………… o0o…………
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Tỷ giá hối đoái và tác động của tỷ giá tới
ngoại thương
tiền như vậy. Điều
đó cho thấy các giao dịch kinh tế trong phạm vi một nước rất
đơn giản. Song nếu chúng ta muốn mua cam California (Mỹ) thì mọi việc sẽ hoàn
toàn khác. Các nhà xuất khẩu Mỹ sẽ muốn chúng ta trả cho họ đô la Mỹ chứ không
phải tiền đồng Việt Nam, do đó ta sẽ phải mua đô la Mỹ, từ đó dùng lượng đô la
này để trả cho họ. Một câu hỏi đặt ra liệu chúng ta sẽ cần bao nhiêu đô la M
ỹ ? Khi
ấy, chúng ta sẽ phải quan tâm đến một khái niệm mới đó là: tỷ giá hối đoái.
2
Karl Mark (1818-1883) chính là người đầu tiên đưa ra khái niệm tỷ giá hối
đoái. Trong bộ “Tư bản”(1858) ông viết: “Tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế
lịch sử, gắn với giai đoạn phát triển sản xuất của xã hội, tính chất,cường độ tác
động của nó phụ thuộc vào trình độ phát triển thị trường và các giai đoạn cụ thể
trong lưu thông tiền tệ thế giới”.
Đây là một khái niệm khá phức tạp mang nặng
tính lý luận hơn nghiên cứu thực tế song cũng đã thể hiện được phần nào tính lịch
sử cũng như sự vận động của tỷ giá. Sau Mark, tỷ giá hối đoái đã được hiểu đơn
giản hơn và cho đến nay khái niệm thường được sử dụng nhất là: Tỷ giá hối đoái là
giá cả của đồng ti
ền nước này tính theo đồng tiền nước khác
(2)
. Điều đó có nghĩa tỷ
giá hối đoái cũng là giá cả song giá cả của một loại hàng hóa đặc biệt: tiền tệ.
Mỗi quốc gia hiện nay thường tạo dựng cho mình một đồng tiền riêng, đồng
tiền nước này là ngoại tệ của nước khác, việc thanh toán giữa các quốc gia đòi hỏi
phải sử dụng đồng tiền này đổi lấy đồng tiền kia, từ
đó lại xuất hiện hai khái niệm
cụ thể hơn về tỷ giá hối đoái xét trên phạm vi một quốc gia:
*Tỷ giá là giá của đồng ngoại tệ tính theo đơn vị nội tệ. Khái niệm này biểu
trưng cho cách yết giá trực tiếp (ngoại tệ/nội tệ). Ví dụ tỷ giá EUR/VND (EUR:
chính đó là ngang giá vàng và ngang giá sức mua.
1.1.2.1.Ngang giá vàng:
Trước năm 1850, rất nhiều quốc gia trên thế giới theo đuổi một chế độ tiền tệ
song bản vị: b
ạc và vàng là hai loại tiền tệ chính được lưu hành trong thanh toán
thương mại giữa các quốc gia, tỷ giá hối đoái do đó được hình thành trên cơ sở so
sánh hàm lượng vàng và bạc. Năm 1850, khi khám phá ra hai mỏ vàng mới ở Mỹ và
Úc, lượng vàng khai thác được đổ dồn về các quốc gia Châu Âu. Nếu trước đó chỉ
có Anh tiến hành vàng hóa thanh toán (tức mọi giấy bạc của Anh đều đổi được ra
vàng) thì năm 1851, Pháp và một số quốc gia khác cũ
ng đi theo bước chân của Anh.
Đồng bạc bị loại khỏi thanh toán và chế độ bản vị vàng bắt đầu.
Tỷ giá hối đoái giữa hai đồng tiền của hai nước bất kì thời kỳ bản vị vàng
được quyết định dựa trên việc so sánh hàm lượng vàng của hai nước với nhau. Giả
sử hàm lượng vàng của đồng bảng Anh (GBP) là 1 ounce = 6 GBP trong khi hàm
lượng vàng của franc Pháp (FRF) là 1 ounce = 12 FRF thì suy ra:
6GBP = 12FRF 1GBP = 2FRF 4
Có thể tổng quát hóa bằng công thức sau:
Tỷ giá hối đoái (đồng A/ đồng B)=
BtiênviđontrongvàngluongHàm
AtiênviđontrongvàngluongHàm
1
1
Dưới chế độ bản vị vàng, khi tiền giấy tự do đổi ra vàng và ngược lại, thì mọi
biến động của tỷ giá hối đoái sẽ tự động được điều chỉnh về mức cân bằng. Hãy lấy
ví dụ trên làm minh chứng. Với hàm lượng vàng như trên giữa các đồng tiền GBP
giảm bất ngờ. Thuyết ngang giá sức mua được xây dựng trên sự phát triển qui luật
một giá cho rằng: Tỷ giá hối đoái giữa tiền tệ hai quốc gia sẽ bằng tỷ lệ giữa mức
giá của hai quốc gia đó. Từ đây, tỷ giá hối đoái được hình thành như sau: nếu xem
P
D
là mức giá của giỏ hàng hóa trong nước (tính bằng nội tệ), P
F
là mức giá của giỏ
hàng hóa (tính bằng ngoại tệ) thì :
Tỷ giá hối đoái (số đơn vị nội tệ /1 đơn vị ngoại tệ) = P
D
/ P
F
Ví dụ tại Mỹ, một áo sơ mi bán với giá 4 USD trong khi tại Anh, cũng áo đó
nhưng giá bán là 3 GBP thì trên thị trường Mỹ, tỷ giá sẽ là 1GBP = 4/3 = 1,3 USD.
Cách áp dụng tính tỷ giá như trên gọi là PPP tuyệt đối, chỉ đúng trong trường
hợp chi phí vận chuyển thấp, không có rào cản nào giữa hoạt động thương mại hai
nước còn khi chi phí vận chuyển cao đi cùng với cạnh tranh không hoàn hảo, có sự
can thiệp của nhà nước bằng các hàng rào thuế
và phi thuế thì tỷ giá hối đoái chắc
chắn sẽ không hoàn toàn được xác định như trên. PPP tương đối được đưa ra để
khắc phục nhược điểm này. Đối với PPP tương đối thì tỷ giá được hình thành trên
cơ sở xem xét chênh lệch lạm phát giữa hai nước.
%∆S = %∆ P
D
- %∆P
F
Trong đó: %∆S: Tốc độ thay đổi của tỷ giá
%∆P
danh nghĩa của đồng tiền mà không phản ánh sức cạnh tranh của hàng hóa trong
nước trong trao đổi th
ương mại quốc tế. Sự phá giá tỷ giá danh nghĩa vì vậy cũng
không phản ánh được sự thay đổi trong tính cạnh tranh quốc tế hàng hóa một nước
như tỷ giá thực tế trình bày dưới đây.
_Tỷ giá thực tế
(i)
: là tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh theo mức giá tương
đối giữa các nước, có tính đến sức mua thực tế và quyết định tính cạnh tranh của
hàng hóa quốc gia.
*Căn cứ vào phương tiện thanh toán:
_Tỷ giá điện hối: tỷ giá chuyển ngoại hối bằng điện, là cơ sở xác định các loại
tỷ giá khác
_ Tỷ giá thư hối: tỷ giá chuyển ngo
ại hối bằng thư.
(i)Tỷ giá danh nghĩa được công bố hàng ngày trên thông tin đại chúng trong khi tỷ
giá thực tế phải được tính toán dựa trên tỷ giá danh nghĩa như sau:
Tỷ giá thực tế = (Tỷ giá danh nghĩa * Mức giá nước ngoài)/ Mức giá trong nước
7
*Căn cứ vào cơ chế quản lý ngoại hối, ở những nước kém phát triển, ngoài
thị trường ngoại hối chính thức còn xuất hiện thị trường chợ đen, tỷ giá được chia
thành tỷ giá chính thức do ngân hàng trung ương quy định và tỷ giá chợ đen do
quan hệ cung cầu ngoại hối quyết định
(35)
.
*Căn cứ vào hoạt động thanh toán ngoại thương:
_Tỷ giá xuất khẩu: tỷ giá xuất khẩu được tính bằng tỷ số của giá bán hàng
xuất khẩu theo điều kiện F.O.B bằng ngoại tệ với giá bán buôn xí nghiệp cộng thuế
chính sách tiền tệ trở nên độc lập hơn Tuy vậy, trong sự vận động không hoàn hảo
của thị trường, tỷ giá hoàn toàn thả nổi cũng ẩn chứa nhiều rủi ro; đó là hễ tỷ giá hối
đoái thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi trong cán cân thanh toán, cụ thể hơn là cán cân
thương mại để phù hợp với mức tỷ giá mới. Tỷ giá thả nổi sẽ luôn gây ra sự sụt giá
trên thị trường nội địa do những thay đổi về lợi nhuận của các nhà đầu tư, các nhà
xuất- nhập khẩu. Chưa hết, tỷ giá thả nổi còn là miếng mồi béo bở cho những kẻ
đầu cơ tiền tệ, việc đầu cơ theo trào lưu rất dễ gây t
ổn thương khu vực tài chính,
tiền tệ của nền kinh tế.
_Tỷ giá thả nổi có quản lý: Đây là loại tỷ giá được ưa chuộng nhất, đứa con
ruột của cuộc hôn phối giữa tỷ giá cố định và tỷ giá thả nổi, nó khắc phục được các
nhược điểm của cả hai loại tỷ giá trên. Trong tỷ giá thả nổi có quản lý, tỷ giá vận
hành theo s
ự biến động cung cầu thị trường, chính phủ sẽ can thiệp vào thị trường
ngoại hối khi cần thiết, việc điều chỉnh tỷ giá sẽ dựa trên điều chỉnh tỷ giá chính
thức. Tỷ giá thả nổi có quản lý một mặt phản ánh cung cầu ngoại hối, mặt khác đáp
ứng được mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế thông qua việc điều chỉ
nh tỷ giá của
nhà nước nên được các quốc gia rất ưa chuộng. Tính từ đầu năm 1970 đến nay, số
quốc gia áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý đã tăng từ 23% (trong tổng số các
quốc gia) lên tới 84% năm 2002 và Việt Nam chúng ta cũng nằm trong số các quốc
gia này
(47)
.
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái trong nền kinh tế mở:
Dưới con mắt các nhà kinh tế học, tỷ giá hối đoái luôn vận động theo những
biến động vĩ mô của nền kinh tế. Mặc dù khoác cho mình tấm áo tỷ giá danh nghĩa
có lúc được xem là ổn định song tỷ giá danh nghĩa đối với các nước áp dụng chế độ
thả nổi tỷ giá hoặc thậm chí cố
định cũng thường xuyên thay đổi. Tỷ giá giữa đô la
đoái, phải cân nhắc tới mọi động thái, mọi nhân tố tác động để có thể đạt được mục
tiêu hiệu quả trên tổng thể trên toàn bộ nền kinh tế. Xuất phát từ thực tiễn hơn 80%
tổng số quốc gia trong đó có Việt Nam theo đuổi chiến lược mở cửa nền kinh tế,
phần này sẽ
chỉ tập trung phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái trong
nền kinh tế mở và hãy bắt đầu bằng một nhân tố quen thuộc: Độ mở nền kinh tế.
1.2.1. Độ mở nền kinh tế:
Theo Tiến sĩ kinh tế học Johnathan Heward hiện đang là giảng viên trường
Đại học Arizona (Mỹ) thì độ mở nền kinh tế chính là mức độ mà một quốc gia tham
gia thương mại quốc t
ế, quan hệ quốc tế, tiến hành việc giao lưu hàng hóa, tiền tệ,
lao động, bí quyết công nghệ và vốn với phần còn lại của thế giới. Ông cũng đã tiến
hành nghiên cứu và đặt trọng số về độ mở nền kinh tế, vấn đề này có thế được khái
quát giản đơn bằng sơ đồ sau:
10
Sơ đồ 1: Sơ đồ giới hạn mức độ mở cửa
Mức độ mở cửa (%)
0 50 +100
(Đóng cửa) (Độ mở trung bình) (Hoàn toàn mở cửa)
Nguồn: Báo cáo chiến lược kinh tế bang Arizona (Mỹ), 11/2001.
Ở mức 0%, nền kinh tế trong trạng thái “ngủ”, nhân tố mở không còn, khái
niệm độ mở không tồn tại và do đó cũng sẽ không có tác động của
độ mở nền kinh
tế lên tỷ giá hối đoái. Mức 0% đến 50% là các quốc gia có độ mở vừa phải, đa số là
các quốc gia đang phát triển, nền kinh tế nhỏ mở cửa, thu nhập bình quân đầu
người ở mức thấp đến trung bình (dưới 1000 USD) trong đó có thể kể đến Lào,
Việt Nam, Tuynidi, Nevanda… Việc mở cửa nền kinh tế các quốc gia này được tiến
hành một cách từ từ, có tính ch
ất thăm dò và chủ yếu dựa trên các hiệp định thương
hối đoái. Chi phí giao dịch ngoại hối giảm do việc áp dụng hàng loạt các biện pháp
mới khi mở cửa nh
ư thanh toán điện tử… cộng với chính sách cho phép người
ngoại quốc được mua trái phiếu, cổ phiếu, dòng vốn luân chuyển trên thị trường
vốn, thị trường tiền tệ cũng như giữa hai thị trường này trở nên dễ dàng hơn,
thường xuyên hơn, gây tác động trực tiếp đến cung cầu ngoại hối, cung cầu ngoại
hối đến lượt nó lại quyết định mức độ
của tỷ giá, vấn đề này sẽ được bàn kĩ trong
phần 1.2.5
Mở cửa nền kinh tế cũng đồng nghĩa tìm kiếm những cơ hội đầu tư từ các đối
tác nước ngoài. Những mức độ mở cửa khác nhau hay nói đúng hơn là mức độ cho
phép các nhà đầu tư đầu tư vào những lĩnh vực nào cũng sẽ dẫn đến các tác động
khác nhau lên tỷ giá hối đ
oái. Đối với những nước bắt đầu mở cửa, danh mục
khuyến khích đầu tư thường hạn chế, đầu tư nước ngoài không phản ánh đúng vai
trò của nó, không kích thích sản xuất, tiêu dùng, sản phẩm trong nước chất lượng
yếu kém song dân chúng vẫn bắt buộc phải mua do cung có giới hạn dẫn đến vấn đề
giảm giá đồng nội tệ do sức mua đồng nội tệ giảm. Hi
ệu ứng trên có thể xem là
ngược lại đối với các quốc gia có độ mở cửa lớn.
Tuy nhiên, có thể thấy độ mở cửa càng cao thì rủi ro tài chính tiền tệ càng
lớn, quốc gia tiến hành mở cửa sẽ bị phụ thuộc khá nhiều vào các tác động bên
ngoài, tỷ giá hối đoái do đó rất dễ bị tổn thương. Mức độ giao lưu vốn, liên kết trực
tiếp lãi suất n
ội địa và lãi suất quốc tế sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ đến tính hiệu
lực của tỷ giá. Trong trường hợp quốc gia cố định tỷ giá kèm theo tự do giao lưu
12
vốn thì một sự giảm trong lãi suất quốc tế cũng sẽ dẫn đến lãi suất nội địa giảm, làm
tăng sức ép đối với tỷ giá thông qua cán cân vãng lai.
Việc mở cửa, mức độ hội nhập bản thân nó đã thôi thúc các quốc gia đến
Yên nhật giảm (từ D xuống D’:
Hình 1), đồng Việt Nam tăng giá (tỷ giá chuyển từ vị trí 1 xuống vị trí 2), tỷ giá hối
đoái giảm (theo phương pháp yết giá gián tiếp nội tệ/ngoại tệ)
13
Hình 1: Tác động của hàng rào bảo hộ lên tỷ giá hối đoái cân bằng
Nói tóm lại, mức độ mở cửa luôn được xem là một trong những nhân tố ảnh
hưởng đến tỷ giá hối đoái. Mở cửa tác động trực tiếp đến các nhân tố mũi nhọn như
thương mại, đầu tư, du lịch, ngân hàng, tài chính…sự tăng giảm các yếu tố này
cũng sẽ gây ra những biến độ
ng cho tỷ giá hối đoái, song việc mở cửa đến mức độ
nào nhằm đảm bảo tận dụng triệt để được hiệu quả của tỷ giá thì vẫn là một bài
toán khó cần phải giải đáp.
1.2.2. Lãi suất:
Lãi suất là một trong những công cụ hữu hiệu của chính sách tiền tệ, lãi suất
đóng một vai trò quan trọng trong việc ấn định mức tỷ giá hối đ
oái một cách hợp lý.
Xét về định nghĩa, lãi suất được xem là “mối tương quan giữa khoản tiền lãi mà một
người cho vay nhận được với khoản tiền vốn mà người đó cho vay, được biểu thị
bằng một số phần trăm trong một thời gian nào đó”
(5)
hay nói một cách đơn giản,
lãi suất chính là giá cả của đồng tiền. Lãi suất được xem là công cụ của NHTW
trong việc điều chỉnh tỷ giá, một sự gia tăng lãi suất nội tệ thường được sử dụng
như một bảo bối kinh điển để bảo vệ tỷ giá hối đoái trong ngắn hạn. Năm 1989,
Chính phủ Việt Nam đã có những nhận thức c
ơ bản trong chính sách lãi suất, lần
đầu tiên đã phân biệt được lãi suất thực tế và lãi suất danh nghĩa (lãi suất thực tế
= lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát; nếu lãi suất danh nghĩa = tỷ lệ lạm phát thì lãi
S : Cung ngoại tệ
14
gửi nội tệ đã được nâng rất cao vào tháng 3 năm 1989 (12%/tháng) và đã thu hút
được một lượng tiền mặt lớn vào ngân hàng, sự sụt giá tiền đồng Việt Nam được
chặn đứng cho đến tận đầu năm 1990
(27)
.
Còn đối với lãi suất ngoại tệ, một khi lãi
suất ngắn hạn ở một nước cao hơn mức lãi suất quốc tế, vốn ngắn hạn sẽ chảy vào
với mục đích thu lãi dựa trên những khoản chênh lệch đó và kết quả là cung ngoại
hối tăng lên, cầu ngoại hối giảm xuống kéo theo tỷ giá giảm.
(35)
Mối quan hệ giữa tỷ giá và lãi suất cũng đã được nhiều nhà kinh tế học quan
tâm. Theo lý thuyết ngang giá lãi suất, đồng tiền của một quốc gia nào có lãi suất
thấp hơn thì nhất định sẽ bù kì hạn cho hợp đồng kỳ hạn đối với đồng tiền của một
quốc gia nọ có lãi suất cao hơn hay nói đơn giản hơn là sự cân bằng thị trường hối
đoái đ
òi hỏi sự ngang bằng về tiền lãi, lợi tức của hai loại tiền gửi bất kỳ là tương
đương nhau khi cùng quy về một đồng tiền. Và khi tất cả các lãi suất dự kiến bằng
nhau tức có sự xuất hiện ngang giá lãi suất thì thị trường hối đoái sẽ cân bằng do
không thể có dư cung hoặc dư cầu. Tuy nhiên lý thuyết ngang giá lãi suất này lại
được xây dựng dựa trên nguyên tắc cố
định các nhân tố khác (cetacis paribas) nên
độ chính xác chỉ có tính tương đối, tỷ giá hối đoái tương lai phụ thuộc vào rất nhiều
yếu tố chứ không chỉ có riêng lãi suất, song xét cho cùng đây cũng là lý thuyết đầu
tiên mô phỏng khái quát ảnh hưởng của lãi suất lên tỷ giá và cũng đã gặt hái được
nhiều thành công nhất định
(34)
.
Mặt khác, bên cạnh việc nâng hoặc giảm lãi suất danh nghĩa, ngân hàng trung
ương còn có thể tác động vào lãi suất chiết khấu, điều chỉnh mức độ tăng giảm cung
tiền, gián tiếp ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái. Cung tiền giảm đồng nghĩa với tỷ giá
hối đoái tăng, cung tiền tăng đi đôi với tỷ giá hối đoái giảm…
Xét riêng thị tr
ường Việt Nam, vấn đề lãi suất nóng lên cũng gây tác động
xấu tới tỷ giá hối đoái. Nếu xu hướng chung năm 2003 trên thế giới là duy trì lãi
suất ở mức thấp thì Việt Nam lại đi theo chiều hướng mức lãi suất cao, tính trung
bình 11 tháng đầu năm 2003, lãi suất VND cao hơn lãi suất USD tới khoảng 6%
điểm
(17)
, việc VND đang bị định giá cao so với giá trị thực là 20% cộng với sự sụt
giảm chỉ số giá tiêu dùng, vô hình chung cho thấy tỷ giá hối đoái thực tế có xu
hướng tăng, gây tổn hại đến các hoạt động xuất khẩu, du lịch, đầu tư nước ngoài.
Tuy nhiên cũng có trường hợp tác động tăng hoặc giảm của lãi suất không hề
gây ra biến động nào cho tỷ giá hối đ
oái, đó là trường hợp nền kinh tế đang trong
tình trạng bất ổn có nguy cơ khủng hoảng, khi ấy cho dù lãi suất có tăng đến mấy
cũng không có một nhà đầu tư nào làm cái việc dại dột là chuyển vốn của mình vào
nơi nước sôi lửa bỏng để ăn chênh lệch lãi suất cả. Điển hình là trong khủng hoảng
kinh tế năm 1971-1973 mặc dù lãi suất trên thị trường Newyork cao gấp rưỡi th
ị
16
trường London, gấp ba lần thị trường Frankfurk nhưng vốn ngắn hạn vẫn không
được chuyển vào Mỹ mà lại đưa đến Tây Đức và Nhật Bản
(21)
.
Song dù thế nào đi nữa thì trong điều kiện kinh tế bình thường, lãi suất và tỷ
giá luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, việc điều hành chính sách lãi suất không
hiệu quả có thể gây ra những bất lợi như nội tệ bị mất giá gây nguy cơ lạm phát
17
Trong trường hợp lạm phát chỉ xảy ra ở một nước, mức giảm tỷ giá đối với
tiền tệ các nước bất kỳ sẽ được xem bằng với mức lạm phát ở quốc gia đó. Cụ thể
hơn, nếu mức lạm phát tại nước A là 6%/năm thì đồng tiền nước A sẽ bị giảm giá
6% tương ứng so với đồng tiền nước B trong trườ
ng hợp nước B không có lạm phát.
Nếu lạm phát xảy ra đồng thời ở cả hai quốc gia A và B với mức lạm phát lần lượt
là 3% và 4% thì đồng tiền nước A được xem là tăng giá 1% so với đồng tiền nước
B. Tức nước nào có mức độ lạm phát cao hơn, sức mua đồng tiền nước đó sẽ thấp
hơn và đồng tiền nước đó sẽ giảm giá tương ứng đúng b
ằng mức chênh lệch lạm
phát giữa hai nước.
Lạm phát càng tăng, sức mua thực tế đồng nội tệ càng giảm, dân chúng sẽ tìm
mọi cách “vứt” đồng tiền của mình đi càng nhanh càng tốt, họ tích trữ vàng, động
sản thay vì cầm trong tay một đống giấy lộn và thế là đồng nội tệ bị cuốn trong
vòng xoáy giảm giá. Các nghiên cứu kinh tế đã chỉ ra rằng lạm phát càng cao thì tốc
độ mất giá
đồng tiền càng nhanh. Năm 1920, nước Cộng hòa Weimar (hiện nay
thuộc Đức) đã in tiền với mục đích trang trải cho các chi tiêu chính phủ, kết quả là
giá cả tăng vọt, nếu tỷ số lạm phát năm 1923 so với 1922 mới ở mức 140% thì tỷ số
năm 1924 so với 1923 đã lên đến 6666666,7%, đồng Mác Đức bị sụt giá thấp chưa
từng có trong lịch sử
(49)
.
Tuy nhiên một mức lạm phát liên tục giảm sẽ dẫn đến tỷ giá hối đoái tăng,
nếu giảm xuống mức thấp hơn 1% thì cũng có nghĩa là nền kinh tế đã rơi vào tình
trạng giảm phát, một căn bệnh nguy hiểm không kém gì lạm phát phi mã. Những
yếu tố thiểu phát sẽ tác động mạnh hơn những yếu tố làm lạm phát, thiểu phát sẽ
làm cho các nhà sản xuất phả
xuất nhập khẩu, ngoại hối cũng như sự chu chuyển các luồng vốn nhằm mục đích
ổn định tỷ
giá.
Cán cân thanh toán bao gồm các khoản mục chủ yếu là: Tài khoản (cán cân)
vãng lai, tài khoản vốn và tài khoản dự trữ chính thức (trong cán cân vãng lai có sự
góp mặt của cán cân thương mại, ghi chép mọi hoạt động ra vào của ngoại tệ thông
qua xuất nhập khẩu hàng hóa hữu hình). Việc cân bằng cán cân thanh toán không có
nghĩa là các tài khoản vãng lai và vốn phải đồng thời cân bằng, mà tài khoản vãng
lai có thể thâm hụt, trong khi tài khoản vốn thặng dư. Tuy nhiên do những biến
động của các lu
ồng vốn ngắn hạn, dài hạn, của thương mại quốc tế mà hiếm khi cán
cân thanh toán được cân bằng, đây là nguyên nhân trực tiếp và tổng quát dẫn đến sự
thay đổi của tỷ giá. Cần lưu ý là khái niệm không cân bằng trong cán cân thanh toán
hiện nay không phải là cán cân thanh toán với ý nghĩa đầy đủ của nó mà thường
19
được sử dụng để chỉ tổng cán cân vãng lai và cán cân vốn. Điều đó có nghĩa là một
sự thâm hụt trong cán cân thanh toán có nghĩa là cán cân dự trữ chính thức tăng lên,
trái lại, một sự thặng dư trong cán cân thanh toán đồng nghĩa với việc cán cân dự
trữ sẽ giảm xuống. Với cấu trúc cán cân thanh toán như vậy, ảnh hưởng của cán cân
thanh toán đến tỷ giá hối đoái sẽ được phân tích qua cán cân vãng lai và cán cân
vốn.
1.2.4.1.
Ảnh hưởng của cán cân vãng lai đến tỷ giá hối đoái:
Cán cân vãng lai bao gồm các yếu tố thể hiện việc mua bán hàng hóa dịch vụ
giữa một nước với các nước khác, nó bao gồm các hoạt động xuất nhập khẩu hàng
hóa hữu hình, các khoản mục thu nhập từ đầu tư và các khoản chuyển giao tiền tệ,
song tác động chủ yếu lên tỷ giá vẫn thuộc các yếu tố nằm trong lĩnh vực xu
ất nhập
khẩu hàng hóa hữu hình, gọi là cán cân thương mại. Cán cân thương mại là một
phần cấu thành cán cân vãng lai, với hai hạng mục chủ yếu là xuất khẩu và nhập
(+) (-)
Sức ép giảm giá nội tệ
(Tỷ giá giảm)
Hãy lấy một ví dụ cụ thể đó là nếu ở Mỹ, lượng ngo
ại tệ bỏ ra để nhập khẩu
vượt lượng ngoại tệ thu về từ xuất khẩu thì cung đô la sẽ vượt cầu đô la trên thị
trường ngoại hối, và kết quả là đồng đô la có thể bị sụt giá so với các đồng tiền
khác. Và thực tế cho thấy tính đến tháng 6 năm 2003, cán cân thương mại Mỹ đã
thâm hụt gần 200 tỷ USD
(7)
(tức là hơn 1 tỷ USD/ngày) tạo nên nguồn cung đô la
rất lớn trên thị trường hối đoái toàn cầu, mặc dù cố duy trì chính sách đồng đô la
mạnh song thâm hụt quá lớn từ phía cán cân thương mại đã khiến Mỹ buộc phải
giảm giá đồng đô la hồi đầu tháng 10 năm 2003. Mô hình trên có thể coi là đúng
đắn trong cả chế độ tỷ giá thả nổi lẫn cố định, mặc dù trong chế độ
tỷ giá cố định,
độ trễ của mô hình lớn hơn do có sự can thiệp của nhà nước trong ấn định tỷ giá
song tất yếu qui luật trên sẽ xảy ra và vấn đề còn lại chỉ nằm ở yếu tố thời gian mà
thôi.
Bên cạnh yếu tố kim ngạch xuất nhập khẩu, các yếu tố tác động lên cầu xuất
nhập khẩu cũng được xem là gián tiếp gây ảnh hưởng
đến tỷ giá hối đoái ví dụ như
mức giá cả tương đối, chính sách bảo hộ, sở thích người tiêu dùng trong việc sử
dụng hàng nội và hàng ngoại…Những năm 1970, nhu cầu nhập khẩu hàng hóa từ
21
Nhật của những người dân Mỹ tăng mạnh, cán cân thương mại Nhật Bản thặng dư,
chính quyền Nhật Bản đã buộc phải tăng tỷ giá đồng Yên so với đô la Mỹ lên 5%
trong vòng 2 năm từ 1976 đến 1978
(52)
Tokyo, London, Zurich thường xuyên tiến hành buôn bán hàng trăm tỷ ngoại tệ mỗi
ngày. Việc nghiên cứu tác động của cung, cầu ngoại hối đến tỷ giá hối đoái sẽ được
22
xem xét qua việc sử dụng những đường cầu và cung trong mô hình cân bằng cung-
cầu quen thuộc nhằm minh họa rõ việc thị trường sẽ quyết định giá cả tiền tệ như
thế nào.
Trước hết, cầu ngoại tệ sẽ nảy sinh khi nào ? Đó là khi một nước có nhu cầu
mua sắm hàng hóa, dịch vụ cũng như các tài sản khác ở nước ngoài
(23)
. Đường cầu
ngoại tệ thông thường có độ dốc xuống từ trái sang phải giống đường cầu hàng hóa,
điều này đồng nghĩa với việc tỷ giá hối đoái và cầu ngoại tệ vận động ngược chiều
nhau. Cụ thể hơn, đường cầu ngoại tệ biểu hiện mối liên hệ giữa tỷ giá hối đoái và
lượng cầu ngoại tệ. Khi cầ
u đồng tiền A giảm xuống (Q1 xuống Q2), giá ngoại tệ A
giảm, giá nội tệ C tăng, tỷ giá giữa ngoại tệ A và nội tệ C theo phương pháp yết giá
trực tiếp tăng (từ E1 đến E2). (Hình 2)
Hình 2: Đường cầu ngoại tệ
E(A/C) 0 Q2 Q1 Q(A)
(Với phương pháp yết giá trực tiếp, sự tăng lên của tỷ giá trên chính là sự tăng lên của giá đồng
nội tệ)
Trong thương mại quốc tế, với giả thiết việc mua sắm sẽ được thanh toán
bằng đồng tiền của nước bán thì một sự giảm đi trong nhu cầu người tiêu dùng sẽ
Trung Quốc ít đi, có nghĩa là số người dân Mỹ phải đổi USD lấy CNY (Nhân dân
tệ) giảm xuống, điều này sẽ làm giảm cầu CNY trên thị trường ngoại hối, khiến
đường cầu nhân dân tệ dịch sang trái, đồng nhân dân tệ xuống giá trong khi đồng đô
la Mỹ lên giá (giả sử nếu trướ
c kia người Mỹ cần 0,15 USD mới đổi đước 1 CNY,
thì nay chỉ cần 0,125 USD). Sở dĩ biết được sự lên giá của đồng đô la là do chúng ta
đã đảo ngược diễn biến mối quan hệ cung cầu bằng cách phân tích cung cầu USD
trên cơ sở cung cầu CNY và điều này là chấp nhận được. Trong thế giới buôn bán
ngày nay, việc trao đổi các hoạt động thương mại, du lịch, đầu tư… dù dưới vỏ bọc
nào v
ẫn có thể coi đó là quan hệ song phương, khi ấy, cầu nhân dân tệ của Mỹ được
chuyển thành cung đô la và cung về nhân dân tệ của người Trung Hoa cũng sẽ được
chuyển thành cầu về đồng đô la.
Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa cầu ngoại tệ và các yếu tố cấu thành nên cầu
ngoại tệ cũng được xem là cơ sở cho việc tạo nên những biến đổi cầ
u ngoại tệ gây
ảnh hưởng đến tỷ giá. Xét riêng trong phạm vi một quốc gia, nếu nhu cầu mua sắm
hàng hóa dịch vụ từ nước ngoài tăng lên thì cầu ngoại tệ cũng tăng lên, cầu nội tệ
giảm và kết quả là tỷ giá nội tệ giảm. Điều đó cho thấy cầu ngoại tệ vận động ngược
chiều với các yếu tố tạo ra nó. Sự tươ
ng quan nghịch giữa cầu ngoại tệ và các yếu tố
cấu thành cầu ngoại tệ được mô hình hóa dưới dạng sau:
D
NgT
= f(cầu của dân chúng một nước về hàng hóa, dịch vụ, tài sản của nước ngoài;γ)
(trong đó γ là biểu thị tác động các yếu tố ngẫu nhiên lên cầu ngoại tệ.)
Yếu tố còn lại quyết định tỷ giá hối đoái chính là cung ngoại hối. Đường cung
ngoại hối có chiều hướng lên trên, từ trái sang phải, thể hiện quan hệ khi cung ngoại
hối tăng lên (Q đến Q’), giá cả ngoại hối giảm xuống, giá cả nội tệ tăng và tỷ giá
tăng lên (E đến E’)(trường h
ngẫu nhiên)
S
E’
E
Q(
N
g
t
)
Q Q’
E(Ngt/Nt)
E(Ngt/Nt): Tỷ
giá ngoại tệ/nội
tệ theo phương
pháp yết giá trực
tiếp
Q(Ngt): Lượng
cung ngoại tệ
S: đường cung
ngoại tệ