nghiên cứu văn bản tức vị chiếu của ngô thì nhậm - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN
VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
----------------------

NGUYỄN HỮU NGHỊ
6095875

NGHIÊN CỨU VĂN BẢN TỨC VỊ
CHIẾU CỦA NGÔ THỜI NHẬM
Luận văn tốt nghiệp đại
học ngành Ngữ văn

Cán bộ hướng dẫn: ThS. TẠ ĐỨC TÚ

Cần Thơ, 11 – 2012
-1-


ĐỀ CUƠNG TỔNG QUÁT
A. PHẦN MỞ ĐẦU 5. Phương pháp nghiên cứu
B. PHẦN NỘI DUNG
1. Lí do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG

3. Mục đích nghiên cứu

1.1. Một số vấn đề chung của văn học Trung đại Việt Nam

2.3. Nghệ thuật thể hiện trong văn bản
2.3.1. Cách sử dụng từ ngữ
2.3.2. Hình thức câu phổ biến được sử dụng trong văn bản
2.3.3. Cấu trúc đối- biền ngẫu

Chương 3: GIÁ TRỊ THỂ CHIẾU TRONG VĂN HỌC TRUNG
ĐẠI
3.1. Đôi nét về thể loại chiếu
3.1.1. Khái niệm và lịch sử hình thành phát triển của văn bản chiếu
3.1.1.1. Khái niệm
3.1.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển
3.1.2. Đặc điểm của văn bản chiếu
3.1.2.1. Về mặt nội dung
3.1.2.2. Về thể văn
3.2. Tầm quan trọng của thể loại chiếu trong văn học trung đại
3.2.1. Đối với đời sống chính trị
3.2.2. Đối với con người trong thời trung đại
3.3. Văn bản Tức vị chiếu trong văn học trung đại
3.3.1. Văn bản Tức vị chiếu so với thể loại khác
3.3.2. Văn bản tức vị chiếu với văn bản khác

C. PHẦN KẾT LUẬN
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Bảng thống kê
Mục lục
Nhận xét của cán bộ hướng dẫn
Nhận xét của cán bộ phản biện



chí”, văn chương phải là con thuyền trở đạo lí để giáo
huấn con người. Cho nên tìm hiểu văn chương trung đại
như được sống lại hài khí anh hùng của dân tộc lúc đó,
thấy được vua hiền, tôi trung, tấm lòng yêu nước
thương dân của các vị tướng ngày xưa. Ngoài các hể


thơ, truyện thơ, văn

thời trung đại, mặc dù nó là văn hành chính nhưng đồng

xuôi, văn chương

thời nó cũng là một tác phẩm văn chương đích thực.

hành

thời

Tuy là ngôn ngữ hành chính, nhưng khi ta đọc vào vẫn

trung đại cũng góp

cảm nhận được tình cảm, tâm ý mà người viết muốn

một

phần

quan

đối với lịch sử của
đất nước và dân
tộc.
Một

điều

đặc biệt khác, thể
loại văn hành chính
của ta ngày nay
mang đậm phong
cách khoa học, từ
ngữ

ngắn

gọn

không thể hiện tình
cảm, khi đọc vào ta
cảm thấy khô khan,
mang tính khuôn
mẫu,

thiếu

chất

truyền cảm. Trong
văn

Văn chiếu là một loại tác phẩm văn học mang tính chất hành chính nhiều hơn
chất văn học, trong những năm gần đây, ít khi người ta đi sâu tìm tòi và nghiên cứu về
nó. Cho nên cũng không thấy có sách vỡ nào đi sâu bàn luận về nó. Dường như nó là
thể loại văn khô khan nên hiếm người tìm hiểu. Thể loại chiếu, là một loại hình văn
học cổ được sử dụng nhiều trong thời trung đại, được xem như một công cụ quan trọng
thiết yếu của vua dùng để cai trị và quản lí đất nước. Tùy vào từng mục đích sử dụng,
mà chiếu có những đặc điểm riêng khác nhau như: chiếu để cầu nhân tài, chiếu khuyến
khích học tập, sản xuất nông nghiệp, hay chiếu dời đô. Ngoài ra trong chính trị, chiếu


còn đóng một vai trò hết sức quan trọng, nó còn được dùng để ngoại giao. Nhưng kể từ
khi chữ Quốc ngữ ra đời thay thế chữ Hán, thể loại văn chiếu không còn phù hợp nữa.
Do đó nó ngày càng bị bào mòn và lãng quên một cách vô tình theo thời gian. Chiếu
không giống như các thể loại khác như: thể phú hay thơ Đường luật được rất nhiều
người ưa thích và phổ biến rộng rãi, thể chiếu hạn chế về đối tượng tiếp nhận cả về lực
lượng sáng tác. Quy tắc sáng tác lại rất nghiêm ngặt về nội dung và hình thức. Đòi hỏi
người sáng tác phải là người học cao hiểu rộng và có địa vị nhất định trong xã hội.
Chính vì lẽ đó, chiếu ít được chú ý tới và có phần bị mai một. Và ngày nay, thể loại
chiếu chỉ được chú trọng bởi những người nghiên cứu và giảng dạy chuyên ngành Ngữ
văn Hán Nôm, hay lịch sử văn hóa mà thôi.
Trong quyển Thi pháp văn học trung đại Việt Nam của giáo sư Trần Đình Sử
cho rằng: “Chiếu còn gọi là chiếu thư, chiếu chỉ, chiếu bản. Đó là văn cáo mà thiên tử
hạ đạt mệnh xuống cho thần thuộc. Có các loại chiếu như: Tức vị chiếu, di chiếu, ai
chiếu, phục chiếu, mật chiếu, thủ chiếu, khẩu chiếu. Thái Ung đời Đông Hán nói:
Thiên tử nhà Hán đặt hiệu là Hoàng đế, lời của Hoàng đế gọi là chế, chiếu. Nhiệm
Phương thời nhà Lương, Nam triều cho biết chiếu bắt đầu có từ thời nhà Tần. Trước
đó vua gọi là cáo, mệnh, thệ, đến đời nhà Tần đổi thành chiếu. Vương Triệu Phương
nhà Thanh giải thích: chiếu chính là cáo, cáo về việc nào đó. Vua dùng để cáo với
thiên hạ, ý cũng như mệnh lệnh. Chỉ có đời Đường do Vũ hậu có tên là chiếu, cho nên
kị húy mà đổi ra chế. Từ thời trung Đường mới gọi là chiếu trở lại. [15, tr. 242]”. Ta

thể chiếu trong thời trung đại. Khái quát được những nét cơ bản của văn học trung đại,
lí giải phân tích tìm ra nét riêng độc đáo của thể loại. Tìm ra nét độc đáo trong nghệ
thuật dùng từ và sử dụng câu chữ trong văn bản chiếu. Qua đó thấy được tầm quan
trọng của thể loại văn chiếu đối với nền văn học cũng như lịch sử nước nhà.

4. Phạm vi nghiên cứu
Ngay từ khi nghiên cứu đề tài này,người nghiên cứu cũng gặp không ít khó
khăn do đây là đề tài mà từ trước đến nay ít người nghiên cứu. Đó là điều gây trở ngại
lớn cho người nghiên cứu trong việc tìm tài liệu tham khảo. Nhưng bên cạnh đó thì
ngay từ tên đề tài bản thân nó đã giới hạn cho người nghiên cứu, cho nên người nghiên
cứu chủ yếu tập trung xoáy sâu vào nội dung chính của đề tài là nghiên cứu thể loại
văn chiếu, nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm Tức vị chiếu. Bởi vì điều kiện thời
gian không cho phép nên người nghiên cứu chỉ có thể thực hiện trên phạm vi đề tài
không rộng hơn.
Do đề tài chỉ yêu cầu nghiên cứu một tác phẩm và một tác giả cụ thể, nên chúng
tôi chỉ nghiên cứu xoay quanh những vẫn đề trực tiếp liên quan đến tác phẩm.

5. Phương pháp nghiên cứu


Chiếu là một thể loại thuộc văn học chức năng, cho nên khi nghiên cứu văn bản
chiếu này, người nghiên cứu cần phải xác định chức năng của văn bản chiếu. Đặt văn
bản trong hoàn cảnh ra đời, để thấy được tư tưởng chủ đạo của văn bản. Phân tích kết
cấu của văn bản, chú ý đến lời văn. Có nhiều phương pháp nghiên cứu cho một đề tài
luận văn, việc lựa chọn phương pháp có vai trò quan trọng quyết định đến sự thành
công của luận văn. Ở đây, chúng tôi chử yếu sử dụng phương pháp: ngữ văn học và
văn bản học, kết hợp với các thao tác là so sánh, phân tích, tổng hợp đánh giá nội
dung, nghệ thuật, từ đó rút ra nhận định của bản thân.





trung với vua), là người anh hùng là phải có một tinh thần quyết chiến, quyết thắng,
chống giặc ngoại xâm, ý thức độc lập tự do, tự hào về dân tộc. Thể hiện được tinh thần
trách nhiệm xây dựng đất nước trong thời bình. Tỏ lòng biết ơn và ca ngợi những
người anh hùng hi sinh vì tổ quốc.
Tác phẩm trong thời kì này tập trung thể hiện các khía cạnh tiêu biểu như: Tình
yêu quê hương, lòng căm thù giặc, ý thức trách nhiệm, tinh thần vượt khó, sẵn sàng hy
sinh vì tổ quốc, ý chí quyết chiến, quyết thắng, đề cao chính nghĩa của người Việt
Nam trong những cuộc kháng chiến.
Nền văn học trung đại Việt Nam, tồn tại và phát triển trong suốt mười thế kỉ.
nhưng không bao giờ tách rời cảm hứng yêu nước, cảm hứng nhân đạo và cảm hứng
thế sự, đây là ba dòng chủ lưu trong văn học trung đại. Mỗi khi dân tộc gặp nguy nan
nó lại nỗi lên. Văn học luôn luôn bám sát lịch sử dân tộc, phản ánh những sự kiện
trọng đại liên quan đến vận mệnh của đất nước. Trong quá trình dựng nước và giữ
nước, tư tưởng này tác động một cách sâu sắc đến nội dung văn chương và buộc văn
chương phải ánh đúng như thế. Sự phát triển của văn học, đã bồi đắp và phát triển
thêm ý thức tự hào của dân tộc, tinh thần độc lập tự chủ. Cho nên chế độ phong kiến
có hưng thịnh hay suy vong, thì nội dung yêu nước trong văn học vẫn phát triển không
ngừng. Nền văn học trung đại Việt Nam gắn bó máu thịt với vận mệnh đất nước, với
số phận con người Việt Nam, từng bước đi của lịch sử dân tộc, từng niềm vui, nỗi
buồn của đất nước, từng giọt nước mắt lẫn nụ cười cũng được văn chương quan tâm
phản ánh.
Ngay từ khi dựng nước, văn học đã đi vào khẳng định sự tắt thắng của người
Việt. Tác phẩm “Việt điện u linh tập” nêu rõ một điều là nước Việt đâu đâu cũng có
địa linh nhân kiệt, còn “Lĩnh nam chích quái” thì chứng minh cho ta thấy một điều là
lịch sử của nước ta lâu đời ngang hàng với Trung Hoa, khẳng định bờ cõi nước Nam
qua bài thơ “Thần” của Lý Thường Kiệt. Mỗi khi đất nước có giặc ngoại xâm thì cả
nước một lòng đứng lên chống giặc từ đứa trẻ ba tuổi như “Thánh Giống” rồi đến
những người phụ nữ như “Hai Bà Trưng” cầm giáo ra trận giết giặc. Khi giặc Minh

thường, cái mộc mạc, hay sự vật trong cuộc sống đời thường, ít phản ánh miêu tả chi
tiết cuộc sống thực. Nếu có viết về cuộc sống đời thường thì chỉ viết viết về thằng mỏ,
con cóc, tác nước, dệt vãi, để nói lên việc làm của các sự vật này. Con người trở nên
cao quý thông qua phương thức ngụ ý, ám chỉ, tượng trưng. Tính bác học cao quý, còn
do quan niệm xem văn học là của tri thức, còn dân đen thì không thể hiểu và cũng


không cần phải hiểu. Tính thanh nhã cao quý thể hiện ở ngôn từ diễm lệ, trách nói theo
thông tục, nếu có dùng thì ngu ý chứ không nói thẳng vào vấn đề.
Từ thời trung đại, văn học là sản phẩm của các tri thức văn học, họ sáng tác ra
là để chủ yếu phục vụ cho tầng lướp của họ. Cho nên quan niệm văn chương ngày xưa
phải là cái gì cao quý, thanh tao, trang nhã, phải là: “văn dĩ tải đạo” và “thi ngôn chí”,
các nhà nho coi văn là cái hình thức, cái để chứa, để chuyên trở đạo lí. Vì đạo mới
chính là nội dung, chức năng cao quý của văn là tải tạo, văn là con thuyền chuyên trở
đạo lí thánh hiền để răng dạy con cháu đời sau, văn chương còn là tấm gương sáng
giáo dục, giáo hóa làm thay đổi con người. Còn thi là thơ, chí là chí hướng, lí tưởng
hoài bảo, các nhà thơ đưa tâm tư, tình cảm con người vào trong thơ. Nho giáo vốn là
một thuyết chính trị quan tâm đến đạo đức con người. Vì thế mà nhà nho rất coi trọng
chức năng tải đạo, chức năng ngôn chí của thơ và quan niệm này góp phần cản trở
bước phát triển của văn học trung đại. Bởi vì quan niệm này làm cho văn chương trung
đại hướng đến tầng lớp trên, đây là lí do dẫn đến hiện tượng một thời gian văn chương
trung đại vắng bóng người phụ nữ.
Tính quy phạm, còn là những quy định chặt chẽ, những nguyên tắc khuôn mẫu
công thức mang tính chất bắt buộc đã được định sẵn mà người sáng tác văn học buộc
phải tuân theo trong suốt quá trình sáng tác của mình. Các tác giả trung đại bị trói buộc
vào quy luật này một cách say mê. Mục đích sáng tác là phải hướng đến giáo huấn đạo
đức, sáng tác có khi là để tiêu khiển thù tạc, nhưng mục đích chung của nhà nho là
giáo dục “Văn dĩ tải đạo, thi ngôn chí”, văn thơ sáng tác là giáo huấn đạo đức, để bộc
lộ ý chí bài tỏ tình cảm. Về ngôn ngữ sáng tác là chữ Hán và chữ Nôm, nhưng chữ
Hán được xem là ngôn ngữ chính thống. Tư duy nghệ thuật phải thuộc vào những

bóp nghẹt sự sống, quyền tự do hạnh phúc của con người, và người phụ nữ trong xã
hội này không có tiếng nói, không có giá trị, có khi trở thành hàng hóa để mua bán.
Tuy chúng ta có sự giao lưu và tiếp thu văn hóa của Trung Quốc, nhưng mặt khác
chúng ta đã không ngừng phát triển và hoàn thiện văn học nước nhà. Trong suốt mười
thế kỉ, văn học trung đại Việt Nam đã bỏ dần tính quy phạm ước lệ để phát huy cá tính
sáng tạo về nội dung và hình thức. Trong văn học hình tượng người phụ nữ xuất hiện
ngày càng nhiều và họ có tiếng nói, có ước mơ, khao khát hạnh phúc. Có các tác giả
tiêu biểu là Nguyễn Trãi với tác phẩm “Quốc âm thi tập”, Nguyễn Du với tác phẩm
“Truyện Kiều”, Hồ Xuân Hương với mảng thơ viết về người phụ nữ. Các tác giả này
sáng tác bằng chữ Nôm và đưa vào trong thơ những hình ảnh bình dị, dân dã và những
khao khát hạnh phúc đời thường.


Những đặc điểm trên đã góp phần làm cho văn học tồn tại và phát triển trong
suốt thời kỳ trung đại, đã tạo nên một nét độc đáo riêng cho giai đoạn văn học này và
làm tiền đề cho văn học giai đoạn sau tiếp tục phát triển.

1.1.3. Lấy văn học dân gian làm nền tảng
Văn học viết Việt Nam hay bất kì một nền văn học nào khác đều phát triển trên
cơ sở kế thừa những tinh hoa của văn học dân gian. Nền văn học thành văn của bất cứ
quốc gia nào cũng phải lấy văn học dân gian làm nền tảng. Suốt một ngàn năm Bắc
thuộc phong kiến, Trung Hoa luôn tìm cách đồng hóa Việt Nam về mặt ngôn ngữ.
Nhưng người Việt chúng ta, đã chiến thắng giặc ngoại xâm và giữ gìn bản sắc văn hóa
dân tộc. Theo Nguyễn Đăng Na trong quyển “Con đường giải mã văn học trung đại”,
[10, tr. 20]. Có trích ý kiến của Vũ Quỳnh (1452-1516) đã từng viết là: “Quế Dương
tuy ở Lĩnh Ngoại nhưng núi sông kì, đất đai linh, những người hào kiệt thường thường
vẫn có. Từ thời Xuân thu chiến quốc (770 tr.CN – 227 tr. Cn) tới nay, nước dựng chưa
lâu lắm, tục Nam còn giản lược, chưa có sử sách để chép việt thực, cho nên việc cũ bị
mai một rất nhiều, may chỉ nhờ dân gian khẩu truyền mà còn lại không mất”, (Tựa
Lĩnh Nam chích quái liệt truyện), vì lí do này nên hầu như các tác giả đều hướng về

phần thơ ca của họ luôn phản phất phong vị của ca dao, cái cười châm biếm thật kín
đáo và sâu cay về những thói hư tật xấu hằng ngày, hay những vị quan ngao ngán chốn
quan trường lui về ở ẩn. Ngoài ra văn học viết nó còn giúp văn học dân gian hoàn
thiện và nâng cao.

1.1.4. Tiếp thu có chọn lọc văn học nước ngoài nhất là Trung Hoa
Trung Hoa là một nước có nền văn hóa lâu đời. Vào thế kỉ thứ X, khi văn học
trung đại Việt Nam chính thức ra đời, thì văn học Trung Hoa đã phát triển từ trước.
Trong khi đó ở thời kì Bắc thuộc người dân đã quá quen vời thể văn Trung Hoa đã
phát triển mạnh mẽ và đầy đủ. Với điều kiện như vậy, để xây dựng được một nền văn
học trong những ngày mới giành được độc lập thì không có một giải pháp nào tốt hơn
là tiếp thu và cải biến những tinh hoa văn học từ nước ngoài. Vấn đề đặt ra là chúng
phải thật sự hiểu rõ tâm lí và thị hiếu thẫm mĩ của người Việt. Muốn làm được điều
này thì phải có người có kiến thức rộng mới đủ khả năng đón nhận. Chúng ta có thể
khẳng định sự du nhập các học thuyết vào Việt Nam chủ yếu là do:
Vẫn đề giao lưu văn hóa giữa các dân tộc là một vẫn đề mang tính quy luật, từ
xưa nước ta đã có sự giao lưu văn hóa với các vùng lân cận mà nhất là Trung Hoa.
Hơn một nghìn năm Bắc thuộc dân tộc ta không tránh khỏi ảnh hưởng bởi sự bành
trướng của văn hóa, nhất là âm mưu đồng hóa của kẻ thù. Bọn quan lại phương Bắc


sang đô hộ nước Việt ta không chỉ bóc lột vơ véc tài nguyên mà còn nhân cơ hội này
truyền bá các học thuyết vào Việt Nam một cách khéo léo và thâm hiểm.
Khi nhà nước phong kiến bắt đầu hình thành, các giai cấp thống trị đã lợi dụng
các học thuyết triết học là một công cụ đắc lực để củng cố ngai vàng và thống trị nhân
dân.
Tuy nhiên các học thuyết nho phật lão đều có những điểm tích cực nhất định.
Cho nên các nhà tư tưởng lớn của Việt Nam đã khai thác, vận dụng những nét tích cực
và phát huy trong từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
Cuối thế kỉ XVII, do giao lưu văn hóa với phương Tây từ đó dần hình thành

định trong quá trình phát triển lịch sử của văn học, thể hiện ở sự giống nhau về cách
thức tổ chức tác phẩm, về đặc điểm của các loại hiện tượng đời sống được miêu tả và
về tính chất của mối quan hệ giữa nhà văn với các hiện tượng đời sống ấy. Thể loại
văn học trong bản chất phản ánh những khuynh hướng bền vững, vĩnh hằng của văn
học và các thể loại văn học nó tồn tại để giữ gìn, đổi mới thường xuyên các khuynh
hướng ấy”. [8, tr. 299]. Do đó mà thể loại văn học cũng vừa mới vừa cũ, vừa biến đổi,
vừa ổn định. Như vậy chúng ta có thể hiểu: thể loại là một dạng thức tồn tại chính của
một tác phẩm văn học. Trong suốt quá trình hình thành, phát triển và tồn tại, thể loại
văn học vừa ổn định vừa biến đổi. Ổn định không phải là sự đứng yên khô cứng mà nó
ở dạng định hình, khẳng định những thành tựu. Còn sự biến đổi liên tục nó là động lực
cho sự phát triển. Trong văn học trung đại, thể loại văn học lâu nay được phân theo hai
hướng là dựa vào hình thức và nội dung.

1.2.2. Phân loại các thể loại trong văn học trung đại
1.2.2.1. Theo hình thức thể loại
“Thể loại văn học Trung đại là một hiện tượng rất bề bộn, cách phân chia cũng
rất bề bộn” [10; tr.87]. Thực vậy, trong quá trình tồn tại và phát triển của lịch sử thì
nội dung và thể loại văn học Trung đại luôn có sự biến động, vì vậy khó có thể xác
định và phân chia thể loại văn học Trung đại một cách rạch ròi và chuẩn xác. Xoay
quanh việc phân chia văn học trung đại Việt Nam, có nhiều tác giả đã đã từng đề cập
đến quan niệm và tiêu chí phân loại thơ văn Trung đại, tiêu biểu là Nguyễn Hụê Chi,
Bùi Văn Nguyên, Trần Đình Hựu, Bùi Duy Tân. Nếu theo phương thức phản ánh thì
có 3 loại: loại trữ tình, loại tự sự, loại kịch bản sân khấu, các thể loại chính luận
(chiếu, kịch, cáo, bểu, sớ, tấu, thư, luận,…). Đó là cách phân loại dựa theo quan niệm
của Aritose. Còn nếu dựa vào các tác phẩm văn học về phía các sách lí luận ở nước ta
thì phân chia chủ yếu dựa trên cơ sở lối “chia ba”, nhưng chọn trình bày thành bốn loại
tiêu biểu: thơ trữ tình, kịch, tiểu thuyết, kí. Xét về mặt thể loại của văn học Việt Nam


phần văn học viết có thể chia thành hai thời kì chính, tương ứng với các thời kì của


Đó là hai cách phân chia mặc dù có sự khác nhau nhưng mỗi cách đều có sự nhất
quán, phù hợp với thực tiễn văn học và đặc trưng về mặt thể loại.
Mặt khác nếu căn cứ vào từ điển văn học cổ điển Trung Quốc thì có 46 cách
phân loại. Ưu điểm của cách phân chia này có phần cụ thể, chi tiết nhưng cái cụ thể
chi tiết ấy không tránh khỏi sự chi li và rờm rà, nên chưa có được sự bao quát. Theo
Nguyễn Huệ Chi đã đề xuất mô hình phân thành năm loại: Thơ ca (Thơ sấm vĩ, thơ
suy lí, thơ trữ tình, thơ tự sự), Biền văn (Chiếu, phú, hịch, cáo, chế, biểu tấu), Tản văn
(Văn bình luận, văn thư tín, văn ngữ lục), Truyện kể (Truyện, sử, bi, kí). Mỗi cách
phân loại đều có cách lí giải và mục đích riêng. Dựa vào cấu trúc hình thức câu văn và
cấu trúc giữa các câu văn với nhau, Giáo sư Nguyễn Đăng Na chia văn học Trung Đại
thành hai loại lớn. Đó là văn xuôi tự sự và văn vần. Theo ông dựa vào quy mô và tính
chất từng tác phẩm có thể chia văn xuôi tự sự thành ba nhóm: Truyện ngắn, kí và tiểu
thuyết chương hồi. “nhưng phân loại là một công việc rất khó, đặc biệt trong điều kiện
văn sử bất phân”.[8; tr. 89]. vì vậy cách phân chia đương nhiên vẫn còn mang tính chất
tương đối. Giáo sư Trần Đình Sử ông quan niệm “văn học Trung đại trước hết là văn
chương ngôn từ, là nghệ thuật từ ngữ. Do đó việc phân loại văn học văn học Trung đại
gắn liền với việc phân hóa về thể loại văn-hình thức mang nội dung cố định để tổ
chức” [10; tr. 93]. Vì vậy mà thể loại văn học Trung đại chia ra theo thơ, phú, văn,
truyện, tuồng và chèo.
Thể loại văn học Trung đại luôn có những quy tắc đòi hỏi người cầm bút phải
tuân theo. Do chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, nên tiếng Hán vẫn tồn tại và
phát triển cùng với tiếng Việt. Xét về thể loại thơ thì trong tiếng Hán có hình thức vay
mượn thể loại. Các thể loại chủ yếu là thơ lục bát, thơ Đường luật, truyện Nôm, ngâm
khúc, hát nói, vãn và diễn ca. Văn có thể chia làm hai loại lớn biền văn và tản văn, chủ
yếu là văn chữ Hán. Biền văn chủ yếu được sử dụng vào các thể cáo, chiếu, biểu, bi,
hịch, văn tế, câu đối,… Còn phần tản văn thì được dùng vào các thể tựa, bạc, kí, lục,
luận, thuyết,… Văn chữ Nôm hầu như có văn vần và biền ngẫu. Về phần thể loại
truyện thì có truyện bằng chữ Hán bằng văn xuôi như mãn lục, tùy bút, tiểu thuyết, kí
sự,… Thể loại kịch thì có tuồng, chèo,… Thể loại văn học viết là thể loại văn học dựa

Giai đoạn thứ hai là giai đoạn từ thế kỉ XVI trở về sau, văn học viết bắt đầu
chuyển hướng trước tình hình mới, ngày càng gắn chặt hơn với phong trào nhân dân
chống chế độ phong kiến cát cứ mục nát. Về mặt thể loại, giai đoạn này có nhiều thành
tựu có ý nghĩa thời đại. Trong giai đoạn này có ba khoảng thời gian nỗi bật: Từ đầu thế
kỉ XVI đến đầu thế kỉ XVIII, có thể xem đây là giai đoạn hoàn thành toàn bộ hệ thống


thể loại của văn học viết thời cổ trên cơ sở dân tộc hóa các thể loại văn học dân gian.
Trong khi đó quá trình Việt hóa diễn ra từ các thế kỉ trước tới thế kỉ này vẫn không
ngừng hoàn thiện. song, khác với các thế kỉ trước, quá trình Việt hóa từ thế kỉ XVI trở
về sau ngày càng chịu ảnh hưởng nhiều hơn phương tiện và phương thức biểu hiện của
các thể loại dân gian, ngày càng gắn chặt hơn với quá trình dân tộc hóa.
Từ đầu thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX là giai đoạn tập đại thành của các thể
loại văn học cổ theo hướng dân tộc hóa, đồng thời đây cũng là giai đoạn hoàn thiện
của quá trình Việt hóa dưới ảnh hưởng của thể loại dân gian.
Từ đầu thế kỉ XIX, là giai đoạn có sự chuyển hướng về nội dung, thể loại thì vẫn là
những thể loại trung cổ truyền thống. Mãi đến cuối thế kỉ XX mới xuất hiện các hình
thức thể loại mới.
Trong quá trình hiểu nội dung, hình thức của thể loại văn học Trung đại Việt
Nam đã góp phần phát hiện và nhận thức sâu hơn về quy luật tính lịch sử văn học dân
tộc. Góp phần khắc họa rõ nét hơn, thuyết phục hơn diện mạo và đặc điểm của một
giai đoạn văn học. Cũng từ góc độ thể loại ta cũng có thể dễ dàng nhận thấy được vị trí
và sự cống hiến của giai đoạn văn học này trong toàn bộ tiến trình văn học. Cuối cùng,
đối với người nghiên cứu và giảng dạy, thì việc coi trọng và có quan niệm đúng đắn về
thể loại văn học còn góp phần vào việc đào tạo, khắc phục khuynh hướng coi nhẹ
phương thức phản ánh, một trong những đặc trưng của tác phẩm văn nghệ.


CHƯƠNG 2
VĂN BẢN TỨC VỊ CHIẾU VÀ ĐẶC TRƯNG VỀ NGHỆ

lòng với chúa Trịnh, sau lại bỏ cả Lê, Trịnh mà theo Tây Sơn như thế là bất trung.
Người ta lên án ông đã đứng về phía Đặng Thị Huệ và "giết bốn bố" để làm chức thị
lang, như thế là bất hiếu. Người ta phủ nhận những cống hiến vĩ đại của Ngô Thời
Nhậm đối với tổ quốc, với nhân dân; coi đó chỉ những hành động xu thời. Trước tất cả
những lời đả kích ấy, Ngô Thời Nhậm đã kiên quyết đi con đường của mình. "Ta hãy
yên tĩnh lòng ta, giữ điều ẩn ước của ta. Khi việc làm của ta thuận với mệnh trời, thì
đem cả thiên hạ bắc lên cân, cũng không cho là lớn. Ta hãy giữ gìn thân ta, đi con
đường rộng lớn của ta. Khi bước đi của ta thấy hợp với "lý", thì dù có dẵm lên đuôi hổ
cũng không sao cả!".
(Vị chi phú).
Ngay từ khi đỗ tiến sĩ, Ngô Thời Nhậm đã được chúa Trịnh tin dùng. Là
một thanh niên học rộng tài cao, ông luôn luôn nghĩ tới những việc lớn của quốc gia,
làm thế nào để dân được ấm no, nước được giàu mạnh? Với tinh thần ấy, ông đã sống
khác các sĩ phu đương thời, luôn luôn băn khăn trước tình trạng kiệt quệ về kinh tế, rối
ren về chính trị, tan rã về tinh thần của thời Lê-Trịnh. Ông điều tra rất cụ thể tình hình
các địa phương, luôn luôn gửi những lời kiến nghị lên chúa Trịnh, dù việc ấy có thể
làm phật ý chúa. Ông xác định "làm người bề tôi thờ một ông vua, biết có thể làm
được mà không làm, thế là bất trung. Đứng ở một triều có thể nói được, mà im lặng
không nói thế là bất thành". Vì lòng trung thành với chúa Trịnh và trước hết là lòng
trung thành với tổ quốc và với nhân dân, mà Ngô Thời Nhậm dám nói thẳng với chúa
Trịnh về những sai lầm trong chính sách của triều đình.
Nhưng tất cả những kiến nghị của Ngô Thời Nhậm đều không được Trịnh Sâm
chấp nhận. Trịnh Sâm lúc mới lên ngôi chúa đã làm được một số việc xuất sắc nhưng
khi "bốn phương đã yên lặng, kho đụn lại sung túc, Sâm dần dần sinh ra xa xỉ, kiêu
căng, cung tần thị nữ kén vào rất nhiều, ngày đêm mặc ý mua vui, không còn e lệ gì
nữa" (Hoàng Lê nhất thống chí). Từ đó Triều đình ngày một mục nát, nhân dân ngày
một đói khổ, các quan chức trong triều thì chia thành phe phái giữa những người ủng
hộ Trịnh Tông và những người theo Đặng Thị Huệ và Trịnh Cán. Các sĩ phu đương
thời chê trách Ngô Thời Nhậm đã đứng về phe Đặng Thị Huệ mà tố cáo âm mưu của
bè lũ Trịnh Tông.

hiểu hết được tài năng và phẩm chất của Ngô Thời Nhậm. Quang Trung tuyên bố
"Ngô Thời Nhậm vừa là bầy tôi, và là khác" coi ông như là người đáng tin cậy nhất và
giao ngay những công việc rất quan trọng. Ngay từ buổi đầu, Quang Trung đã phong
Ngô Thời Nhậm là Tả thị lang Bộ lại, nghĩa là phụ trách toàn bộ công việc tổ chức và
cán bộ trong nội bộ của mình. Ngay buổi đầu đó, Ngô Thời Nhậm đã lập tức gọi em rể
là Phan Huy Ích viết thư cho bạn là Trần Bá Lãm, giới thiệu một loại trí thức có tài, có
đức về với Quang Trung.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status