Tác động của tỷ giá tới cán cân thương mại việt nam - Pdf 31

1.

Sự biến động của cán cân thương mại giai đoạn 2009 - 2013
Năm 2009, kinh tế khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu

dẫn đến sự đình trệ sản xuất và hạn chế tiêu dùng ở những nước vốn là thị trường xuất
khẩu lớn của Việt Nam. Nền kinh tế Việt Nam vì thế đã tăng trưởng thấp nhất trong vòng
10 năm.
Xuất khẩu ròng giai đoạn 2007- 2008 sụt giảm nghiêm trọng. Trong cơ cấu GDP
theo tổng cầu, xuất khẩu ròng năm 2005 là -6,22%, sang đến 2008 đã xuống tới -20,78%,
góp phần đáng kể làm chậm tốc độ tăng GDP. Nhưng năm 2009 tình hình đã đảo ngược,
xuất khẩu ròng dương lại là động lực cho tăng trưởng 5,32% GDP. Thực tế, theo báo cáo
của Tổng cục thống kê, xuất khẩu 2009 tăng 11,08% (theo giá cố định, mặc dù tổng kim
ngạch xuất khẩu giảm do giá giảm) trong khi nhập khẩu chỉ tăng 6,66%.
Diễn biến tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu 2009

Xuất nhập khẩu và cán cân thương mại 2006 – 2009

Nguồn: TCTK


Nhìn chung, do tăng trưởng kinh tế suy giảm năm 2009 nên xuất khẩu ảm đạm với
tốc độ tăng trưởng xuất khẩu âm lần đầu tiên trong vòng 10 năm (-8,9%). Nhập khẩu
thậm chí còn giảm mạnh hơn, chỉ còn âm 13,3 % cho cả năm 2009. Năm 2009 vẫn nhập
siêu với mức độ rất lớn, tới 12,9 tỷ USD.
Tuy nhiên, xuất nhập khẩu suy giảm năm 2009 có sự tác động rất lớn của giá giảm,
khiến cho tổng kim ngạch giảm chứ khối lượng không hề giảm. Xét 8 mặt hàng xuất khẩu
chủ yếu, xuất khẩu về lượng tăng 10,45% trong khi kim ngạch giảm 23,14%; xét 10 mặt
hàng nhập khẩu chủ yếu, nhập khẩu tăng 15,09% về lượng nhưng giảm 20,82% về kim
ngạch (so với cùng kỳ năm 2008). Mức giảm giá hàng xuất gần tương đương với mức
giảm giá hàng nhập. Thực tế cho thấy là năm 2009 nhập siêu danh nghĩa không đáng ngại

Cán cân thương mại
(tỷ USD)

2006
39,8
22,7
44,9
22,1

2007
48,6
21,9
62,8
39,8

2008
62,7
29,1
80,7
28,6

2009
57,1
-8,9
69,9
-13,3

2010
72,2
26,4

từ năm 2000, một dấu hiệu của sự suy giảm kinh tế. Năm 2012, lần đầu tiên sau 19 năm
Việt Nam đã có thặng dư cán cân thương mại 780 triệu USD (trong khi năm 2011 thâm
hụt 9,8 tỷ USD). Giá trị xuất khẩu 114,57 tỷ USD, tăng 18,2% và giá trị nhập khẩu
113,79%, tăng 6,6 % so với năm 2011. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu đã
chậm lại so với 2 năm trước, một nguyên nhân là do giá thế giới giảm. Tốc độ giảm giá
xuất khẩu so với thời kỳ trước khi tăng giá năm 2011 là 0,53% và tốc độ giảm giá nhập
khẩu là 0,33%.
Xuất nhập khẩu và cán cân thương mại 2006 – 2012
Xuất khẩu (tỷ USD)
- % tăng
Nhập khẩu (tỷ USD)
- % tăng
Cán cân thương mại
(tỷ USD)

2006
39,8
22,7
44,9
22,1

2007
48,6
21,9
62,8
39,8

2008
62,7
29,1


-18

-12,9

-12,6

-9,8

0,78

Nguồn: Báo cáo thường niên TCTK 2012

Nguyên nhân xuất siêu chủ yếu do suy giảm sản xuất tiêu dùng trong nước, làm
cho nhập khẩu tăng trưởng thấp hơn nhiều so với xuất khẩu. Điều này hoàn toàn không
tốt với nền kinh tế vốn phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu như Việt Nam, đặc biệt là khi nhập
khẩu nguyên liệu, máy móc phục vụ cho sản xuất kinh doanh sụt giảm. Điều này cũng
góp phần vào tăng trưởng chậm của Việt Nam năm 2012.
Trong 7 tháng đầu năm 2013, tăng trưởng kinh tế thế giới chậm hơn dự báo do
khủng hoảng ở Châu Âu và suy giảm tăng trưởng ở Trung Quốc và Ấn Độ - ba đối tác
thương mại lớn của Việt Nam, đồng thời giá thế giới tiếp tục xu hướng giảm từ năm 2012,
trong đó hai mặt hàng điển hình là năng lượng giảm 2% và nông sản giảm 6%. Kinh tế
Việt Nam trong 6 tháng đầu 2013 duy trì ổn định với tăng trưởng 4,9% bằng mức cùng kỳ
năm 2012 tuy sự hồi phục này chưa chắc chắn do cầu trong nước vẫn còn yếu kể từ 2012.
Tính từ đầu năm đến hết tháng 7 năm 2013, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hoá
của Việt Nam đạt 146,92 tỷ USD, tăng 15,2% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, xuất
khẩu đạt 73,32 tỷ USD, tăng 15,2% và nhập khẩu là gần 73,6 tỷ USD, tăng 15,2%. Kết


quả là cán cân thương mại hàng hoá của Việt Nam tính trong 7 tháng đầu năm 2013 có

như mong muốn, các NHTM vẫn giao dịch với tỷ giá trần. Do khan hiếm nguồn cung
USD, người dân đẩy mạnh mua USD trên thị trường tự do, làm cho tỷ giá thị trường này
tăng mạnh. Ngày 26/11/2009, NHNN chính thức phá giá VND 5,4% để chống đầu cơ
USD và giảm áp lực thị trường, đồng thời giảm biên độ xuống còn +/-3%. Tuy nhiên, tỷ
giá thị trường tự do không thể lại gần tỷ giá NHTM như mong muốn của NHNN. Đồng
Việt Nam vẫn tiếp tục mất giá trên thị trường tự do và kết thúc năm ở mức 19.400
VND/USD.

Tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trường tự do 2009


Nguồn: Ngân hàng ngoại thương và các nguồn khác

Bên cạnh sự suy giảm FDI làm tăng tỷ giá, phải kể đến một nguyên nhân nữa, đó
là sự chênh lệch quá lớn của giá vàng trong nước so với thế giới, tác động làm tăng cầu
USD để nhập khẩu vàng. Cả giá vàng và giá USD đều tăng mạnh. Cùng với đó, dự trữ
ngoại hối của Việt Nam bị suy yếu do để duy trì tỷ giá không quá xa tỷ giá chính thức
NHNN đã phải bán ra một lượng USD rất lớn.
Năm 2010, tình hình xuống giá đồng nội tệ vẫn không có biến chuyển. Các NHTM
vẫn tiếp tục đặt giá kịch trần biên độ của tỷ giá chính thức ngay từ đầu năm.
Diễn biến tỷ giá danh nghĩa và biên độ 2010


Trước áp lực tăng tỷ giá, NHNN đã phải phá giá đồng Việt Nam 3,3%, khiến tỷ giá
chính thức tăng từ 17.941 VND/USD lên 18.544 VND/USD. Cùng với phá giá là một loạt
các chính sách nhằm tăng cung ngoại tệ, ổn định thị trường ngoại hối như: giảm tỷ lệ dự
trữ bắt buộc với tiền gửi ngoại tệ, mở rộng đối tượng cho vay ngoại tệ; ngoài ra còn chấm
dứt giao dịch vàng trên các tài khoản ở nước ngoài của các tổ chức tín dụng, đóng cửa các
sàn vàng nhằm hạn chế tác động của đầu cơ vàng lên tỷ giá. Các biện pháp này nhằm tăng
cung và giảm cầu ngoại tệ, khiến cho tình hình tỷ giá bớt căng thẳng trong khoảng từ

Diễn biến tỷ giá USD/VND năm 2012

Trong 6 tháng đầu năm tỷ giá có xu hướng tăng nhẹ 0,55%. Tỷ giá của các NHTM
thời gian trước luôn ở mức kịch trần thì giờ giảm và duy trì trong mức 20.860 – 20.920
VND/USD. Quý I/2012, NHNN yết tỷ giá mua cao hơn các NHTM, khuyến khích NHTM
bán USD cho NHNN nhằm tăng dự trữ ngoại hối quốc gia. Từ tháng 7/2012, tỷ giá giảm
dần, kết thúc năm 2012 ở mức 20.850 – 20.870 VND/USD. Trong năm 2012, tỷ giá thị
trường tự do bám sát tỷ giá NHTM, chỉ chênh lệch 20 – 70VND/USD – không đáng kể so
với mức chênh lệch trung bình 1000 – 2000 VND/USD năm 2011. Năm 2012, NHNN đã
mua vào 10 tỷ USD, nâng dự trữ ngoại hối lên 30 tỷ USD. Kết quả này có được nhờ
những biện pháp điều hành của NHNN trong kiểm soát tín dụng ngoại tệ, duy trì tỷ giá
chính thức, đồng thời kiểm soát chặt thị trường vàng để không cho những biến động của
thị trường này ảnh hưởng xấu đến thị trường ngoại hối tự do như trước đây.
Năm 2013, tỷ giá được kỳ vọng tiếp tục ổn định. Quý I/2013, tỷ giá không biến
động nhiều do nguồn cung ngoại tệ tăng nhờ giải ngân nguồn vốn FDI, FII, ODA, trong
khi cầu yếu do tín dụng ngoại tệ và tín dụng nói chung suy giảm. Tỷ giá chính thức vẫn
tiếp tục duy trì 20.828 VND/USD như năm 2012 và cuối năm 2011.


Diễn biến tỷ giá 6 tháng đầu năm 2013

Sang quý II/2013, thị trường đã có những biến động. Tỷ giá tăng do lãi suất VND
giảm, đồng thời nhu cầu USD nhập lậu vàng tăng do giá vàng trong nước tăng cao. Cuối
tháng 4/2013 đến cuối tháng 6/2013, nhiều NHTM đã nâng giá USD lên kịch trần cho
phép 21.036 VND/USD, trong khi giá bán USD trên thị trường tự do lên tới 21.320 VND.
Trước áp lực đó, ngày 28/6/2013, NHNN đã điều chỉnh phá giá 1% lên 21.036
VND/USD. Trong cuộc trả lời phỏng vấn của hãng Bloomberg (Mỹ) mới đây, Thủ tướng
Nguyễn Tấn Dũng cho biết, chính phủ dự kiến sẽ phá giá tiền đồng tối đa là 2% từ nay
đến cuối năm.
Như vậy, giai đoạn 2009 cho đến nay, tỷ giá VND/USD có những biến động mạnh

Thâm hụt

Q1-2001
Q2-2001
Q3-2001
Q4-2001
Q1-2002

3,532
4,000
4,460
4,041
3,68

3,582
4,280
2,820
2,838
3,770

0,99
0,93
1,58
1,42
0,98

14,548
14,643
14,964
15,047

Q3- 2007
Q4-2007
Q1-2008
Q2-2008
Q3-2008
Q4-2008
Q1-2009
Q2-2009
Q3-2009
Q4-2009

4,140
4,510
4,560
4,465
4,88
5,3
4,989
5,272
5,900
6,660
6,750
6,814
7,700
8,350
8,570
8,400
9,800
10,36
10,360

11,950
12,150
10,900
14,150
15,350
17,300
21,510
23.330
19,420
16,450
12,630
17,100
18,740
21,480

0,92
1,41
0,87
0,95
0,81
1,36
0,8
0,9
0,8
0,86
0,8
0,85
0,8
0,89
0,89

15,875
15,905
15,917
15,961
16,014
16,071
16,020
16,069
16,182
16,062
16,060
16,107
16,504
16,538
16,974
16,942
16,971
17,376

-350
1,310
-688
-229
-1,170
1,400
-1,231
-618
-1,430
-1,120
-1,650

đồng ( nội tệ mất giá) thì xuất khẩu sẽ tăng 4,493392 ( triệu USD) và nhập khẩu tăng
6,241195 ( triệu USD).
Trong nhiều năm quan kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng cao nhưng cán cân
thương mại vẫn thâm hụt, nguyên nhân là do khi tỷ giá tăng xuất khẩu và nhập khẩu đều
tăng nhưng nhập khẩu lại cao hơn xuất khẩu.
Hình biểu diễn tác động của tỷ giá đối với xuất khẩu.


3.2.

Mối quan hệ giữa tỷ giá, thặng dư ( thâm hụt ) mậu dịch.

Dựa vào mô hình hồi quy, ta đánh giá được sự phù hợp của mô hình. của mô hình
bằng 0.328140 thể hiện rằng có 32,814% sự biến thiên của thặng dư/ thâm hụt của xuất
nhập khẩu được giải thích bởi sự phụ thuộc vào biến số tỷ giá. Kiểm định mô hình về sự
phù hợp của hàm hồi quy thì chúng ta được kết quả, bác bỏ giả thiết thặng dư/thâm hụt
xuất nhâp khẩu có quan hệ tuyền tính với tỉ giá.

Đồ thị thể hiện tác động của tỷ giá tới thâm hụt mậu dịch
3.3.

Mô hình hồi quy thể hiện sự tác động của tỷ giá thực đa phương với
xuất nhập khẩu.

Mô hình
Ln(EXM)t =a+bLn(GDPvn)t +c Ln(GDPw)t +d Ln(REER)t +
Trong đó:
Ln: là logarit tự nhiên
EXM là tỷ trọng xuất nhâp khẩu( tỷ số xuất khẩu/ nhập khẩu).
GDPw, GDPvn lần lượt là chỉ số GDP trung bình của các quốc gia tham gia rổ tiền và chỉ





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status