phân tích và đánh giá tình hình thực trạng của việc kinh doanh tại công ty kinh doanh than Hà Nội - Pdf 30

LỜI MỞ ĐẦU
Bước đầu gia nhập WTO nước ta vẫn còn nhiều yếu kém và cần phải
học hỏi nhiều hơn để thích nghi và có thể phát triển trong thị trường. Để tồn
tại được trong thị trường đòi hỏi doanh nghiệp cần hoàn thiện năng lực kinh
doanh, phát huy sức mạnh nội tại. Gia nhập WTO cho doanh nghiệp trong
nước nhiều cơ hội được thử sức, học hỏi được những kinh nghiệm từ các
doanh nghiệp nước ngoài, rút ra những bài học kinh nghiệm và áp dụng hiệu
quả những kinh nghiêm kinh doanh đó vào cuộc sống để tự rèn luyện và
phát triển mình.
Trước xu hướng đó, đối với nền kinh tế Việt Nam ngành than được
coi là một trong những ngành rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của
đất nước. Mục tiêu chiến lược và nhiệm vụ của ngành là góp phần thực hiện
đường lối của Đảng, góp phần thực hiện thắng lợi trong sự nghiệp CNH-
HĐH đất nước, đảm bảo nhu cầu toàn xã hội đang không ngừng tăng lên về
mọi mặt, không ngừng tăng cường sản xuất, xuất khẩu, giải quyết công ăn
việc làm cho người lao động vấn đề mà toàn xã hội đang quan tâm. Công ty
kinh doanh Than Hà Nội là một doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá
trực thuộc Tập đoàn Than- Khoáng sản miền Bắc đang đứng trước những cơ
hội và thách thức lớn lao trong điều kiện cạnh tranh gay gắt. Để có thể tồn
tại, đứng vững và phát triển đòi hỏi Công ty phải xác định được cho mình
những phương thức hoạt động, những chính sách, những chiến lược cạnh
tranh đúng đắn.
Nhận thức được tầm quan trọng của xu thế hội nhập và cạnh tranh
cũng như mong muốn được đóng góp một số ý kiến để Công ty Kinh doanh
Than Hà Nội đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh. Sau một thời gian
thực tập tại công ty Kinh doanh than Hà Nội, em quyết định lựa chọn đề tài
SVTH: Vương Đình Phúc Lớp: KTPT 47A
“ Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho Công ty Kinh
doan Than Hà Nội” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
Đề tài được viết khi thực tập tại công ty kinh doanh than Hà Nội,
thuộc tập đoàn than khoáng sản miền Bắc. Đề tài đi sau phân tích và đánh

dân chìm trong cảnh mất mùa, thiếu thốn. Vậy mà đến năm 1968 Nhật bản
đã trở thành một nước có nền kinh tế đứng thứ hai trên thế giới (sau Mỹ) và
được xếp hàng các cường quốc kinh tế lớn nhất, kỷ lục về sự tăng trưởng
kinh tế này là một trong những đỉnh cao để xác định năng lực cạnh tranh lớn
của nền kinh tế Nhật bản. Cũng theo WEF thì các yếu tố xác định năng lực
cạnh tranh được chia làm 8 nhóm chính bao gồm 200 chỉ số khác nhau, các
SVTH: Vương Đình Phúc Lớp: KTPT 47A
nhóm yếu tố xác định năng lực cạnh tranh tổng thể chủ yếu có thể kể ra là:
Nhóm 1: Mức độ mở cửa nền kinh tế thế giới bao gồm các yếu tố thuế
quan, hàng rào phi thuế quan, hạn chế nhập khẩu, chính sách tỷ giá hối đoái.
Nhóm 2: Nhóm các chỉ số liên quan đến vai trò và hoạt động của
chính phủ bao gồm mức độ can thiệp của Nhà nước, năng lực của Chính
phủ, thuế và mức độ trốn thuế, chính sách tài khoá.
Nhóm 3: Các yếu tố về tài chính bao gồm các nội dung về khả năng
thực hiện các hoạt động trung gian tài chính, hiệu quả và cạnh tranh, rủi ro
tài chính đầy đủ và tiết kiệm.
Nhóm 4: Các yếu tố về công nghệ bao gồm năng lực phát triển công
nghệ trong nước, khai thác công nghệ thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài,
phát triển công nghệ thông qua các kênh chuyển giao công nghệ khác.
Nhóm 5: Các yếu tố và kết cấu hạ tầng như giao thông liên lạc và kết
cấu hạ tầng khác.
Nhóm 6: Quản trị bao gồm các chỉ số và quản trị nguồn nhân lực và
các yếu tố quản trị không liên quan đến nguồn nhân lực.
Nhóm 7: Các yếu tố về lao động bao gồm các chỉ số về trình độ tay
nghề và năng suất lao động, độ linh hoạt của thị trường lao động, hiệu quả
của các chương trình xã hội , quan hệ lao động trong một ngành.
Nhóm 8: Các yếu tố về thể chế gồm các yếu tố về chất lượng, các thể
chế về pháp lý, các luật và văn bản pháp quy khác.
Dựa vào các nhóm chỉ số này có thể đánh giá, xem xét để rút ra kết
luận về việc định liệu các chính sách, biện pháp đã được sử dụng ở một

sách của M.Poter, khảnăng cạnh tranh của doanh nghiệp có thể hiểu là năng
chiếm lĩnh thị trường, tiêu thụ các sản phẩm cùng loại (hay sản phẩm thay
SVTH: Vương Đình Phúc Lớp: KTPT 47A
thế) của công ty đó. Với cách tiếp cận này mỗi ngành dù là trong hay ngoài
nước năng lực cạnh tranh được quy định bởi các yếu tố sau:
 Số lượng các doanh nhgiệp mới tham gia.
 Sự có mặt của các sản phẩm thay thế
 Vị thế của khách hàng
 Uy tín của nhà cung ứn
 Tính quyết liệt của đối thủ cạnh tranh
Nghiên cứu những yếu tố cạnh tranh này sẽ là cơ sở cho doanh nghiệp
xây dựng và lựa chọn chiến lược kinh doanh cạnh tranh phù hợp với trong
giai đoạn, thời kỳ phát triển thời kỳ phát triển của nền kinh tế.
Quan điểm tân cổ điển về năng lực cạnh tranh của một sản phẩm
Quan điểm này dựa trên lý thuyết thương mại truyền thống, để xem
xét năng lực cạnh tranh của một sản phẩm thông qua lợi thế so sánh về chi
phí sản xuất và năng suất. Như vậy năng lực cạnh tranh của một ngành, công
ty được đánh giá cao hay thấp tuỳ thuộc vào chi phí sản xuất có giảm bớt
hay không vì chi phí các yếu tố sản xuất thấp vẫn được coi là điều kiện cơ
bản của lợi thế cạnh tranh
Quan điểm tổng hợp của VarDwer, E.Martin và R.Westgren
VarDwer, E.martin và R.Westgren là những đồng tác giả của cuốn
“Assessing the competiviveness of Canada’s agrifood Industry”- 1991. Theo
các tác giả này thì năng lực cạnh tranh của một ngành, của công ty được thể
hiện ở việc tạo ra và duy trì lợi nhuận, thị phần trên các thị trường trong
nước và nước ngoài. Như vậy lợi nhuận và thị phần, hai chỉ tiêu đánh giá
năng lực cạnh tranh của công ty. Chúng có mối quan hệ tỷ lệ thuận, lợi
nhuận và thị phần càng lớn thể hiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
càng cao. Ngược lại, lợi nhuận và thị phần giảm hoặc nhỏ phán ánh năng lực
cạnh tranh của công ty bị hạn chế hoặc chưa cao. Tuy nhiên chúng chỉ là

Môi trường kinh tế có vai trò hàng đầu và có ảnh hưởng quyết định
đến hoạt động kinh doanh của mọi doanh nghiệp. Nếu nền kinh tế trong
nước và kinh tế quốc tế tăng trưởng cao sẽ làm tăng thu nhập của hộ gia đình
và doanh nghiệp, dẫn đến tăng khả năng thanh toán cho nhu cầu tiêu dùng và
nhu cầu đầu tư. Thị trường của doanh nghiệp sẽ được mở rộng, áp lực cạnh
tranh giảm, doanh nghiệp sẽ có điều kiện mở rộng sản xuất, thu được nhiều
lợi nhuận hơn. Khi nền kinh tế rơi vào suy thoái nó sẽ tác động năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp theo hướng ngược lại, làm cho thị trường bị thu
hẹp và áp lực cạnh tranh lớn hơn. Doanh nghiệp có nguy cơ bị giảm lợi
nhuận, thua lỗ thậm chí phá sản.
c. Môi trường chính trị
Môi trường chính trị trong nước và quốc tế ảnh hưởng rất lớn đến
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Môi trường chính trị trong nước ổn
định sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp yên tâm tiến hành hoạt động sản xuất
kinh doanh, đầu tư nâng cao năng lực sản xuất, mở rộng thị trường.
Các nhân tố chủ yếu phản ánh thay đổi chính trị của thế giới là các
quan hệ chính trị hình thành trên toàn cầu hoặc ở khu vực như vấn đề toàn
cầu hóa, hình thành, mở rộng hoặc phá bỏ các liên minh song phương hoặc
đa phương, giải quyết các mâu thuẫn cơ bản của thế giới và khu vực. Các
nhân tố này tác động tích cực hoặc tiêu cực đến hoạt động của doanh nghiệp
của mỗi quốc gia nói riêng và của các doanh nghiệp nước ta nói riêng. Nhìn
chung nếu những bất đồng về chính trị giữa các quốc gia được xóa bỏ, quan
hệ giữa các nước được bình thường hóa thì thị trường của doanh nghiệp sẽ
được mở rộng, doanh nghiệp cũng có điều kiện giao lưu, học hỏi, tiếp thu
công nghệ mới; Trong khi đó nếu một quốc gia vì xung đột chính trị mà
đóng cửa, bế quan tỏa cảng thì một mặt, một số doanh nghiệp trong nước có
SVTH: Vương Đình Phúc Lớp: KTPT 47A
khả năng mở rộng thị phần trong nước vì không gặp phải áp lực cạnh tranh
từ bên ngoài, nhưng mặt khác các doanh nghiệp trong nước sẽ bị tụt hậu về
năng lực sản xuất, trình độ công nghệ, năng lực quản lý…

trường đã bão hòa mà số lượng doanh nghiệp gia nhập ngày càng nhiều thì
cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sẽ khiến lợi nhuận ngày càng giảm sút.
Khách hàng là người tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp. Thị hiếu và
những yêu cầu cụ thể của khách hàng về chất lượng, mẫu mã sản phẩm, tính
nhạy cảm của khách hàng với giá cả… đều tác động đến việc thiết kế sản
phẩm của doanh nghiệp. Doanh nghiệp đáp ứng được yêu cầu của khách
hàng sẽ giành được thắng lợi trong cạnh tranh, ngược lại, doanh nghiệp nào
không chú ý đến nhu cầu của khách hàng chắc chắn sẽ gặp thất bại. Do nhu
cầu của khách hàng là một phạm trù không có giới hạn nên doanh nghiệp
còn phải biết khai thác và biến nhu cầu của khách hàng thành cầu thực sự.
b. Nhà cung cấp
Các nhà cung cấp hình thành các thị trường cung cấp yếu tố đầu vào
khác nhau bao gồm người bán thiết bị, nguyên vật liệu, người cấp vốn và
những người cung cấp lao động cho doanh nghiệp. Quan hệ với nhà cung
ứng ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nếu
doanh nghiệp tìm được nhà cung cấp thiết bị, nguyên vật liệu đầu vào lâu dài
với giá rẻ; được cac tổ chức tín dụng cho vay vốn với lã suất thấp; hoặc tìm
được nguồn cung lao động dồi dào, được đào tạo bài bản thì doanh nghiệp sẽ
tiết kiệm được chi phí đầu vào, qua đó có thể giảm giá thành, đồng thời nâng
cao chất lượng được sản phẩm chất lượng. Còn nếu các nhà cung cấp lại gây
sức ép tăng giá đầu vào thì doanh nghiệp sẽ phải tăng giá bán, khiến cho tính
cạnh tranh của sản phẩm giảm sút, hoặc phải chấp nhận giảm lợi nhuận để
SVTH: Vương Đình Phúc Lớp: KTPT 47A
giữ được khách hàng.
c. Các doanh nghiệp trong ngành
Các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ các doanh
nghiệp đang kinh doanh cùng ngành nghề, cùng khu vực thị trường. Số
lượng, quy mô, sức mạnh của từng đối thủ cạnh tranh đều ảnh hưởng đến
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Theo M. Porter, tám vấn đề sau sẽ
ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp so với các đối thủ: số

hóa san phẩm cũng như trong từng giai đoạn phải biết tìm và rút về phân
đoạn thị trường hay thị trường ngách phù hợp.
2.2. Các yếu tố nội bộ doanh nghiệp
2.2.1. Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức, bộ máy quản trị là tổng hợp các bộ phận khác nhau có
mối liên hệ và quan hệ phụ thuộc lẫn nhau được chuyên môn hóa, được giao
những trách nhiệm và quyền hạn nhất định và được bố trí theo từng cấp
nhằm thực hiện các chức năng quản lý doanh nghiệp.
Quản trị doanh nghiệp tác động mạnh mẽ đến hoạt động lao động
sáng tạo của đội ngũ lao động, đến sự đảm bảo cân bằng giữa doanh nghiệp
với môi trường bên ngoài cũng như cân đối có hiệu quả các bộ phận bên
trong doanh nghiệp với môi trường bên ngoài cũng như cân đối có hiệu quả
các bộ phận bên trong doanh nghiệp, mặt khác, giữa quản trị doanh nghiệp
và chất lượng sản phẩm có mối quan hệ nhân quả. Doanh nghiệp cần chú ý
hai vấn đề chính là luôn dánh giá đúng thực trạng cơ cấu doanh nghiệp và
khả năng thích ứng của cơ cấu tổ chức trước các biến động của môi trường
kinh doanh.
SVTH: Vương Đình Phúc Lớp: KTPT 47A
2.2.2. Năng lực tài chính
Năng lực tài chính là khả năng huy động và sử dụng các nguồn vốn
đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Mọi hoạt
động đầu tư, mua sắm, dự trữ, lưu kho… cũng như khả năng thanh toán của
doanh nghiệp ở mọi thời điểm đều phụ thuộc vào khả năng tài chính của nó.
Khi đánh giá tiềm lực tài chính của doanh nghiệp cần tập trung vào một số
vấn đề: cầu về vốn và khả năng huy động vốn của doanh nghệp, việc phân
bổ vốn, hiệu quả sử dụng vốn ở doanh nghiệp, các chỉ tiêu tài chính tổng
hợp…
2.2.3. Năng lực nghiên cứu và triển khai (R&D)
Nghiên cứu và phát triển là hoạt động có mục đích sáng tạo sản phẩm
mới và khác biệt hóa sản phẩm; sáng tạo, cải tiến và (hoặc) áp dụng công

Trên thực tế có rất nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác, trong đó thị
phần là một chỉ tiêu thường hay được sử dụng. Thị phần được hiểu là phần
thị trường mà doanh nghiệp chiếm giữ trong tổng dung lượng thị trường. Do
đó thị phần của doanh nghiệp được xác định:
Thị phần của doanh nghiệp =
Chỉ tiêu này càng lớn nói lên sự chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp
càng rộng. Thông qua sự biến động của chỉ tiêu này ta có thể đánh giá mức
động hoạt động của doanh nghiệp có hiệu quả hay không bởi nếu doanh
nghiệp có một mảng thị trường lớn thì chỉ số trên đạt mức cao nhất và ấn
định cho doanh nghiệp một vị trí ưu thế trên thị trường. Nếu doanh nghiệp
SVTH: Vương Đình Phúc Lớp: KTPT 47A
Doanh thu của doanh nghiệp
Tổng doanh thu của thành phố
có một phạm vi thị trường nhỏ hẹp thì chỉ số trên ở mức thấp, phản ánh tình
trạng doanh nghiệp đang bị chèn ép bởi các đối thủ cạnh tranh. Bằng chỉ tiêu
thị phần, doanh nghiệp có thể đánh giá sơ bộ khả năng chiếm lĩnh thị trường
so với toàn ngành.
Để đánh giá được năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp so với các đối
thủ ta dùng chỉ tiêu thị phần tương đối: đó là tỷ lệ so sánh về doanh thu của
công ty so với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất để từ đó có thể biết được những
mặt mạnh hay những điểm còn hạn chế so với đối thủ. Ưu điểm của chỉ tiêu
này là đơn giản, dễ hiểu nhưng nhược điểm của nó là khó nắm bắt được
chính xác số liệu cụ thể và sát thực của đôí thủ.
3.2. Năng suất lao động
Năng suất lao động là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản
xuất kinh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Bởi thông qua năng suất
lao động ta có thể đánh giá được trình độ quản lý, trình độ lao động và trình
độ công nghệ của doanh nghiệp.
3.3. Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận

đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào có uy tín
sẽ có nhiều bạn hàng, nhiều đối tác làm ăn và nhất là có một lượng khách
hàng rất lớn. Mục tiêu của các doanh nghiệp là doanh thu, thị phần và lợi
nhuận ... Nhưng để đạt được các mục tiêu đó doanh nghiệp phải tạo được uy
tín của mình trên thị trường, phải tạo được vị thế của mình trong con mắt
của khách hàng. Cơ sở, tiền đề để tạo được uy tín của doanh nghiệp đó là
doanh nghiệp phải có một nguồn vốn đảm bảo để duy trì và phát triển hoạt
động kinh doanh, có một hệ thống máy móc, cơ sở hạ tầng đáp ứng đầy đủ
SVTH: Vương Đình Phúc Lớp: KTPT 47A
yêu cầu của hoạt động kinh doanh. Yếu tố quan trọng nhất để tạo nên uy tín
của doanh nghiệp đó là “con người trong doanh nghiệp” tức doanh nghiệp
đó phải có một đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao, đội
ngũ nhân viên giỏi về tay nghề và kỹ năng làm việc, họ là những con người
có trách nhiệm và nhiệt tình trong công việc, biết khơi dậy nhu cầu của
khách hàng.
3.5. Năng lực quản trị
Năng lực của nhà quản trị được thể hiện ở việc đưa ra các chiến lược,
hoạch định hướng đi cho doanh nghiệp. Nhà quản trị giỏi phải là người giỏi
về trình độ, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có khả năng giao tiếp, biết nhìn
nhận và giải quyết các công việc mộ cách linh hoạt và nhạy bén, có khả năng
thuyết phục để người khác phục tùng mệnh lệnh của mình một cách tự
nguyện và nhiệt tình.Biết quan tâm, động viên, khuyến khích cấp dưới làm
việc có tinh thần trách nhiệm. Điều đó sẽ tạo nên sự đoàn kết giữa các thành
viên trong doanh nghiệp.
II. Vai trò của hoạt động kinh doanh than trong đời sống
Xuất phát từ nhu cầu giải quyết việc làm cho một lượng lớn người lao
động và đáp ứng nhu cầu năng lượng phục vụ sinh hoạt và vận hành các cỗ
máy công nghiệp, chính phủ đã cho phép thành lập
III. Sự cần thiết của việc nâng cao năng lực cạnh tranh của công
ty kinh doanh than Hà Nội

doanh nghiệp cần phải cạnh tranh, tìm mọi cách nâng cao năng lực cạnh
tranh của mình nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng. Các doanh
nghiệp cần phải tìm mọi biện pháp để đáp ứng nhu cầu thị hiếu của người
tiêu dùng như sản xuất ra nhiều loại hàng hoá có chất lượng cao, giá cả phù
SVTH: Vương Đình Phúc Lớp: KTPT 47A
hợp với chất lượng sản phẩm, phù hợp với mức thu nhập của từng đối tượng
khách hàng. Có như vậy hàng hoá của doanh nghiệp bán ra mới ngày một
nhiều, tạo được lòng tin đối với khách hàng. Muốn tồn tại và phát triển được
thì doanh nghiệp cần phải phát huy hết ưu thế của mình, tạo ra những điểm
khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh từ đó doanh nghiệp mới có khả năng
tồn tại, phát triển và thu được lợi nhuận cao.
Trong nền kinh tế thị trường muốn tồn tại và phát triển thì cạnh tranh
luôn là mục tiêu của mỗi doanh nghiệp. Cũng trong nền kinh tế đó khách
hàng là người tự do lựa chọn nhà cung ứng và cũng chính là những người
quyết định cho doanh nghiệp có tồn tại hay không. Họ không phải tìm đến
doanh nghiệp như trước đây nữa và họ cũng không phải mất thời gian chờ
đợi để mua hàng hoá dịch vụ, mà đối ngược lại trong nền kinh tế thị trường
khách hàng được coi là thượng đế, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát
triển thì phải tìm đến khách hàng và khai thác nhu cầu nơi họ. Điều này đòi
hỏi doanh nghiệp phải có những chương trình giới thiệu truyền bá và quảng
cáo sản phẩm của mình để người tiêu dùng biết đến, để họ có sự xem xét,
đánh giá và quyết định có nên tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp hay
không? Ngày nay việc chào mời để khách hàng tiêu thụ sản phẩm của mình
luôn là vấn đề khó khăn, nhưng việc giữ lại được khách hàng còn khó khăn
hơn rất nhiều. Bởi vậy mà doanh nghiệp nên có những dịch vụ cả trước và
sau khi bán hàng, doanh nghiệp cần phải có những chiến lược cạnh tranh
phù hợp để thu hút và giữ chân khách hàng.
 Doanh nghiệp phải cạnh tranh để thực hiện các mục tiêu
Bất kỳ một doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ khi thực hiện hoạt động
kinh doanh đều có những mục tiêu nhất định. Tuỳ thuộc vào từng giai đoạn

một lượng lớn lao động và nâng cao mức sống của nhiều người dân, tạo sự
công bằng trong phân phối thu nhập.
Khi công ty phát triển, doanh thu tăng sẽ cần mở rộng và cần nhiều
công nhân hơn, tạo điều kiện việc làm cho nhiều người hơn. Và mặt khác
cũng làm sản lượng bán ra tăng lên tăng nguồn đầu vào và tạo thêm thu nhập
cho người cung cấp sản phẩm đầu vào, mà cụ thể là các mỏ than, và như vậy
số công nhân khai thác than cũng tăng lên, giải quyết việc làm.
3. Đáp ứng nhu cầu năng lượng của người tiêu dùng
3.1 Đáp ứng nhu cầu đầu vào cho các nhà máy, xí nghiệp công
nghiệp sử dụng nguồn năng lượng từ than.
Thị trường năng lượng hiện nay rất phong phú, với nhiều loại hình sản
phẩm, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng. Điều này cũng có
nghĩa tính cạnh tranh trong thị trường năng lượng rất cao,
3.2 Đáp ứng nhu cầu sử dụng năng lượng cho tiêu dùng hộ gia
đình.
4. Giải quyết vấn đề khai thác và sử dụng hợ lý nguồn năng lược
Tài nguyên thiên nhiên không phải là vô tận, chúng chỉ giới hạn ở một
mức độ nhất định, và vì vậy khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên hợp
lý luôn là vấn đề cần quan tâm. Để đảm bảo môi trường tự nhiên không bị ô
nhiễm và không bị tàn phá yêu cầu việc khai thác và sử dụng nguồn năng
lượng hợp lý và không lãng phí. Chịu trách nhiệm phân phối than trên địa
bàn Hà Nội và một số tỉnh lân cận, công ty kinh doanh than Hà Nội đang cố
gắng đảm bảo không làm ô nhiễm môi trường, tạo ra một bầu không khí an
toàn cho cuộc sống của người dân và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sử
dụng nguồn năng lượng từ than đảm bảo phát triển bền vững.
SVTH: Vương Đình Phúc Lớp: KTPT 47A
trong điều kiện nền kinh tế còn kém phát triển, doanh thu của các
doanh nghiệp chưa cao thì việc sử dụng tiềm lực trong nước để phát triển
kinh tế xã hội, tiết kiệm chi phí mà không ảnh hưởng nhiều đến doanh thu
luôn là phương hướng đặt lên hàng đầu. Hiện nay nền kinh tế trong nước có

cách
Trạm
cổ
loa
Trạm
Vĩnh
Tuy
Trạm Giáp Nhị
Xưởng chế
biến số 1
Xưởng chế
biến số 2
Phòng kế toán
tài chính
Phòng tổ chức
hành chính
Phòng kế hoạch
kinh doanh
+ Đ/c Trần Văn Đình (Phó phòng)
- Phòng Kế hoạch Kinh doanh: + Đ/c Lê Thị Thanh Nga
(Trưởng phòng)
+ Đ/c Phạm Ngọc Bảo (Phó phòng)
- Phòng Kế toán tài chính + Đ/c Đỗ Thị Mận (kế toán trưởng
thuộc Công ty)
Trạm Ô Cách: Đ/c Đinh Công Nga - Phó giám đốc kiêm trạm trưởng.
Trạm Cổ Loa: Đ/ c Phạm Văn Quí - Trạm trưởng.
Trạm Vĩnh Tuy: Đ/c Nguyễn Văn Khuê - Trạm trưởng
Trạm Giáp Nhị: Đ/ c TRần Văn Doãn - Phó giám đốc kiêm trạm trưởng.
Từ tháng 6 năm 2006 đến nay bộ máy tổ chức quản lý hầu như không
thay đổi, thể hiện tính ổn định của Công ty.

Song nhìn vào mô hình tổ chức quản lí trên cũng cho ta thấy nhiều
hạn chế nhất định, đó là việc xử lí thông tin thị trường và khách hàng phải
qua nhiều khâu trung gian, vì cũng qua nhiều cấp nên thông tin dễ bị bóp
méo, thiếu trung thực vá không cập nhật. Hiện nay Công ty đang thực hiện
mô hình quản lí Phó giám đốc kiêm trạm trưởng, đây là mô hình rất tốt khắc
phục được nhiều nhược điểm trên, tạo điều kiện cho việc gải quết một cách
nhanh chóng có hiệu quả.
2. Đặc điểm kinh doanh của công ty.
Đặc điểm về sản phẩm
Các chủng loại than đang kinh doanh được căn cứ vào TCVN, tiêu chuẩn
nghành và tiêu chuẩn của Công ty. Các loại than từ than cục số 1 đến than
SVTH: Vương Đình Phúc Lớp: KTPT 47A

Trích đoạn Cơ sở đề xuất gải pháp Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực kinh doanh cho công ty kinh doanh than Hà Nộ Một số kiến nghị với các ngành chức năng:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status