giá mức độ và phạm vi tác động của chính sách đổi mới
công nghệ đối với doanh nghiệp ở 3 ngành công nghiệp (phần mềm, dệt may và
chế biến thực phẩm) ở hai khu vực Nhà nước và Tư nhân trên hai hoạt động chính
tổ chức và quản lý, hoạt động đổi mới công nghệ. Doanh nghiệp sẽ đánh giá mặt
được, hạn chế và nguyên nhân của các chính sách đổi
mới.
4. Nội dung nghiên cứu của đề tài tập trung vào 03 nhóm vấn đề chính:
• Những vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng chính sách đổi mới công
nghệ cho các doanh nghiệp ngành công nghiệp
• Đánh giá hiện trạng của chính sách đổi mới tác động đến các doanh
nghiệp ngành công nghiệp
• Đề xuất xây dựng và giải pháp thực thi chính sách đổi mới công nghệ
cho các doanh nghiệp ngành công nghiệp giai đoạn 2011-2020
5. Cách tiếp cậ
n, phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng
5.1. Cách tiếp cận
Trong nghiên cứu này tập trung vào cách tiếp cận đổi mới, cụ thể hoạt động
đổi mới ở cơ quan hoạch định chinh sách đổi mới công nghệ và hoạt động đổi mới

5.2.2. Phương pháp tiếp cận đối tượng, điều tra, thiết kế phiếu hỏi
-Phương pháp tiếp cận đối tượng: Phương pháp chính được sử dụng là
phương pháp chủ thể (subjective) và khách thể (objective). Hai cách tiếp cận này
chú trọng các cộng đồng khoa học, doanh nghiệp thuộc đối tượng tác động của cơ
chế, chính sách Nhà nước.
-Phương pháp chọn mẫu: Chọn doanh nghiệp ở 03 ngành công nghiệp
(phần mềm, dệt may và chế biến thực phẩm) ở hai khu vực Nhà nước và tư nhân
hoạt động sản xuất-kinh doanh, cách chọn mẫu ngẫu nhiên có hệ thống và theo đối
tượng nghiên cứu đề tài đã chọn 620 DN để gửi phiếu hỏi. Tổng số phiếu gửi đi là
620 phiếu.
-Đối tượng và phạm vi điều tra: Các DN có hoạt động sản xuất kinh doanh,
tạo ra hàng hóa bán trên thị tr
ường ở 3 ngành công nghiệp (phần mềm, dệt may và
chế biến thực phẩm), có hoạt động NC&PT, đổi mới và sử dụng dịch KH&CN
một cách thường xuyên và không thường xuyên trong cả nước.
-Danh mục phân loại doanh nghiệp công nghiệp dựa vào danh mục quản lý
của Bộ Công Thương, các DN đã đăng ký thành lập và hoạt động sản xuất kinh
doanh theo Luật DN.
-DN trong lĩnh vực công nghiệp sản xuất: thực phẩ
m, đồ uống; Công nghệ
Tin học-Truyền thông; Dệt may.
-Đơn vị thống kê và báo cáo: Nguồn dữ liệu về tình hình chung của DN
được lấy từ Tổng Cục Thống kê Việt Nam, Bộ Công thương. Lập phiếu hỏi, xử lý
số liệu điều tra, thống kê, phân tích do tập thể đề tài thực hiện.
-Phương pháp điều tra và thiết kế phiếu hỏi: Thu thập thông tin, khảo sát và
đánh giá nhanh; Quét các t
ư liệu có liên quan và phân tích tư liệu dựa trên các
nguồn từ Internet và Thư viện; Kiểm tra thông tin; Gửi thư và phiếu hỏi điều tra
qua đường bưu điện, E-mail và phỏng vấn cá nhân, khảo sát một số DN và gửi
trực tiếp. Phiếu hỏi được thiết kế và thử nghiệm vào tháng 6-7 năm 2009 trước khi

thể. Số phiếu thu về là 156/620 phiếu đạt >25%.
Xử lý, phân tích số liệu trên SPSS
Phỏng vấn
sâu
Ghi chép các quan sát dựa
trên kế hoạch làm việc tại
một số DN
Tin cậy của việc quan sát: Nhật ký, phỏng vấn,
mô tả, các văn bản và nhiều phương pháp khác
Phân tích
nội dung
Phân loại trước các nội dung
của các sản phẩm trung gian
Tin cậy của việc đo lường: Trong tổng số phiếu
gửi đi là 620. Để đảm bảo tính khoa học, đề tài
đã liên hệ trao đổi, tọa đàm hỏi thêm ý kiến và
sử dụng các nguồn tài liệu khác để phân tích.
-Phương pháp ước tính được sử dụng để hỗ trợ cho công việc điều tra, theo
khuyến nghị của OECD, việc trả lời các phiếu điều tra thường không được đầy đủ
dù phương pháp điều tra được dùng là gì. Trong trường hợp của nghiên cứu này,
có hai tình huống xảy ra đã được kiểm tra lại (1) nhiều DN không quan tâm đến
cơ chế, chính sách công, mặc dù trước đây họ đã đượ
c hoặc chưa được hưởng lợi
từ cơ chế, chính sách công để đầu tư vào KH&CN, hiện nay họ được nhiều nguồn
khác hỗ trợ (2) có những DN có mong muốn được quan tâm nhưng cho đến thời
điểm điều tra họ chưa được hưởng lợi bất cứ cơ chế, chính sách công nào, đồng
thời bản thân không rõ thời gian tới họ sẽ đổi mới công nghệ hay không. Khắc
ph
ục nhược điểm này, đề tài sử dụng nhiều nguồn thông tin từ các cuộc điều tra
trước đây, của Bộ Công thương và Tổng Cục Thống Kê.

mạng thông tin gia tăng. Ở xã hội hậu công nghiệp, lĩnh vực chế tạo được tái cơ
cấu, điều chỉnh thông qua quá trình “offshoring” (chuy
ển dần các giai đoạn sản
xuất ít giá trị gia tăng ra nước ngoài). Từ những thay đổi nhanh chóng của xã hội
hậu công nghiệp đòi hỏi phải có cách tiếp cận mới-tiếp cận đổi mới trong xây
dựng và hoạch định chính sách. Tiếp cận chính sách đổi mới ‘Innovation policy-
IP’ về KH&CN trong đó có chính sách đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp
đã là một xu thế tất yếu của nhiều quốc gia phát triển và đ
ang phát triển, được
phát triển từ cuối những năm 90 chủ yếu ở các nước đã phát triển và lan tỏa sang
các nước đang phát triển với các trường phái khác nhau.
Chính sách đổi mới được phát triển từ chính sách công do khu vực Nhà
nước, Chính phủ tiến hành và thực hiện. Do đó khi đề cập đến chính sách đổi mới
nói chung và chính sách đổi mới công nghệ nói riêng cho doanh nghiệp, một cách
chung nhất là đề cập đến chính sách đổi mới qu
ốc gia cho doanh nghiệp. Bởi khu
vực công (nhà nước) mới có chức năng, nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện hệ thống
các quy phạm pháp luật, hình thành và thực thi cơ chế, chính sách đầu tư, hợp tác
quốc tế, khuyến khích, hỗ trợ cho các doanh nghiệp.
Để hoạt động đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp công nghiệp thành
công chính sách đổi mới ở các nước OECD tập trung vào các vấn đề chính: Đầu
tư NC&PT để tăng n
ăng lực đổi mới; Phát triển các lĩnh vực khác như giáo dục,
cung cấp kỹ năng, chính sách thuế và các qui định kế toán, chính sách công
nghiệp gồm cả qui định về môi trường, tiêu chuẩn hóa, hệ thống pháp luật về
quyền sở hữu trí tuệ, các vấn đề về sở hữu và vận hành hệ thống bằng sáng chế và
quyền tác giả, hoạt động của thị trường vốn để
thúc đẩy năng lực đổi mới; Đẩy
mạnh ứng dụng công nghiệp vào các kết quả NCCB của các trường đại học và các
phòng thí nghiệm do Nhà nước tài trợ. Hoạt động đổi mới ở DNCN, tập trung trên

đang phát triển đóng vai trò như
thị trường. Theo The Economist, ngành công
nghiệp dược phẩm của Mỹ đã mất 500 triệu USD tại Ấn Độ mỗi năm do sự yếu
kém trong việc bảo hộ quyền SHTT ở nước này. Mặt khác, năm 1998, Mỹ cũng
đã thu về 36 tỷ USD tiền bản quyền. Từ kinh nghiệm của các nước đã gia nhập
WTO, có thể thấy rằng việc bảo hộ quyền SHTT mạnh chủ yế
u chỉ phục vụ lợi ích
của các nước công nghiệp phát triển, các nước này sẽ được hưởng lợi nhiều nhất
từ việc bảo hộ quyền SHTT. Chính phủ các nước đang phát triển sẽ phải cố gắng
tìm cách cân đối giữa nhu cầu của việc thực hiện bảo hộ SHTT và mong muốn
được ứng dụng công nghệ rộng rãi để nâng cao năng suất.
Về lâu dài, việc b
ảo vệ quyền SHTT sẽ khuyến khích sự sáng tạo ngay tại
các nước đang phát triển và có lợi đối với các nước đang phát triển. Nhưng hiện
nay, TRIPs đang có xu hướng bất lợi cho các nước đang và kém phát triển, bởi vì
các phát minh sáng chế hiện nay chủ yếu là của các nước phát triển. TRIPs bảo vệ
quyền của người tạo ra sáng chế phát minh và quy định ai sử dụng sáng chế phát
minh cũng đều phải tr
ả tiền. Trong khi đó, các nước đang phát triển lại hầu như có
rất ít phát minh sáng chế, họ muốn sử dụng các thành tựu phát minh của các nước
phát triển mà không phải trả tiền. Đánh giá khái quát, trong số các nước nghèo,
chỉ có khoảng trên dưới 10 quốc gia, tập trung ở Đông Nam châu Á, đã thành
công trên con đường tìm kiếm thịnh vượng nhờ vào chiến lược: Cóp nhặt, đuổi
theo, vượt công nghệ phương Tây. Việc bảo h
ộ tác quyền quá dài sẽ tăng quyền
cho chủ tài sản tư của nước giàu và hạn chế doanh nhân nước nghèo tiếp nhận tri
thức đôi khi đã trở nên một tài sản công cộng. Chính phủ cũng sẽ phải đầu tư
nhiều hơn vào công tác thực thi pháp luật để phù hợp với Hiệp định TRIPs.

13

Tiếp cận lý thuyết hệ thống đổi mới quốc gia (NIS) đặt ra những vấn đề thể
chế cấp quốc gia, chùm đổi mới tác động đến sự phát triển KH&CN vùng, địa
phương và vai trò của KH&CN đối với phát triển kinh tế vùng (TSKH. Nguyễn
Thành Bang). NIS liên quan đến vấn đề tổ chức, tương tác của các nhân tố trong
NIS (TS.Bạch Tân Sinh). Nghiên cứu lý thuyết NIS và đưa ra cách tiếp cận đổ
i
mới quan niệm về tiềm lực KH&CN, cách tiếp cận đổi mới đặt ra những ứng dụng
trong quản lý KH&CN và làm rõ nội hàm và khái niệm «đổi mới» trong phạm vi
hoạt động KH&CN (Ths.Nguyễn Mạnh Quân) nghiên cứu. Gần đây có cách tiếp
cận lịch sử «Nghiên cứu quá trình phát triển của chính sách đổi mới (Ths.Hoàng
Văn Tuyên). Bên cạnh đó có ý kiến góp bàn về Chính sách đổi mới của
TS.Nguyễn Văn Học, xem xét chính sách đổi m
ới không chỉ duy nhất từ cách tiếp
cận NIS. Nghiên cứu năng lực đổi mới của doanh nghiệp, Ts.Trần Ngọc Ca đã
“Nghiên cứu khả năng tăng cường NLCN của DN Việt Nam qua các quan hệ với
các công ty nước ngoài hoạt động tại Việt Nam” cũng như: "Nghiên cứu cơ sở
khoa học cho việc xây dựng một số chính sách và biện pháp thúc đẩy hoạt động
đổi mới công nghệ và NC&PT trong các cơ sở
SX ở Việt Nam”. Năm 2007,
TS.Bạch Tân Sinh đã “Nghiên cứu lựa chọn hệ thống chỉ số đổi mới và áp dụng

14
thử phục vụ đánh giá năng lực đổi mới của doanh nghiệp trong một ngành kinh tế
của Việt Nam”, trong nghiên cứu này nêu rất rõ hệ thống chỉ số về hoạt động đổi
mới ở doanh nghiệp nói chung. Các chủ đề về Phát triển thị trường công nghệ tại
việt nam - Tăng cường liên kết nhà nước và doanh nghiệp đã thảo luận nhiều ở
các hội nghị qu
ốc gia.
Tóm lại, cho đến nay việc nghiên cứu DN nói chung, DNCN nói riêng còn
có nhiều cách tiếp cận, nội dung nghiên cứu khác nhau, nhưng chủ yếu tập trung

ổ chức );
quan điểm thứ hai theo cách tiếp cận đổi mới, tập trung vào hoạt động đổi mới
công nghệ và qui trình đổi mới công nghệ. Theo quan điểm thứ hai, đổi mới công
nghệ được hiểu như sau:
Hoạt động đổi mới công nghệ gồm các khâu liên quan đến khoa học, công
nghệ, tổ chức, tài chính và thương mại, kể cả đầu vào tri thức mới, đã hoặc sẽ
đem
lại các sản phẩm và qui trình mới/hoàn thiện hơn về mặt công nghệ. NC&PT chỉ
là một trong các hoạt động này được thực hiện ở các giai đoạn khác nhau của quá
trình đổi mới. Nó có thể có tác dụng không chỉ với tư cách là cội nguồn của các ý
tưởng sáng tạo mà còn là phương tiện giải quyết vấn đề có thể cần đến ở bất cứ
thời điểm nào tr
ước khi quyết định thực hiện (Frascati, 2002-OECD). Sự sáng tạo
và thay đổi tổ chức là yếu tố cần thiết cho sự phát triển phạm vi mới của đổi mới,
làm gia tăng các doanh nghiệp đến sự sáng tạo mới của các doanh nghiệp và tính
đa dạng, cũng như sự sáng tạo mới của các tổ chức nghiên cứu, các tổ chức hoạch
định chính sách.
Đổi mới về công nghệ chủ y
ếu ở hai khâu quan trọng là sản phẩm công
nghệ và qui trình công nghệ (SP&QTCN). Hoạt động sản xuất, kinh doanh của bất
kỳ doanh nghiệp nào đều phải tiến hành đổi mới SP&QTCN để phát triển, tồn tại

16
và cạnh tranh. Để tiến hành được điều này, phần lớn doanh nghiệp phải đầu tư
nhiều vào NC&PT, đào tạo và sử dụng dịch vụ KH&CN. Dịch vụ dựa trên tri thức
là động lực thúc đẩy doanh nghiệp tiến hành hoạt động liên minh và liên kết chặt
chẽ (OECD, 2005). Cách tiếp cận và quan điểm này cho thấy đổi mới công nghệ
không chỉ đơn thuần là đổi mới phần cứng (thi
ết bị, phương tiện kỹ thuật ) hay
phần mềm (bí quyết, kỹ năng, thông tin chứa trong tài liệu ), đổi mới công nghệ

trình, quy trình mới hoặc sản phẩm mới tất cả trong quan hệ hàng ngày với hoạt
động kinh tế, sản xuất và thị trường, giữa các doanh nghiệp và khách hàng, các
trường đại học, phòng NC&PT, hệ thống bằng sáng chế, thị trường lao động, hệ
thống ngân hàng Như vậy, hoạt động đổi m
ới không chỉ gắn với chi tiêu cho
NC&PT mà gắn với các tác nhân khác trong hệ thống đổi mới quốc gia. Chính
sách đổi mới có nội hàm tương đối rộng vì đặc điểm căn bản của chính sách đổi
mới là tổ hợp” các chính sách.
Chính sách đổi mới công nghệ thường không tách khỏi các chính sách đổi
mới khác. Bên cạnh đấy bản thân công nghệ là sự tập hợp nhiều yếu tố, do đó
chính sách đổi mới công ngh
ệ được hiểu là sự tập hợp các chính sách kinh tế (cả

17
vĩ mô, trung mô và vi mô), chính sách công nghiệp, chính sách KH&CN, chính
sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, chính sách kinh doanh, cạnh tranh bao
trùm các hoạt động liên quan đến đổi mới công nghệ, đổi mới SP&QTCN.
Thường Chính sách đổi mới công nghệ mang tính đột phá, đổi mới công nghệ
luôn phá vỡ một thị trường hiện tại, đổi mới để cải thiện một sản phẩm hoặc dịch
vụ theo những cách mà thị trường chưa có, chưa rõ ho
ặc không mong đợi, bằng
cách giảm giá hoặc thiết kế sản phẩm mới cho một nhóm người tiêu dùng nhất
định, trong một thời gian nhất định sau đó được phổ biến rộng rãi.
1.2. Vị trí, vai trò của doanh nghiệp ngành công nghiệp trong nền kinh
tế quốc dân và hoạt động KH&CN
1.2.1. Vị trí, vai trò của doanh nghiệp trong cơ cấu của nền kinh tế
Doanh nghiệp ngành công nghiệp (DNNCN) có vị trí đặc biệt to lớn trong
nền kinh tế
của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Hai cuộc cách mạng công
nghiệp đã chứng minh cho điều này. Ở các nước phát triển, ngành công nghiệp là

2,89%, đóng góp 0,49 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,29%,
đóng góp 3,02 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 7,24%, đóng góp 3,01 điểm
phần trăm. Trong tổng sản phẩm trong nước 9 tháng, khu vực nông, lâm nghiệp và

18
thủy sản chiếm 21,09%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 40,85%; khu vực
dịch vụ chiếm 38,06%.
Nhiều quốc gia phát triển cho thấy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP,
DNNC đóng vai trò rất to lớn, do đó khi đặt ra mục tiêu, các nước phải tiến hành
thúc đẩy hoạt động đổi mới ở DNNC. Phần lớn các nước OECD hỗ trợ NC&PT
cho doanh nghiệp hoặc trực tiếp thông qua tài trợ hoặc cho vay hoặ
c gián tiếp
thông qua khuyến khích thuế, tài trợ vốn ban đầu, thúc đẩy sự liên kết giữa khoa
học và công nghiệp, giới thiệu, mở rộng chương trình hợp tác giữa các khu vực
công và tư nhân, giữa các tổ chức KH&CN về hoạt động đổi mới công nghệ,
SP&QTCN. Thực tế ở Việt Nam cho thấy, ngành công nghiệp nói chung,
DNNCN nói riêng đã được quan tâm, chú ý. Tuy nhiên, DNNCN vẫn chưa có
được sức cạnh tranh, năng lực đổi mới để
có thể tạo ra sự đổi mới có tính đột phá
để đóng góp nhiều hơn nữa vào tỷ trọng GDP cũng như chiếm được thị phần, mở
rộng phạm vi hàng hóa, sản phẩm ở thị trường trong và ngoài nước.
1.2.2. Năng lực của doanh nghiệp và trách nhiệm của doanh nghiệp
OECD phân làm ba hoạt động chính là: NC&PT, công tác giáo dục và đào
tạo KH&KT và dịch vụ KH&CN, hoạt động NC&PT và phát triển công nghệ
(PTCN) là nhân tố chính, vì đó là hoạt động cơ bản nhất, đóng góp quan trọng
nhất đối với sự tăng trưởng kinh tế. Vai trò của doanh nghiệp vừa là nhà đầu tư và
sử dụng NC&PT và PTCN. Vị trí và vai trò của doanh nghiệp được chứng minh ở
năng lực và trách nhiệm của doanh nghiệp.
a. Năng lực của Doanh nghiệp: là tích tụ rất nhiều NL như: mang tri thức,
nối mạng, thích ứng nhanh (hay phản ứng nhanh), tương tác và c

ề các tổ chức KH&CN, các chỉ tiêu về đổi mới công nghệ, các
chỉ tiêu về trình độ công nghệ trong sản xuất và các chỉ tiêu khác về năng lực đổi
mới công nghệ. Năm 2009, Nguyễn Hoàng Anh đã đề xuất 12 tiêu chí đánh giá
năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp sản xuất công nghiệp: Ý tưởng về
đổi mới công nghệ của doanh nghiệp trong 5 năm; Năng lực của nhân lực; N
ăng
lực vốn cho đổi mới công nghệ; Năng lực hạ tầng công nghệ; Năng lực nghiên
cứu và triển khai; Năng lực thông tin công nghệ; Năng lực cải tiến quy trình công
nghệ; Năng lực cạnh tranh của sản phẩm; Năng lực tìm kiếm và lựa chọn công
nghệ; Năng lực đàm phán công nghệ; Năng lực tiếp nhận và đưa công nghệ mới
vào hoạt động; N
ăng lực về các thiết chế cho đổi mới công nghệ.
Năng lực chuyển giao tri thức: NLCG cần ít người và những người đặc
biệt giỏi đó là những cá nhân chủ chốt của các công ty, những người này được
đánh giá như ‘người gác cổng’ công nghệ chuyên môn, họ thường xuyên cập nhật
thông tin, kiến thức KH&CN mới, được giáo dục và đào tạo bài bản để chuyển
giao và nhận chuyển giao tri th
ức mới một cách tốt nhất. Ngoài nhân tố con người,
các nhân tố văn hóa-xã hội đóng một vai trò rất quan trọng ảnh hưởng lớn đến NL
học hỏi và chuyển giao tri thức của DN, đây là nhân tố nền tảng và rất quan trọng
đối với hoạt động đổi mới hiệu quả ở DN.
b. Trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc đầu tư vào KH&CN
* Tạo dựng môi trường học h
ỏi: các doanh nghiệp phải luôn tiến hành quá
trình học hỏi trong nội bộ doanh nghiệp và các liên kết, cộng tác để đào tạo,
CGCN với bên ngoài, tạo ra một xã hội học hỏi và tăng vốn hiểu biết, tri thức
ngày một nhiều hơn (cả tri thức phổ thông và tri thức chuyên môn).
* Phát triển đầu vào cho NC&PT: Trước hết, đó là việc sử dụng các cán bộ
khoa học và kỹ thuật, nhân lực NC&PT trong và ngoài DN. Phải sử d
ụng những

* Tăng chi phí của doanh nghiệp đầu tư cho NC&PT và hoạt động đổi mới:
Bao gồm chi phí lao động (tiền công và tiền l
ương hàng năm và toàn bộ chi phí
liên quan đến phúc lợi), chi phí thường xuyên (mua vật liệu, cung ứng, dịch vụ,
thiết bị trợ giúp các hoạt động đổi mới). Chi phí lắp đặt máy và thiết bị với tính
năng cải tiến về công nghệ và chi phí cơ bản cho NC&PT được đánh giá là chi phí
cho thực hiện đổi mới. Dựa trên đặc điểm của doanh nghiệp, năng lực và trách
nhiệm của họ, có thể nh
ận thấy doanh nghiệp đóng một vai trò rất quan trọng
trong việc đầu tư vào KH&CN, bởi họ là những người có sẵn tiềm năng lớn lao để
đi đến sự đổi mới, mạo hiểm góp phần to lớn vào sự tăng trưởng kinh tế “Doanh
nghiệp là nguồn then chốt của việc thúc đẩy, đổi mới và năng động đối với sự tăng
trưởng kinh tế” (OECD, 2005).
Chính sách đổ
i mới hướng mục tiêu phát triển doanh nghiệp trên cơ sở đào
tạo đội ngũ chủ chốt của doanh nghiệp (lãnh đạo, chuyên gia, kỹ sư ) sau khi
đào tạo họ có thể phổ biến tri thức mới một cách có trình tự trong doanh nghiệp
đồng thời bảo mật được những tri thức mới trong suốt quá trình sản xuất những
sản phẩm mới. Sự tăng trưởng bắt nguồn t
ừ những yếu tố ngoại sinh được tạo ra
trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các quá trình cải tiến, đổi mới
của các đơn vị sản xuất. Hợp tác và quan hệ chặt chẽ trong bộ phận doanh nghiệp,
giảm tối đa sự ngăn cách giữa các bộ phận. Những nhóm này được tự do giao tiếp
trực tiếp với các đơn vị khác ở trong và ngoài doanh nghiệp mà không cầ
n phải
qua các nấc thứ bậc khác nhau. Hình thức tổ chức mạng lưới này trở nên ngày
càng hấp dẫn, đặc biệt là trong lĩnh vực thường xuyên đổi mới sản phẩm (Sako và
Freeman).
Theo Robert Boyer và Michel Didier “Hoạt động đổi mới còn đi xa hơn nữa
so với hoạt động NCCB, nó có những qui luật riêng, những đặc thù riêng gắn bó

thuộc vào các ngành liên quan đến hoạt động kinh tế. Hiện nay, theo OECD
DNCN tập trung ở bốn khu vực công nghiệp kinh tế trọng điểm: (i) Khu vực thứ
nhất bao gồm các ngành tiểu thủ công nghiệp gốc (sơ khai) sản xuất sơ khai gồm
nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, khai thác khoán sản-primary sector, là các
ngành sản xuất nguyên liệu thô như ngành công nghiệp khai khoáng s
ản, nông
lâm, nghiệp; (ii) Khu vực thứ hai của nền kinh tế bao gồm các ngành liên quan
đến cải tiến, xây dựng và chế tạo-secondary sector; (iii) Khu vực thứ ba chính là
khu vực dịch vụ: giao thông, tài chính, ăn uống, du lịch, giải trí và phân phối hàng
hóa sản xuất-tertiary sector (iv) Khu vực thứ tư-khu vực tri thức: Hiện có xu
hướng tách một số ngành trong khu vực dịch vụ gồm giáo dục, nghiên cứu và phát
triển, thông tin, tư vấn thành một khu vực riêng, các ngành liên quan
đến sử dụng
tri thức công nghiệp mới trọng tâm trên nghiên cứu công nghệ, thiết kế và phát
triển cũng như các chương trình máy tính và sinh hóa-quaternary sector (v) các
ngành công nghiệp không vụ lợi-quinary sector nonprofit activities. 22
Mô hình các ngành công nghiệp của Clark
Khu vực chế tạo là một bộ phận trong khu vực thứ hai của nền kinh tế, bao
gồm các ngành sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh và có thể sử dụng cũng như sản
xuất vật liệu xây dựng. Khu vực này thường sử dụng các sản phẩm của khu vực sơ
khai (hay khu vực thứ nhất của nền kinh tế) làm đầu vào để sản xuất ra các s
ản
phẩm công nghệ tiêu dùng. Khu vực chế tạo có thể phân thành hai tiểu khu vực là
công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ.
Xu hướng ngày nay, các nước đã công nghiệp hóa giảm công nghiệp hóa
(Deindustrialization), gia tăng hiện đại hóa. Các ngành công nghiệp sử dụng nhiều
hàm lượng tri thức vào hoạt động sản xuất nhằm đổi mới sản phẩm thông qua việc

3030 Sản xuất hộ gia đình và cá thể
3510 Trang thiết bị chăm sóc sức khoẻ và dịch vụ
6
Chăm sóc sức khoẻ
3520
Dược phẩm, công nghệ sinh học và khoa học sự
sống
4010 Ngân hàng
4020 Đa dạng hoá các nguồn tài chính
4030 Bảo hiểm
7
Tài chính
4040 Bất động sản
4510 Phần mềm và dịch vụ
4520 Công nghệ phần cứng&Trang thiết bị
8
Công nghệ thông tin
4530 Chất bán dẫn&Trang thiết bị chất bán dẫn
9
Dịch vụ truyền thông 5010 Dịch vụ truyền thông
10
Ngành phục vụ công cộng 5510 Ngành phục vụ công cộng
Nguồn: Tổ chức OECD, năm 2007
1.3.2. Đặc điểm các doanh nghiệp ngành công nghiệp phần mềm, dệt
may, chế biến thực phẩm.
Ngành công nghiệp phần mềm ra đời từ những năm 1960 ở các nước phát
triển. Tuy nhiên ở Việt nam mới phát triển gần đây từ năm 2000 cho đến nay. Vai

23
trò của công nghiệp phần mềm đối với ngành công nghiệp nói riêng các ngành

phát triển và vốn sự nghiệp sẽ được phân bổ thực hiện 18
nhóm nội dung thuộc Chương trình phát triển công nghiệp phần mềm và Chương
trình phát triển công nghiệp nội dung số Việt Nam).
Vị trí, vai trò của 03 ngành công nghiệp, hiện 03 ngành đã được Chính phủ
quyết định là những ngành công nghiệp ưu tiên và mũi nhọn giai đoạn 2007-2010
và tầm nhìn đến 2020 (Quyết định 55/2007/QĐ-TTg ngày 23 tháng 4 năm 2007).
Ngành công nghiệp ph
ần mềm được xác định là công nghiệp mũi nhọn, là ngành
phát triển trong lĩnh vực công nghệ cao, đóng vai trò quan trọng trong sự phát
triển KH&CN, KT-XH. Ngành công nghiệp dệt may và công nghiệp chế biến thực
phẩm được Chính phủ xác định là ngành công nghiệp ưu tiên, hiện nay đã có
chiến lược phát triển, xếp thứ 10 thế giới về xuất khẩu may nếu có chính sách
thích hợp ngành dệt may sẽ có triển vọng ở vị trí cao hơn có th
ể là “xưởng may
của thế giới”.
Đóng góp của 03 ngành đối với sự phát triển kinh tế (GDP) có khác nhau,
so với các ngành khác nhau. Việc tìm hiểu, so sánh là cần thiết trong nghiên cứu

24
và đánh giá. 03 ngành không đại diện cho toàn bộ ngành công nghiệp nhưng là
bức tranh để phân tích các loại ngành công nghiệp (truyền thống, hiện đại). Vấn
đề quan trọng của chính sách đổi mới là thúc đẩy và khuyến khích các ngành công
nghiệp phát triển và đóng góp vào tăng trưởng GDP và phát triển xã hội. Việc một
ngành nào đó không đóng góp lớn và không phát triển theo mục tiêu đề ra cần tìm
hiểu nguyên nhân căn bản, từ đó đề xuất chính sách mới phù hợp.
2. Thự
c tiễn về xây dựng chính sách đổi mới công nghệ cho các doanh
nghiệp ngành công nghiệp
Xu hướng chính trong xây dựng chính sách đổi mới quốc gia về KH&CN là
gia tăng hoạt động đổi mới không chỉ có công nghệ mà còn nhiều hoạt động

của sự đổi mới trong tư duy, hành động của các tổ
chức trong hệ thống từ bộ, ngành và các cơ quan chính phủ đi kèm cải cách hành
chính, tạo ra các cơ chế tài trợ mới trên cơ sở xây dựng các mối quan hệ hợp tác
với các ngành công nghiệp. Bên cạnh đó, chính sách đổi mới của Nhật Bản đã
chuyển từ dạng cho và hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sang để doanh nghiệp t
ự đổi
mới công nghệ. Chính sách đổi mới công nghệ nhấn mạnh vào việc gia tăng mức

25

Hoạt động nghiên cứu
Hỗ trợ thực hiện
nghiên c

u
độ phù hợp chiến lược đổi mới công nghệ từ đó chính sách đổi mới có một phạm
vi rộng hơn phạm vi ứng dụng trước đây đó là đa dạng tập hợp các công cụ chính
sách xảy ra.

Tri thức KH&CN Chỉ đạo
nghiên cứu
Tích lũy và
hệ thống hóa
các nghiên
khám phá
thống đánh giá đã được thành lập năm 1997 theo nguyên tắc tổng quát.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status