quyền và nghĩa vụ của thẩm phán trong việc giải quyết vụ án hình sự - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NIÊN KHÓA: 2009-2013
Đề tài:

QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ
CỦA THẨM PHÁN TRONG VIỆC
GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ

Giảng viên hướng dẫn:
ThS. Mạc Giáng Châu
Bộ môn Luật Tư Pháp

Sinh viên thực hiện:
Huỳnh Trinh
MSSV: 5095389
Lớp: Luật Tư Pháp 2-K35

Cần Thơ, 11/2012


Quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án hình sự

Luận văn tốt nghiệp

LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay Đảng và Nhà nước ta đang tiến hành xây dựng Nhà nước pháp quyền

vụ của Thẩm phán không chỉ liên quan và ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động của
Tòa án mà còn liên quan đến những chế định quan trọng khác. Vì thế, có thể nói
GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu

1

SVTH: Huỳnh Trinh


Quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án hình sự

Luận văn tốt nghiệp

rằng hiệu quả của thủ tục tố tụng hình sự phụ thuộc một phần không nhỏ vào việc
xác định đúng đắn quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán trong tố tụng hình sự. Chính
vì những lý do trên người viết chọn đề tài: “Quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán
trọng việc giải quyết vụ án hình sự” để làm luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật của
mình để giúp người đọc thấy được quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán trong phiên
tòa xét xử vụ án hình sự. Đồng thời trong luận văn này người viết cũng đề cập đến
một số thực tiễn và phương hướng hoàn thiện quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán để
làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Phạm vi nghiên cứu
Hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu quyền và nghĩa vụ của Thẩm
phán dưới các góc độ khác nhau. Nhưng chủ yếu là xem xét quyền và nghĩa vụ của
Thẩm phán trong tố tụng hình sự. Trong đề tài nghiên cứu luận văn này người viết
tiếp cận, nghiên cứu vị trí, vai trò, tầm quan trọng, mối quan hệ giữa Thẩm phán với
những người tiến hành tố tụng và các nguyên tắc cơ bản về hoạt động xét xử của
Thẩm phán. Từ đó, phân tích những quy định của pháp luật trong tố tụng hình sự về
quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Chương 3: Thực tiễn xét xử của Thẩm phán, một số tồn tại và giải pháp
hoàn thiện quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán trong Tố tụng hình sự
Kết luận
Do thời gian nghiên cứu có hạn, việc tìm hiểu tài liệu còn hạn chế, đây cũng là
lần đầu tiên người viết nghiên cứu một đề tài luận văn tốt nghiệp mang tính khoa
học. Do đó, người viết không tránh khỏi những thiếu sót về phân tích, tổng hợp các
quy định của luật cũng như những bất cập tồn tại trên thực tiễn xét xử của Thẩm
phán. Kính mong quý Thầy Cô trong Hội đồng thông cảm và có những ý kiến quý
báu về những thiếu sót để bài luận văn tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn.

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu

3

SVTH: Huỳnh Trinh


Quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án hình sự

Luận văn tốt nghiệp

CHƢƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THẨM PHÁN
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Khi nghiên cứu một đề tài khoa học nào thì vấn đề cần tìm hiểu là những cơ sở
lý luận để thấy được những vấn đề chung nhất, khái quát nhất nhằm giúp cho người
đọc nắm bắt được những phần cơ bản đầu tiên trong đề tài của mình. Trong đề tài
nghiên cứu về quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán trong việc giải quyết những vụ án
hình sự cũng vậy, vấn đề đầu tiên đề cập đến chính là khái quát chung về Thẩm
phán để tìm hiểu vị trí, vai trò của Thẩm phán. Từ đó, đi đến cơ sở lý luận của chế



Quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án hình sự

Luận văn tốt nghiệp

thay mặt Nhà nước đưa ra phán quyết có tính chất bắt buộc đối với bất kỳ cá nhân,
cơ quan tổ chức có liên quan.
Theo Khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh Thẩm Phán và Hội thẩm nhân dân năm 2002
sửa đổi bổ sung 2011 quy định “Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định
của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác
thuộc thẩm quyền của Tòa án”, theo đó Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo
quy định của pháp luật và xét xử các vụ án, giải quyết những việc khác thuộc thẩm
quyền của Tòa án.
Như vậy, việc xét xử không phải là nhiệm vụ duy nhất của Thẩm phán mà
Thẩm phán còn giải quyết những công việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án như:
ra quyết định thi hành án, áp dụng các biện pháp ngăn chặn, ra quyết định xóa án
tích… Mặt khác, những vụ việc không thuộc thẩm quyền của Tòa án thì Thẩm phán
không được quyền xét xử.
Tóm lại, Thẩm phán là lực lượng chủ yếu của Tòa án thực hiện chức năng xét
xử, quyết định đến số phận pháp lý của mọi công dân trong xã hội. Thẩm phán là
người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử nhằm
bảo vệ pháp chế, pháp luật đảm bảo sự ổn định, phát triển và công bằng cho xã hội.
1.1.2. Đặc điểm của tƣ cách Thẩm phán
Thẩm phán là người bảo vệ công lý, phán quyết của Thẩm phán chỉ thật sự là
hiện thân của công lý khi nó đảm bảo được tính khách quan, công bằng và được số
đông thừa nhận. Đồng thời, phán quyết của Thẩm phán có ảnh hưởng trực tiếp đến
quyền và lợi ích của công dân, ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân và sự lãnh đạo
của Đảng, ảnh hưởng đến việc thực thi dân chủ. Do đó, khi xét xử, Thẩm phán trên
cơ sở nghiên cứu vụ án để xác định chứng cứ. quy phạm pháp luật cần áp dụng để

xét xử của Tòa án được đảm bảo bằng nhiều yếu tố, tuy nhiên yếu tố quyết định
nhất là con người. Mà ở đó, Thẩm phán chính là người trực tiếp xét xử vụ án tại
phiên tòa, nhân danh công lý, thay mặt Nhà nước đưa ra phán quyết cuối cùng,
quyết định đến số phận của một công dân trong xã hội. Những phán quyết đúng sai
của Hội đồng xét xử phần nhiều thuộc về trách nhiệm của Thẩm phán, người chịu
trách nhiệm chính trong quá trình giải quyết vụ án.
Đối với Hội Thẩm nhân dân: Hội thẩm là những người đại diện cho nhân dân
tham gia vào hoạt động xét xử với mục đích đảm bảo tính dân chủ. Hội thẩm là
những người được bầu và chịu sự phân công của Chánh án. Họ không phải cán bộ
Toà án. Công tác Hội thẩm là công tác kiêm nhiệm. Hội thẩm cũng có trách nhiệm
nghiên cứu hồ sơ, tham gia xét xử. Khi xét xử vụ án, mọi vấn đề phải được Thẩm
phán và Hội thẩm thảo luận và thông qua tại phòng nghị án. Mặt khác, khi giải
quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình xét xử cũng như khi quyết định bản án,
Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán, để cùng với Thẩm phán đưa ra một bản án
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Mặc dù vậy nhưng trong hoạt động xét xử vị
trí của Thẩm phán vẫn là trung tâm. Điều này thể hiện trong toàn bộ quá trình xét
xử, Thẩm phán luôn giữ vai trò chủ đạo điều khiển phiên tòa. Tại phần xét hỏi,
Thẩm phán - Chủ tọa hỏi trước, các Hội thẩm hỏi bổ sung. Bên cạnh đó, phần nghị
án, Hội đồng xét xử cùng thảo luận và biểu quyết theo đa số, Thẩm phán biểu quyết
sau cùng (quy định tại Điều 222 Bộ luật tố tụng hình sự 2003).
Đối với Kiểm sát viên: Kiểm sát viên là người đại diện cho Viện kiểm sát,
thay mặc cho Nhà nước thực hiện hai chức năng chính là thực hành quyền công tố
và kiểm sát việc tuân theo pháp luật góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp
hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Bản cáo trạng mà kiểm sát viên trình bày tại
phiên tòa là quan điểm xử lý vụ án hay những ý kiến của Kiểm sát viên chỉ là đề
nghị Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án, nó chỉ có ý nghĩa tham khảo đối với Hội
đồng xét xử. Vì vậy Hội đồng xét xử cũng phải độc lập với lời luận tội của Kiểm sát
viên thì mới đảm bảo được tính khách quan tại phiên tòa. Tại phiên tòa sau khi xét

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu

hình sự, trong việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của Nhà nước, xã hội và
công dân. Cũng chính vì vị trí quan trọng của mình, ở mức độ chung nhất, Thẩm
phán có một vai trò chủ yếu trong việc thực hiện chức năng xét xử. Chức năng này
thuộc về thẩm quyền riêng của cơ quan Tòa án, bởi lẽ Tòa án là cơ quan duy nhất có
thẩm quyền xét xử. Đoạn 1 Điều 127 Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung 2001 quy
định: “Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân địa phương, các Tòa án quân
sự và các Tòa án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam”. Có thể thấy rằng, phần lớn các hoạt động tố tụng của Tòa
án chính là hoạt động của Thẩm phán. Theo Điều 1 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội
thẩm nhân dân năm 2002 sửa đổi bổ sung 2011: “Thẩm phán là người được bổ
nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử và giải quyết những việc
khác thuộc thẩm quyền của Tòa án”, điều này cho thấy chức năng hoạt động của
Thẩm phán có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chức năng xét xử của Tòa án.
Chính những hoạt động đó, đã góp phần quan trọng phục vụ sự nghiệp xây dựng và

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu

7

SVTH: Huỳnh Trinh


Quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án hình sự

Luận văn tốt nghiệp

bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, củng cố chính quyền nhân dân và
bảo đảm công bằng xã hội.
Bên cạnh đó, trong tố tụng hình sự, chức năng xét xử có vai trò đảm bảo cho
tố tụng hình sự đúng pháp luật đó chính là yếu tố bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

8

SVTH: Huỳnh Trinh


Quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án hình sự

Luận văn tốt nghiệp

1.2. Cơ sở lý luận của chế định Thẩm phán
1.2.1. Những nguyên tắc cơ bản về hoạt động xét xử của Thẩm phán trong tố
tụng hình sự
1.2.1.1. Nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số (quy định
tại Điều 131 Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung 2001 và Điều 17 Bộ luật tố tụng hình
sự 2003)
Nhằm đảm bảo thực hiện việc xét xử một cách thận trọng, khách quan và
chống độc đoán Điều 131 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và
Điều 17 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có quy định: “Tòa án xét xử tập thể và
quyết định theo đa số”. Theo quy định của Hiến Pháp thì nguyên tắc này bắt nguồn
từ nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước.
Phán quyết của Tòa án ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi của công dân, lợi ích của
Nhà nước cho nên việc đưa ra phán quyết phải được tiến hành cẩn trọng. Chính vì
thế, phán quyết của Tòa án phải là sản phẩm của trí tuệ tập thể chứ không phải là
riêng của một cá nhân Thẩm phán.
Khi phải đối mặt với quan toà, với công đường người dân chờ đợi sự công
minh, sáng suốt. Toà án là người đại diện của công lý, phán quyết của Tòa án chỉ
thực sự là hiện thân của công lý khi nó đảm bảo được tính khách quan, công bằng
và được số đông thừa nhận. Vậy để đưa ra một phán quyết khách quan, đúng đắn thì
đòi hỏi phải có một Hội đồng xét xử mà trong đó các thành viên cùng trao đổi, bàn
bạc, cọ xát ý kiến với nhau, trên cơ sở đó những tình tiết của vụ án được xem xét


ó mức cao nhất là tử

hình thì Hội đồng xét xử gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm ”, “Hội đồ ng xét xử
phúc thẩm gồm ba thẩm phán, trong trường hợp cầ n thiế t có thêm hai Hội thẩm ”.
Như đã phân tích ở trên , thì tất cả các quy đinh
̣ của Tòa án phải đươ ̣c sự thố ng
nhấ t của tâ ̣p thể , không phu ̣ thuô ̣c vào ý kiế n của cá nhân nào . Trong quá trin
̀ h xét
xử, nế u có những vấ n đề phát sinh cầ n đươ ̣c giải quyế t ta ̣i phiên tòa thì phải đươ ̣c
đem ra xem xé t, thảo luận, cọ sát ý kiến. Thẩ m phán - Chủ tọa phiên tòa không được
tự min
̣ tấ t cả theo quan điể m của min
̣
̀ h quyế t đinh
̀ h . Khi xét xử Tòa án quyế t đinh
theo đa số , so với Thẩ m phán thì Hô ̣i thẩ m chỉ là người đưa ra những b iể u quyế t ,
chính kiến của mình còn Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa là người quyết định cuối
cùng. Người có ý kiế n thiể u số được quyề n trình bày ý kiế n của mình bằ ng văn bản
và được để vào hồ sơ vụ án.1
1.2.1.2. Nguyên tắc khi xét xử Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm
phán (quy định ta ̣i Điều 129 Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung 2001 và tại điều 15
Bộ luật tố tụng hình sự 2003).
Nguyên tắc này thể hiện tư tưởng lấy “dân làm gốc”, bảo đảm nguyên tắc
thực hiện quyền lực của nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án. Hội thẩm
bằng sự tham gia vào Hội đồng xét xử mà thực hiện quyền lực tư pháp và thông qua
đó để nhân dân tham gia có hiệu quả vào công tác quản lý Nhà nước nói chung,
hoạt động Tòa án nói riêng.
Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán được hiểu là Hội thẩm nhân dân cùng
Thẩm phán giải quyết mọi vấn đề của vụ án không kể về nội dung hay thủ tục. Mặc

là rất quan trọng, bởi lẽ thông qua việc xét hỏi sẽ tìm ra được sự thật của vụ án. Hội
thẩm có quyền hỏi những người tham gia tố tụng bất cứ vấn đề gì có liên quan đến
vụ án và có quyền khẳng định, bảo vệ ý kiến của mình miễn sao đó là một ý kiến
không trái pháp luật, đạo đức xã hội.
Trong khi nghị án và biểu quyết để quyết định đưa ra phán quyết cuối cùng
của Hội đồng xét xử không thể không có sự biểu quyết của Hội thẩm. Bởi lẽ theo
Khoản 1 Điều 222 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 và Điều 131 Hiến pháp 1992 sửa
đổi bổ sung 2001 quy định: “Chỉ Thẩm phán và Hội thẩm mới có quyền nghị án.
Các thành viên của Hội đồng xét xử phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án
bằng cách biểu quyết theo đa số về từng vấn đề một. Thẩm phán biểu quyết sau
cùng. Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và
đưa vào hồ sơ vụ án”, “Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số”.
Thẩm quyền pháp lý của thành viên Hội đồng xét xử ngang nhau như vậy thì ý kiến
của mỗi thành viên trong Hội đồng xét xử đều được tôn trọng và có tính quyết định
như nhau. Mỗi khi tiến hành xong một phần của phiên tòa, Thẩm phán – Chủ tọa
phiên tòa phải hỏi ý kiến của Hội thẩm nhân dân, Hội thẩm không có ý kiến bổ sung
mới chuyển sang phần khác. Cùng với những quy định khác của pháp luật, sự vắng
mặt của Hội thẩm trong các phiên tòa xét xử sơ thẩm buộc phải có Hội thẩm nhân
dân tham gia mà Hội thẩm nhân dân không tham gia thì buộc phải hoãn phiên tòa.
1.2.1.3. Nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân
theo pháp luật (quy định tại Điều 130 Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung 2001 và
Điều 16 Bộ luật tố tụng hình sự 2003)
Nguyên tắc này được quy định thành một nguyên tắc cơ bản trong Bộ luật tố
tụng hình sự 1998 và tiếp tục được kế thừa ở Bộ luật tố tụng hình sự 2003. Theo đó,
nguyên tắc này đòi hỏi các thành viên trong Hội đồng xét xử phải độc lập trong việc
nghiên cứu hồ sơ, đánh giá chứng cứ và đưa ra các quyết định về sự việc phạm tội
và người thực hiện tội phạm mà không bị sự chỉ đạo, ảnh hưởng của bất kỳ đơn vị,
tổ chức, cá nhân nào. Thậm chí, các thành viên trong Hội đồng xét xử cũng không
bị phụ thuộc vào quan điểm của các thành viên trong cùng Hội đồng xét xử.
Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm không phụ thuộc vào các quy định hoặc

tố tụng bất cứ vấn đề gì liên quan đến vụ án mà mình được mời tham dự và quyền
khẳng định, bảo vệ ý kiến của mình không cần hỏi bất cứ ai có mặt tại phiên tòa
miễn là ý kiến đó không trái với luật, không trái với đạo đức xã hội. Khi nghị án
Thẩm phán là người phát biểu sau cùng để không ảnh hưởng đến tính độc lập của
Hội thẩm. Các vấn đề của vụ án đều phải được biểu quyết và quyết định theo đa số.
Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập không có nghĩa là tách rời đường lối
chính sách của Đảng. Đảng không chỉ đạo xét xử từng vụ án cụ thể nhưng Đảng chỉ
ra đường lối xét xử trong từng giai đoạn và đối với từng loại án. Mặc khác, độc lập
không có nghĩa là không có sự kiểm tra và giám sát. Tòa án cấp trên có quyền thẩm
tra những bản án và quyết định của Tòa án cấp dưới, hủy bỏ chúng trong trường
hợp trái luật hoặc không có cơ sở đúng đắn. Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập
không có nghĩa là xét xử tùy tiện mà phải tuân theo luật.
Như vậy, “độc lập” và “chỉ tuân theo pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau”. Độc lập là điều kiện cần thiết để Thẩm phán và Hội thẩm khi xét xử chỉ tuân
theo pháp luật. Tuân theo pháp luật là cơ sở không thể thiếu để Thẩm phán và Hội
thẩm độc lập khi xét xử. Mối quan hệ này là ràng buộc, nếu chỉ độc lập mà không
tuân theo pháp luật sẽ dẫn đến tình trạng xét xử tùy tiện độc đoán.
Tóm lại, nguyên tắc này đảm bảo cho Tòa án thực hiện tốt các chức năng xét
xử của mình theo quy định của pháp luật, đồng thời đề cao trách nhiệm của Hội

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu

12

SVTH: Huỳnh Trinh


Quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án hình sự

Luận văn tốt nghiệp

trọng tâm giữ vai trò quyết định cả tiến trình tố tụng hình sự, trong đó Thẩm phán là
nhân tố hạt nhân trong hoạt động xét xử của Tòa án.
Về bản chất, Thẩm phán thực hiện chức năng xét xử của Tòa án là áp dụng
pháp luật vào trường hợp cụ thể nhưng sự áp dụng mang tính chất đặc thù là nhân
danh Nhà nước và chỉ có Tòa án là chủ thể duy nhất được Nhà nước giao nhiệm vụ
thực hiện chức năng xét xử .

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu

13

SVTH: Huỳnh Trinh


Quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án hình sự

Luận văn tốt nghiệp

1.2.2.2. Góp phần quan trọng vào công tác đấu tranh phòng chống tội phạm;
bảo vệ lợi ích, chủ quyền quốc gia; lợi ích chính đáng của công dân, trên mặt
trận pháp lý và bảo vệ uy tín của Đảng, Nhà nƣớc
Trong xã hội hiện nay, tội phạm và hành vi nguy hiểm của chúng đang lần
lượt diễn ra và ngày càng gia tăng xâm phạm đến quyền và lợi ích của công dân vì
vậy cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm là công tác thường xuyên và liên tục,
luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Do đó thông qua việc xét xử,
Thẩm phán góp phần quan trọng trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
Bởi vì, bằng những phán quyết vừa mang tính nghiêm khắc, vừa mang tính giáo
dục, Thẩm phán là người tuyên truyền pháp luật, giáo dục ý thức pháp luật đến với
nhân dân để thực hiện mục đích của hoạt động tố tụng là phát hiện chính xác, nhanh
chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm,


Quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án hình sự

Luận văn tốt nghiệp

thẩm nhân dân năm 2002 sử đổi bổ sung 2011 quy định: “Việc xét xử của Tòa án
nhân dân có Hội thẩm, việc xét xử của Tòa án quân sự có Hội thẩm nhân dân tham
gia. Khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán”; “Khi xét xử Thẩm phán và
Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Việc quy định khi xét xử có Hội
thẩm tham gia nhằm bảo đảm dân chủ trong hoạt động xét xử của Tòa án, giúp cho
việc xét xử của Tòa án được chính xác, khách quan, phù hợp với lợi ích, nguyện
vọng của quần chúng nhân dân, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Thẩm phán
với quần chúng nhân dân. Hội thẩm là người tạo điều kiện giúp Thẩm phán làm tốt
công tác tuyên truyền pháp luật, phổ biến pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành
pháp luật trong nhân dân.
Theo quy định của pháp luật, việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là trách nhiệm
của Hội đồng xét xử nên Hội thẩm phải nghiên cứu hồ sơ trước khi xét xử. Mối
quan hệ giữa Hội thẩm và Thẩm phán được xác lập từ đây và được thể hiện một
cách bình đẳng và ngang quyền.
1.3.1.1. Mối quan hệ giữa Thẩm phán và Hội thẩm trƣớc khi mở phiên tòa
Trước khi mở phiên tòa, mối quan hệ giữa Hội thẩm và Thẩm phán là mối
quan hệ đồng nghiệp, mang tính hỗ trợ và hướng dẫn. Kết quả của một phiên tòa là
do trí tuệ, công sức của Hội đồng xét xử mà có. Giữa Thẩm phán và Hội thẩm có
những trao đổi bổ sung kiến thức khi nghiên cứu hồ sơ trước khi mở phiên tòa để
cùng nhằm mục đích là bước lên bục xét xử chủ động , khách quan và vô tư. Mối
quan hệ này được thể hiện : Thẩm phán có thể khai thác vốn chuyên môn của Hội
thẩm, đề nghị Hội thẩm giảng giải về mặt thuật ngữ chuyên môn, về kiến thức cơ
bản mà Thẩm phán thấy chưa rõ nhằm đạt được chất lượng cao khi xét xử. Mặt
khác, trước khi nghiên cứu hồ sơ, Hội thẩm có thể đề nghị Thẩm phán cho biết sơ
bộ về nội dung vụ án và những người tham gia tố tụng để đối chiếu với quy định

phiên tòa là khâu vô cùng quan trọng của việc xét xử, là cuộc đấu tranh công khai
về sự khách quan của vụ án. Trong quá trình xét hỏi Thẩm phán hỏi trước, Hội thẩm
chú ý để bổ sung, tập trung làm rõ những vấn đề liên quan đến vụ án.
Vì có sự chênh lệch về kiến thức pháp lý, nên Hội thẩm thường có tư tưởng ỷ
lại Thẩm phán, nếu không quy định một cách rõ ràng, thì sự tham gia của Hội thẩm
chỉ mang tính hình thức, mọi quyết định đều thuộc về Thẩm phán như vậy sẽ không
đảm bảo được nguyên tắc độc lập xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm. Để tránh tình
trạng này, pháp luật đã quy định nguyên tắc “Khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với
Thẩm phán” (Điều 15 Bộ luật tố tụng hình sự 2003) và nguyên tắc “Khi xét xử
Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” (Điều 16 Bộ luật tố
tụng hình sự 2003) nhằm đảm bảo cho Hội thẩm thực hiện tốt nhiệm vụ của mình.
Tóm lại, để đạt hiệu quả cao trong công tác xét xử, giữa Thẩm phán và Hội
thẩm cần phải có sự kết hợp chặt chẽ để Thẩm phán biết phát huy và đề cao tính độc
lập của Hội thẩm đồng thời có trách nhiệm hướng dẫn, bồi dưỡng thực tế về nghiệp
vụ của Hội thẩm. Bên cạnh đó, Hội thẩm phải không ngừng phấn đấu, tu dưỡng đạo
đức tạo niềm tin với nhân dân. Đồng thời, pháp luật cũng cần quy định một cách cụ
thể hoạt động của Hội thẩm làm cơ sở cho Hội thẩm phát huy được vai trò của mình
trong hoạt động xét xử, góp phần cùng Thẩm phán hoàn thành tốt nhiệm vụ được
giao.
1.3.2. Mối quan hệ giữa Thẩm phán và Kiểm sát viên
1.3.2.1. Mối quan hệ giữa Thẩm phán với kiểm sát viên trƣớc khi mở phiên
tòa
Kiểm sát viên tham gia tố tụng với hai chức năng chính là thực hành quyền
công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật góp phần bảo đảm cho pháp luật được
chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Kiểm sát viên tham gia tố tụng theo sự phân

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu

16


1.3.2.2. Mối quan hệ giữa Thẩm phán với Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự
Tại phiên tòa xét xử Kiểm sát viên là người đại diện cho Viện kiểm sát, thay
mặc cho Nhà nước thực hiện quyền công tố và Kiểm sát việc tuân theo pháp luật
của người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng, Kiểm sát viên có
trách nhiệm chứng minh tính có căn cứ của nội dung truy tố bằng cách đưa ra những
chứng cứ, căn cứ pháp lý, lập luận để buộc tội bị cáo, đồng thời bác bỏ các chứng
cứ, quan điểm lập luận của bị cáo, người bào chữa. Trên cơ sở đó, Kiểm sát viên
đưa ra kết luận, đề nghị và yêu cầu cụ thể đối với Hội đồng xét xử. Mặt khác, tại
phiên tòa Thẩm phán và Hội thẩm phải độc lập với bản cáo trạng. Bởi lẽ có những
trường hợp Hội đồng xét xử do quá tin vào bản cáo trạng mà không độc lập xem
2

Xem Nghị quyết số 08-NQ/TW,ngày 02-1-2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của hoạt
động tư pháp.

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu

17

SVTH: Huỳnh Trinh


Quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án hình sự

Luận văn tốt nghiệp

xét, đánh giá chứng cứ để làm sáng tỏ vụ án, không dựa vào kết quả tranh tụng thực
tế tại phiên tòa mà đã vội vã buộc tội theo hướng mà bản cáo trạng đưa ra dẫn tới hệ
quả là bỏ sót tội phạm và người vô tội bị kết tội oan trong nhiều năm liền. Đây là
một ví dụ điển hình: Một vụ án giết người, cướp tái sản của công dân xảy ra tại xã


http://forum.saigonlap.com.vn/f42/do-dau-vu-oevuon-dieu-keo-dai-8288/.
http://phapluattp.vn/20100303112040356p0c1063/toi-giet-nguoi-va-co-y-gay-thuong-tich-can-huong-dancu-the-hon.htm
4

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu

18

SVTH: Huỳnh Trinh


Quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án hình sự

Luận văn tốt nghiệp

phần quyết định truy tố hoặc kết luận theo tội danh nhẹ hơn, nhưng Hội đồng xét xử
vẫn xét xử toàn bộ vụ án”. Do đó, Hội đồng xét xử kết án bị cáo Đỗ Tấn Đạt về tội
giết người là hoàn toàn đúng pháp luật và đảm bảo được tính độc lập của Thẩm
phán và Hội thẩm. Và cũng theo quy định tại Khoản 2 Điều 222 Bộ luật tố tụng
hình sự trong trường hợp khi nghị án Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố
thì khi nghị án, Hội đồng xét xử vẫn phải giải quyết từng vấn đề một, nếu có căn cứ
xác định bị cáo không có tội thì khi tuyên án Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo vô tội.
Đây là một trong những nội dung cho thấy sự độc lập giữa Hội đồng xét xử với
quyết định truy tố của Kiểm sát viên. Bởi lẽ, trong quá trình thảo luận nghị án, Hội
đồng xét xử phải hoàn toàn độc lập, căn cứ vào chúng cứ và tài liệu đã thẩm tra tại
phiên tòa không chịu ảnh hưởng từ bản cáo trạng mà Kiểm sát viên trình bày tại
phiên tòa.
Kiểm sát viên không có quyền thay đổi nội dung buộc tội theo hướng tăng
nặng đối với bị cáo. Việc thay đổi nội dung buộc tội của kiểm sát viên chỉ được

Luận văn tốt nghiệp

phối hợp ở đây là tạo điều kiện cho cả Thẩm phán và Kiểm sát viên hoàn thành
nhiệm vụ của mình. Phối hợp được thể hiện cả về nội dung và hình thức.
Tóm lại, khi nhìn nhận ở góc độ chung nhất, có thể khẳng định rằng, Thẩm
phán có một vị trí, vai trò rất quan trọng trong hoạt động Tố tụng hình sự. Là người
tiến hành tố tụng, Thẩm phán cùng Hội thẩm nhân danh Nhà nước thực hiện chức
năng xét xử của Tòa án nhằm đưa ra một băn án có căn cứ và đúng pháp luật; xét xử
đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội. Bên
cạnh đó, sự ngang quyền, tính độc lập giữa Thẩm phán và Hội Thẩm cũng như tính
độc lập giữa Thẩm phán với các chủ thể tố tụng khác là hết sức cần thiết bởi có như
vậy thì vụ án mới được xét xử một cách khách quan, và tạo cho quần chúng nhân
dân một tâm lý tin vào Tòa án, tin vào pháp luật, tin vào tâm lý mà Thẩm phán nhân
danh Nhà nước để thực thi.

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu

20

SVTH: Huỳnh Trinh


Quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án hình sự

Luận văn tốt nghiệp

CHƢƠNG 2
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA THẨM PHÁN TRONG VIỆC
GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ
2.1 Quyền của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án hình sự

hợp sau:
GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu

21

SVTH: Huỳnh Trinh


Quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án hình sự

Luận văn tốt nghiệp

- Trường hợp thứ nhất: “Khi cần xem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối
với vụ án mà không thể bổ sung tại phiên tòa được”. Theo Điều 1 Thông tư liên tịch
01/2010/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC chứng cứ quan trọng đối với vụ án
được quy định tại khoản 1 Điều 168 và điểm a Khoản 1 Điều 179 Bộ luật tố tụng
hình sự 2003 là chứng cứ quy định tại Điều 64 của Bộ luật tố tụng hình sự 2003
dùng để chứng minh một hoặc nhiều vấn đề quy định tại Điều 63 của Bộ luật tố
tụng hình sự 2003 và nếu thiếu chứng cứ này thì không thể giải quyết vụ án được
khách quan, toàn diện, đúng pháp luật5. Cụ thể: vụ án “lừa đảo chiếm đoạt tài sản;
lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ và vi phạm quy định về cho
vay trong hoạt động các tổ chức tín dụng” đối với các bị can Dương Ngọc Phượng,
Phan Thanh Vân (nguyên công chứng viên Phòng công chứng số 2, Thành phố Hồ
Chí Minh), Lê Tấn Phú và Hoàng Anh Tú (cùng là cán bộ tín dụng và Tổ trưởng
kinh doanh Ngân hàng Thương mại cổ phần Nam Á - chi nhánh Bình Tây, Thành
phố Hồ Chí Minh). Theo nội dung vụ án, với thủ đoạn giả chữ ký của chủ sở hữu để
chuyển dịch bất hợp pháp tài sản sang tên người khác, sau đó dùng tài sản này để
thế chấp vay tiền của ngân hàng thông qua 6 hợp đồng tín dụng, từ tháng 10/2007
đến 7/2009, Phượng đã chiếm đoạt của Ngân hàng Thương mại cổ phần Nam Á chi nhánh Bình Tây số tiền 4,05 tỷ đồng. Tạo điều kiện cho Phượng chiếm đoạt số
tiền trên trót lọt có sự tiếp tay của công chứng viên Phòng công chứng số 2, Thành


khác hoặc có đồng phạm khác: “Viện kiểm sát truy tố về một hay nhiều tội, nhưng
chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy hành vi của bị can (bị cáo) đã thực hiện cấu
thành một hay nhiều tội khác; ngoài tội phạm đã bị truy tố, chứng cứ trong hồ sơ vụ
án cho thấy còn có căn cứ để khởi tố bị can (bị cáo) về một hay nhiều tội khác;
ngoài bị can (bị cáo) đã bị truy tố, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy còn có
người đồng phạm khác hoặc có người phạm tội khác liên quan đến vụ án, nhưng
chưa được khởi tố bị can”. Vụ án điển hình: Ngày 27/9 Tòa án nhân dân Thành phố
Hà Nội mở phiên tòa hình sự sơ thẩm xét xử lưu động tại trại giam Hà Nội bị cáo
Phạm Quốc Vinh (Sinh năm 1976, Nam Định) và đồng bọn về tội giết người, hủy
hoại tài sản, tàn trữ trái phép vũ khí trong vụ hai nhóm giang hồ “hỗn chiến” tại ngõ
302 đường láng ngày 11/11/2010. Tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo,
khai ra nhiều đối tượng khác tham gia “hỗn chiến” chưa bị truy tố. Đây là vụ án
gây bức xúc cho xã hội cần phải nghiêm trị trước pháp luật và không bỏ sót tội
phạm. Sau khi xem xét lời khai và các tài liệu thu thập trong quá trình điều tra, Hội
đồng xét xử quyết định trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung7.
Mặt khác, căn cứ có đồng phạm khác tức là người này phải là đồng phạm với
người đã bị truy tố thì mới thuộc trường hợp trả hồ sơ, nếu phát hiện có người phạm
tội nhưng người này không phải là đồng phạm theo quy định tại Điều 20 Bộ luật tố
tụng hình sự thì Thẩm phán không được quyền trả hồ sơ bổ sung mà chỉ có quyền
khởi tố tại phiên tòa theo quy định tại Điều 104 Bộ luật tố tụng hình sự. Đồng thời
cũng theo Khoản 2 Điều 3 Thông tư liên tịch 01/2010/TTLT-VKSNDTC-BCATANDTC quy định “Tòa án không trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi thuộc một
trong các trường hợp: trường hợp thuộc điểm a Khoản 1 Điều này, nhưng chứng cứ
trong hồ sơ vụ án cho thấy có thể xét xử bị can (bị cáo) về một hay nhiều tội tương
ứng bằng hay nhẹ hơn hoặc có thể xét xử bị can (bị cáo) ít tội hơn số tội mà Viện
kiểm sát truy tố; đã có quyết định tách vụ án hoặc chưa có quyết định tách vụ án
của Cơ quan điều tra nhưng có căn cứ để tách vụ án theo quy định tại Khoản 2
Điều 117 của Bộ luật tố tụng hình sự 2003”.
- Trường hợp 3: “Khi phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng”.
Theo Khoản 1 Điều 4 Thông tư liên tịch 01/2010/TTLT-VKSNDTC-BCATANDTC quy định “vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng tại Khoản 3 Điều 168 và

chứng cứ và lời khai của bị cáo tại tòa đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo phạm tội
và đề nghị mức án từ 3 năm 6 tháng đến 4 năm tù đối với bị cáo Ánh. Theo đó,
quyết định khởi tố vụ án có ghi “căn cứ vào biên bản bắt quả tang hành vi phạm tội
của đội 6- PC14 Công an Thành phố Hồ Chí Minh” nhưng thực tế không có biên
bản này; quyết định khởi tố bị can của cơ quan điều tra đã không được gửi cho Viện
Kiểm sát phê chuẩn; việc tạm giam ngay đối với Lâm Nhật Ánh chưa được Viện
Kiểm sát phê duyệt. Điều này đã vi phạm vào điểm a Khoản 2 Điều 4 Thông tư liên
tịch 01/2010/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC...Sau khi nghị án, Hội đồng xét xử
đã quyết định hoãn phiên tòa để trả hồ sơ điều tra bổ sung 9. Đồng thời Viện kiểm
sát, Tòa án không trả hồ sơ để điều tra bổ sung mặc dù “có vi phạm nghiêm trọng
thủ tục tố tụng” khi Có vi phạm thủ tục tố tụng, nhưng không xâm hại nghiêm trọng
đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng hoặc bị can (bị cáo) là
người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra nhưng đến khi truy tố, xét xử bị can
(bị cáo) đã đủ 18 tuổi (quy định tại Khoản 3 Điều 4 Thông tư liên tịch
01/2010/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC). Một ví dụ điển hình: Do có mâu
thuẫn từ trước, tháng 3-2008, Minh (chưa thành niên) rủ anh trai đi đánh anh Bằng
để trả thù. Được nhiều người can ngăn, cả hai bỏ đi. Một lát sau, cả hai quay lại.
Anh trai Minh dùng dao đâm anh Bằng. Minh cũng nhặt chiếc mỏ-lết ở một tiệm
sửa xe gần đó chạy lại đập trúng đầu khiến anh Bằng chết. Sau đó, tòa sơ thẩm
8

Thông tư liên tịch 01/2010/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ
luật Tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung do Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Công an - Tòa
án nhân dân tối cao ban hành.
9
http://vietbao.vn/An-ninh-Phap-luat/Toa-tra-ho-so-de-dieu-tra-bo-sung/40087493/218/.

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu

24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status