A - MỞ ĐẦU
I. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI
Trong hoàn cảnh đất nước ta đang từng bước xây dựng sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa thì việc sử dụng tiết kiệm, hiệu quả đất đai không chỉ có ý nghĩa về
mặt kinh tế mà còn đảm bảo cho mục tiêu ổn định chính trị-xã hội. Bên cạnh đó, nước
ta là một nước nông nghiệp, có dân số đông, việc quản lý và sử dụng đất đai như thế
nào cho có hiệu quả đang trở thành mối quan tâm hàng đầu, là mục tiêu chiến lược
của đất nước.
Mặc khác, việc sử dụng đất đai còn ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng cây
trồng, vật nuôi. Vì vậy chúng ta cần có các phương án sử dụng đất đúng mục đích
nhằm để mang lại hiệu quả kinh tế cho từng ngành, từng vùng, phù hợp với định
hướng phát triển kinh tế xã hội của từng địa phương. Nếu chúng ta sử dụng đất không
có khoa học, không theo quy hoạch, kế hoạch sẽ làm cho đất bị cằn cỗi và bạc màu
dẫn đến những tác hại xấu đối với đời sống kinh tế xã hội. Để sử dụng đất đai ngày
càng hợp lý, phát huy hết tiềm năng sản xuất thì việc đánh giá tình hình quản lý và sử
dụng đất đai là rất cần thiết, nhằm tìm ra những hạn chế để có những giải pháp khắc
phục cho vấn đề quản lý và sử dụng đất ở các năm kế tiếp một cách chặt chẽ và hiệu
quả hơn.
Vân Canh là một trong ba huyện miền núi của tỉnh Bình Định đang được Nhà nước
quan tâm đầu tư phát triển, nằm ở vị trí cửa
ngõ phía Tây Nam của tỉnh cách thành phố
Quy Nhơn khoảng 35 km, có lợi thế về giao
thông như tỉnh lộ 638; đường sắt Bắc Nam
chạy qua nối liền với tỉnh Phú Yên, có tiềm
năng lớn về đất đai. Định hướng phát triển
kinh tế xã hội của huyện đến năm 2020 là “
Nông lâm nghiệp – Công nghiệp – Tiểu thủ
công nghiệp – Du lịch và Dịch vụ ”. Vì vậy
trong thời gian đến công tác QLNN về đất đai
có ý nghĩa và tầm quan trọng ảnh hưởng rất
lớn đến định hướng phát triển kinh tế - xã hội
đội ngũ cán bộ QLNN về đất đai trên địa bàn huyện Vân Canh.
- Nghiên cứu thực trạng tình hình QLNN về đất đai trên địa bàn huyện Vân Canh
trong thời gian (2005-2008)
B - NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
I.1. Khái niệm và đặc điểm của đất đai.
Trong tất cả các điều kiện cần thiết để quá trình sản xuất được thực hiện, tạo ra của
cải vật chất, cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người; đất đai giữ vị trí
và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đất đai vừa là tư liệu sản xuất vừa là đối tượng sản
xuất của nông nghiệp và cũng là nơi xây dựng các công trình phục vụ phát triển kinh
tế, dân sinh và an ninh quốc phòng. Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, nó là yếu tố cấu
thành nên lãnh thổ của mỗi quốc gia. Như vậy có thể nói đất đai là tài sản đặc biệt, là
tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan
trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các
cơ sở kinh tế- văn hoá- xã hội- an ninh quốc phòng.
I.2. Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai
Quản lý nhà nước về đất đai là sự tác động có tổ chức và điều khiển quyền lực của
Nhà nước bằng pháp luật đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con
người trong lĩnh vực đất đai, nhằm duy trì phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự
pháp luật đất đai và thực hiện tốt những chức năng, nhiệm vụ QLNN về đất đai trong
công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
I.3. Nguyên tắc quản lý nhà nước về đất đai
Đất đai giữ vị trí và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong đời sống của con người, là
cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Cho nên quản lý nhà nước về
đất đai phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Quản lý đất đai phải trên cơ sở pháp luật đất đai, các văn bản, biểu mẫu quy
định, hướng dẫn của Nhà nước và các cơ quan chuyên môn từ Trung ương đến địa
ĐỊA BÀN HUYỆN TRONG THỜI GIAN QUA ( 2005-2008 )
II.1 Đặc điểm, tình hình
II.1.1. Điều kiện tự nhiên
+ Vị trí địa lý
Vân Canh là huyện có diện tích tự nhiên lớn nhất tỉnh với 80.020,84 ha, vị trí của
huyện nằm ở tọa độ địa lý : từ 13 o30’ đến 13o50’ vĩ độ Bắc và từ 108o50’ đến 109o05’
kinh độ Đông. Phía Bắc giáp huyện Tây Sơn và An Nhơn. Phía Nam giáp huyện Đồng
Xuân - tỉnh Phú Yên. Phía Đông giáp huyện Vân Canh & Thành phố Quy Nhơn. Phía
Tây giáp huyện Kôngchoro - tỉnh Gia Lai.
+ Địa hình
Địa hình của Vân Canh có độ cao chênh lệch giữa các vùng trong huyện rất
lớn. Độ cao lớn nhất là 700 mét, độ cao trung bình là 200 m, địa hình bị phân cắt
mạnh, phần lớn là các sườn núi có độ dốc trên 250 m. Địa hình núi thấp và thung lũng
kiến tạo - xâm thực : chủ yếu là đất nông nghiệp và các khu dân cư xen kẽ, sông suối
và các hồ đập.
+ Khí hậu
Vân Canh nằm trong tiểu vùng khí hậu Duyên hải Nam Trung Bộ là vùng khí
hậu nhiệt đới ẩm.Với nền nhiệt độ cao và ổn định, lượng bức xạ phong phú, số giờ
nắng dồi dào với 2 mùa mưa và khô rõ rệt. Tổng lượng mưa lớn, mùa mưa bắt đầu từ
đầu tháng 9 đến hết tháng 12, mùa khô bắt đầu từ tháng 1 đến cuối tháng 8, lượng mưa
phân bố không đều.
+ Tài nguyên đất
Theo kết quả điều tra của Hội khoa học đất Việt Nam, với phương pháp đánh giá đất
của FAO-UNESCO, trên địa bàn huyện Vân Canh có các nhóm đất sau:
Đất Cát (C): Arenosols (AR): Diện tích 282 ha (chiếm 0,35% diện tích tự nhiên);
Đất Phù sa (P): Fluvisols (FL): Diện tích: 2.367 ha (chiếm 2,96% diện tích tự nhiên):
Phân bố tập trung tại các xã: Canh Vinh, Canh hiển, Canh Hiệp. Đất Xám (X):
Acrisols (AC): Diện tích: 76.270 ha (chiếm 95,58% diện tích tự nhiên).
+ Tài nguyên khoáng sản
Đá xây dựng trên địa bàn huyện phần lớn là chủng loại granit, gabro, bazan. Đá có
2,62
- Đất chưa sử dụng
22.868,00
28,58
( Chi tiết các loại đất có bảng 03- TKĐĐ: thống kê diện tích đất đai kèm theo )
+ Tiềm năng đất đai
Diện tích đất chưa sử dụng còn 22.868,00 ha, chiếm 28,58% diện tích đất tự nhiên
của huyện, đây được xem là nguồn tiềm năng dồi dào giúp cho huyện có thể khai thác
bổ sung đưa vào sử dụng cho các mục đích, đặc biệt là đất sản xuất nông, lâm nghiệp.
Tiềm năng đất để phát triển rừng của huyện trong thời gian tới là rất lớn khoảng 7.000
ha.
Vân Canh còn có nguồn nguyên liệu từ khoáng sản (khai thác đá làm vật liệu xây
dựng, phục vụ chế biến đá ốp lát), từ sản xuất nông, lâm nghiệp (phục vụ chế biến gỗ).
Hệ thống hạ tầng cơ sở ở mức độ trung bình và đang ở trong giai đoạn đầu tư phát
triển.
Với vị trí khá gần thành phố Quy Nhơn, cộng với cảnh quan thiên nhiên đẹp, nhiều
lễ hội, phong tục tập quán hấp dẫn của đồng bào dân tộc Chăm, Bana...chứa đựng
nhiều tiềm năng du lịch, với nhiều loại hình du lịch hấp dẫn mang tính đặc thù riêng.
II.2. Thực trạng công tác quản lý nhà nước trên địa bàn huyện
II.2.1. Thực trạng công tác tổ chức bộ máy nhà nước, trình độ chuyên môn
của người cán bộ quản lý đất đai trên địa bàn huyện
Trước năm 2005 bộ máy quản lý đất đai trên địa bàn chưa được ổn định, số
lượng còn ít, trình độ chuyên môn chưa được đào tạo đúng chuyên ngành, còn kiêm
nhiệm nhiều công việc. Từ năm 2005 được sự quan tâm của UBND huyện và nhu cầu
viên
Trần Thị Chuyên
Hoa
viên
chuyên môn
ĐH Kinh tế
tộc
ĐH QLĐĐ
ĐH CNMT
Kinh
54
Kinh
47
Kinh
26
Danh sách cán bộ Văn phòng Đăng Ký QSDĐ huyện Vân Canh.
ST
T
Họ và Tên
05
06
07
08
09
Họ và Tên
Nguyễn
Trọng
Phước
Nguyễn Hà Tư
Trần Văn Đức
Trình độ
chuyên môn
Dân tộc
Tuổi
TC ĐC
Kinh
35
ĐH QLĐĐ
Kinh
Canh Hiển
TC ĐC
2
Bùi Tấn Trực
Nguyễn
Mạnh
Đàm
Nguyễn Tữu
Số
lượn
g
TC ĐC
Canh Hiệp
TT
Vân
Canh
Canh
Thuận
Canh Hòa
Canh Liên
( Nguồn: Phòng TNMT huyện Vân Canh )
1
h
Kin
h
Kin
h
Kin
h
Ba
na
53
49
39
29
43
42
44
25
37
II.2.2. Tình hình quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện thời gian
(2005-2008)
+ Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ
chức thực hiện
Thi hành Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo của Trung
ương, của UBND tỉnh, UBND huyện Vân Canh theo thẩm quyền hàng năm đã kịp
thời ban hành một số văn bản để chỉ đạo các ban ngành, UBND các xã, thị trấn nhằm
thực hiện tốt việc quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn, cụ thể như sau:
- Quyết định số 40/QĐ-UBND ngày 25/01/2005 của UBND huyện Vân Canh về việc
+ Công tác đo đạc, đánh giá phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện
trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất
- Thực hiện Chỉ thị 299/TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ về đo đạc
thành lập bản đồ phục vụ kịp thời công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
(GCNQSDĐ) và công tác quản lý đất đai ở địa phương, các huyện trong tỉnh đã tiến
hành đo đạc lập bản đồ giải thửa ở tỷ lệ 1/2000 theo chỉ thị 299 TTg của thủ tướng
chính phủ (gọi chung là bản đồ giải thửa) và đây là cơ sở quan trọng cho việc xét cấp
GCNQSDĐ cho nhân dân theo Nghị định 64 CP của Chính phủ. Đến nay trên địa bàn
huyện Vân Canh các xã, thị trấn đã được đo đạc và thành lập bản đồ giải thửa và bản
đồ địa chính, phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về đất đai: tổng số tờ bản đồ giải
thửa tỉ lệ 1:2000 đã thành lập là:144 tờ, trong đó: Canh Vinh: 28 tờ, Canh Hiển: 11 tờ,
Canh Hiệp: 15 tờ, Canh Thuận: 34 tờ, Canh Hòa: 23 tờ, Canh Liên: 33 tờ. Riêng thị
trấn Vân Canh được UBND tỉnh Bình Định đầu tư kinh phí trong năm 2002 để thực
hiện đo đạc lập bản đồ địa chính chính quy theo hệ tọa độ quốc gia VN2000, công
nghệ bản đồ số, tổng cộng 73 tờ bản đồ bao gồm 25 tờ ở tỷ lệ 1/2000 và 48 tờ ở tỷ lệ
1/500.
- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất, của huyện và các xã, thị trấn đã được xây dựng
hoàn chỉnh theo định kỳ 5 năm cùng với công tác kiểm kê đất đai. Đặc biệt kiểm kê
đất đai năm 2005 đã xây dựng hệ thống bản đồ hiện trạng sử dụng đất ở cả 2 cấp
(huyện và xã) bằng công nghệ số. Cụ thể chi tiết như sau:
ST
T
01
02
03
04
05
01
01
Tỉ lệ
1:500
00
1:500
0
1:100
00
1:100
00
1:250
00
1:100
00
1:100
00
1:250
00
Phương
pháp
thực
hiện
Công nghệ số
Công nghệ số
Công nghệ số
Công nghệ số
Công nghệ số
Xác định rõ vai trò, tầm quan trọng của công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất,
nên vừa qua trong 02 năm 2007 và 2008 đã được UBND huyện và UBND tỉnh bố trí
kinh phí triển khai công tác này đồng loạt ở cấp huyện, cấp xã với kỳ quy hoạch sử
dụng đất đến năm 2015, định hướng đến năm 2020.
Chính nhờ thực hiện tốt công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất mà UBND huyện,
thực hiện tốt công tác giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, phân bổ
quỹ đất cho các ngành, các lĩnh vực đúng quy định của pháp luật
+ Công tác quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử
dụng đất
Thực hiện Nghị định 64/CP ngày 27 tháng 9 năm 1993 của Chính phủ về việc giao
đất nông nghiệp, Nghị định 79/CP ngày 01 tháng 11 năm 2001 của Chính phủ về sửa
đổi bổ sung một số điều của Nghị định 17/CP trong việc chuyển nhượng, cho thuê,
cho thuê lại. Công tác giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất cho cá
nhân, được UBND huyện thực hiện thường xuyên, kịp thời theo đúng thẩm quyền.
Thời kỳ 1993-1997 thực hiện đề án giao quyền sử dụng đất cho nhân dân theo Nghị
định 64/CP của chính phủ, hầu hết các loại đất đã được Nhà nước giao và cấp
GCNQSDĐ. Theo số liệu điều tra đến năm 2005 diện tích đất được giao theo đối
tượng sử dụng là 49.726,77 ha, chiếm 62,14% diện tích tự nhiên, trong đó giao cho hộ
gia đình, cá nhân sử dụng là 8.757,45 ha; diện tích đất được giao theo đối tượng để
quản lý là 31.093,47 ha, chiếm 37,86% diện tích đất tự nhiên.
Từ 2005 đến 2008 theo thẩm quyền UBND huyện đã giao đất cho hộ gia đình, cá
nhân sử dụng như sau:
Năm
Mục đích sử dụng
Đối tượng sử dụng
(Hộ gia đình, cá
nhân)
171,56
98,94
307,83
202
127
248
8,55
578,33
577
- Công tác cho thuê đất: Trong 04 năm (2005-2008), UBND xã, thị trấn theo phân
cấp đã tiến hành cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp để tạo nguồn thu cho địa
phương với tổng diện tích cho thuê là: 905.36 ha bao gồm đất sản xuất nông nghiệp
765,46 ha, đất lâm nghiệp 139,90 ha, UBND huyện đã cho thuê đất cho hộ gia đình,
cá nhân thuê đất để làm kinh tế trang trại với 7 trường hợp tổng diện tích cho thuê là
7,5 ha. Ngoài ra trên địa bàn huyện UBND tỉnh đã cho thuê đất đối với 23 tổ chức,
với tổng diện tích cho thuê là 403,41 ha. Trong đó năm 2006 cho thuê 7 tổ chức với
diện tích 213,27 ha; năm 2007 cho thuê 11 tổ chức với diện tích 152,64 ha; năm 2008
cho thuê 5 tổ chức với diện tích 37,5 ha, chủ yếu là Lâm trường Hà Thanh, các công
ty trách nhiệm hữu hạn thuê đất để trồng rừng sản xuất. ( Nguồn: Phòng TNMT
huyện; Sở TNMT Bình Định ).
- Công tác chuyển mục đích sử dụng đất: Từ năm 2005-2008, UBND huyện đã
thực hiện việc chuyển mục đích sử dụng đất như sau:Đất nông nghiệp chuyển sang phi
nông nghiệp là 39,43 ha, trong đó lấy từ đất sản xuất nông nghiệp 31,56 ha; từ đất lâm
nghiệp 7,87 ha; chuyển 60,00 ha đất rừng sản xuất sang đất trồng cây hàng năm tại xã
tương đối mạnh mẽ, kéo theo các nhu cầu về sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng
đất cấp GCNQSDĐ của nhân dân trên địa bàn huyện xảy ra thường xuyên theo từng
ngày. Tuy nhiên Công tác đăng ký quyền sử dụng đất, lập, chỉnh lý và quản lý hồ sơ
địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bổ sung, nhiều xã chưa thực hiện
thường xuyên và kịp thời, công tác cấp GCNQSDĐ theo yêu cầu của người dân có
trường hợp còn chậm trễ và kéo dài.
+ Công tác thống kê, kiểm kê đất đai
Công tác thống kê, kiểm kê đất đai trên địa bàn huyện được thực hiện tốt ở cả 2 cấp.
Thực hiện Chỉ thị số 28/2004/CT-TTG ngày 15/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ về
việc kiểm kê đất đai năm 2005, Thông tư số 28/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004
của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Chỉ thị số 02/2005/CT-UB của UBND tỉnh Bình
Định về việc triển khai công tác kiểm kê đất đai năm 2005. Huyện đã hoàn thành tốt
công tác kiểm kê đất đai năm 2005 với chất lượng được nâng cao, hạn chế được tình
trạng sai lệch về số liệu, bản đồ với thực tế giữa các đợt thống kê, kiểm kê, phục vụ
đắc lực trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện.
+ Quản lý tài chính về đất đai
Công tác quản lý tài chính về đất đai trên địa bàn huyện Vân Canh được thực hiện
theo đúng qui định của pháp luật. Các nguồn thu và việc chấp hành thu, chi các loại
phí, lệ phí, tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, tiền chuyển mục đích, tiền chuyển nhượng
quyền sử dụng đất trong những năm qua đảm bảo đúng mục đích, có hiệu quả và tuân
thủ theo quy định hiện hành của Nhà nước.Vì là huyện miền núi nên các nguồn thu từ
đất còn rất thấp và chỉ tập trung tại một số vị trí gần các trục đường giao thông chính
và thị trấn Vân Canh. Số liệu các nguồn thu ngân sách qua các năm gần đây như sau :
Đơn vị tính: nghìn đồng
Loại thu ngân sách
1. Tiền sử dụng đất
2.
Thuế
QSDĐ
3. Phí và lệ phí
45.000
47.680
94.918
42.579
Tổng số:
1.095.700
779.913
1.227.92
961.764
7
(Nguồn: Chi cục thuế huyện Vân Canh)
+ Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động
sản
Nhìn chung, thị trường bất động sản tại tỉnh Bình Định nói chung còn chưa phát triển và tại
huyện Vân Canh hầu như chưa có giao dịch và nếu có cũng chỉ mang tính tự phát, công tác
quản lý nhà nước còn chưa được chú ý. Vì là huyện miền núi nên các điều kiện để thúc đẩy
thị trường bất động sản còn gặp rất nhiều khó khăn. Mặc dù vậy, trong các năm vừa qua
(2005-2008), thị trường quyền sử dụng đất (chủ yếu là đất ở) tại huyện Vân Canh đã bước
đó kiểm tra nhắc nhở và xử lý việc khai thác vật liệu xây dựng (đá, cát) tại 4 xã với 12
trường hợp ).
Nguồn:( Thanh tra huyện Vân Canh ).
+ Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong
việc quản lý và sử dụng đất đai
Tính từ năm 2005 đến năm 2008, Thanh tra huyện đã tiếp nhận 23 hồ sơ khiếu nại,
về tranh chấp đất đai ( năm 2005: 07 hồ sơ, năm 2006: 05 hồ sơ, năm 2007: 09 hồ sơ,
năm 2008: 02 hồ sơ ). Kết quả đã giải quyết 21 hồ sơ, còn tồn đọng 02 hồ sơ. Về việc
đơn thư tố cáo các vi phạm pháp luật đất đai không xảy ra. Tình hình khiếu nại, tố cáo
và tranh chấp đất đai đến nay đã giảm dần. UBND huyện đã chỉ đạo các xã, thị trấn,
thanh tra liên ngành tập trung giải quyết dứt điểm các trường hợp tranh chấp đất đai
theo thẩm quyền nhằm hạn chế đơn thư vượt cấp, góp phần ổn định an ninh - trật tự xã
hội trên địa bàn huyện. (Nguồn: Thanh tra huyện Vân Canh ).
II.3. Nhận xét, đánh giá (ưu, nhược điểm)
II.3.1. Ưu điểm:
Được sự chỉ đạo chặt chẽ của UBND tỉnh, sự hướng dẫn về chuyên môn của Sở Tài
nguyên và Môi trường, nhất là từ khi Luật Đất đai 2003 ra đời cho đến nay, công tác
quản lý đất đai trên địa bàn huyện Vân Canh đã có nhiều tiến bộ hơn hẳn những năm
trước đây. Các cấp, các ngành triển khai thực hiện pháp luật đất đai tương đối đồng
bộ, công tác QLNN về đất đai chặt chẽ và đi vào nề nếp, tạo điều kiện cho nhân dân
yên tâm đầu tư, thâm canh phát triển sản xuất, việc khai thác sử dụng đất đúng mục
đích, tiết kiệm, có hiệu quả, các thành tựu khoa học, công nghệ được áp dụng vào lĩnh
vực chuyên ngành quản lý đất đai ngày càng tiến bộ hơn.
- Công tác tổ chức, tuyên truyền, phổ biến pháp luật đất đai của các cấp, các ngành,
trên các hệ thống thông tin đại chúng cho nhân dân ngày càng được sâu rộng, việc
chấp hành pháp luật đất đai của hệ thống chính trị và trong nhân dân ngày càng
nghiêm minh, nhận thức về pháp luật đất đai của cán bộ, nhân dân trên địa bàn huyện
ngày càng nâng cao.
rừng làm nương rẫy trái phép.
- Công tác Quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch rừng, quy hoạch thị trấn, thị tứ, quy
hoạch đô thị và các quy hoạch cụm công nghiệp, quy hoạch chuyên ngành giao thông,
thủy lợi, y tế, giáo dục - đào tạo v.v... chưa được đồng bộ, tính thống nhất và tính khoa
học chưa cao, còn nhiều vấn đề chồng chéo, mâu thuẫn, tính khả thi chưa cao. Do đó
làm hạn chế rất lớn đối với công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện.
II.3.3. Nguyên nhân của tồn tại, yếu kém
- Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đất đai chưa sâu rộng trong
nhân dân; nhất là đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số; công tác thanh tra, kiểm tra
ngăn ngừa các trường hợp vi phạm pháp luật đất đai chưa được thường xuyên và liên
tục.
- Đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý đất đai của huyện và của xã số
lượng còn rất thiếu so với yêu cầu đặt ra, một số cán bộ địa chính trình độ, năng lực
chưa cao, chưa có nhiều kinh nghiệm trong thực tiễn, chưa vận dụng đúng pháp luật
đất đai vào thực tiễn của địa phương, có nơi, có lúc còn tùy tiện, đôi khi buông lỏng
công tác quản lý và thiếu tinh thần trách nhiệm. Tình trạng nhũng nhiễu, trì trệ trong
xử lý hồ sơ về đất đai của cán bộ làm công tác quản lý đất đai còn xảy ra.
- Các cấp, các ngành, đoàn thể chưa đấu tranh kiên quyết đối với việc lợi dụng chức
vụ quyền hạn để vụ lợi và làm sai quy định trong công tác quản lý về đất đai; vai trò
giám sát của các cơ quan “đại diện” và các tổ chức xã hội đối với việc quản lý đất đai
của UBND huyện, sự lãnh đạo, chỉ đạo của một số cấp ủy cấp ở cơ sở chưa chủ động,
thống nhất, kịp thời đối với các vụ việc tiêu cực xảy ra trong công tác QLNN về đất
đai.
- Trình độ dân trí của người dân ( nhất là đồng bào dân tộc thiểu số ) còn thấp, do đó
còn hạn chế trong nhận thức pháp luật đất đai, còn diễn ra tình trạng lấn chiếm đất
công cất nhà, lấn chiếm đất rừng, phá rừng làm nương rẫy trái phép.
II.4. Bài học kinh nghiệm
Qua thực tiễn những ưu, khuyết điểm, những hạn chế và những bất cập của công tác
- Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đất đai sâu rộng hơn
nữa trong nhân dân; kiểm tra, rà soát và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp
luật đất đai, giao đất không đúng thẩm quyền; rà soát các văn bản quy phạm pháp luật
đất đai đã bàn hành nhưng có nhiều điểm không còn phù hợp để kiến nghị cấp trên
sửa đổi.
- Tăng cường đào tạo, tập huấn chuyên môn nghiệp vụ cho những người trực tiếp
làm công tác quản lý nhà nước về đất đai; xử lý tốt vấn đề bồi thường , tái định cư khi
nhà nước thu hồi đất, tiếp nhận và giải quyết kịp thời các đơn thư khiếu nại, tố cáo của
công dân; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc sử dụng đất của các tổ chức, cá
nhân sau khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất chuyển mục đích sử dụng đất.
- Nhà nước cần nghiên cứu, xem xét quy định rõ trách nhiệm của cán bộ, công chức
làm công tác tham mưu, đề xuất; trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo UBND các cấp và
của các cơ quan, đơn vị, tránh tình trạng quy định chung chung, khi xảy ra sai phạm
trong quản lý thì không có người chịu trách nhiệm chính, mà chủ yếu xử lý sai phạm
theo cơ chế trách nhiệm “tập thể” làm cho hiệu lực quản lý ngày càng kém, không
mang tính răn đe đối với người vi phạm.
- Nâng cao vai trò giám sát của các cơ quan “đại diện” và các tổ chức xã hội đối với
việc quản lý đất đai của UBND các cấp và các cơ quan nhà nước khác. Bên cạnh đó,
cần có chế tài kiểm soát đủ mạnh để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật đất đai, nhất
là việc giao đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi, bồi thường, hỗ trợ tái
định cư không phù hợp với quy định của pháp luật.
- Tiếp tục kiện toàn các cơ quan quản lý và các tổ chức thực hiện dịch vụ công về đất
đai trong việc cung cấp thông tin cho cơ quan nhà nước các tổ chức và công dân khi
có nhu cầu, nhất là trong việc xác lập các giao dịch dân sự (mua bán, cho thuê, giá cả,
hoạt động môi giới, v.v..) về nhà đất, nhằm thiết lập một thị trường bất động sản lành
mạnh bảo đảm cân bằng lợi ích giữa người sử dụng và nhà quản lý trên cơ sở những
thông tin công khai, minh bạch và độ tin cậy cao.
- Khắc phục và hoàn thiện ngay tình trạng UBND cấp có thẩm quyền vừa là nơi nhận
có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý nhà nước về đất đai trên
địa bàn huyện được tốt hơn.
III.1.3. Giải pháp về việc sử dụng đất đúng mục đích, hiệu quả, tiết kiệm
- Nhà nước cần có chính sách ưu đãi về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, các khoản phí
có liên quan đến sử dụng đất, đặc biệt chính sách khuyến khích thuê đất làm trang trại,
trồng rừng phủ xanh đất trống đồi trọc, thu hút đầu tư vào vùng sâu, vùng xa của
huyện. Khuyến khích áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sử dụng đất
nhằm bảo vệ tài nguyên đất bền vững và bảo vệ môi trường sinh thái.
- Đầu tư thâm canh, tăng năng suất cây trồng để bù đắp sản lượng nông sản do
một phần đất nông nghiệp chuyển sang sử dụng vào mục đích khác. Thực hiện tốt các
chương trình, dự án về khai thác đất bằng và mặt nước chưa sử dụng vào sản xuất
nông nghiệp. Phải triệt để tiết kiệm sử dụng đất nông nghiệp, đồng thời phải khai
hoang, mở rộng diện tích đất nông nghiệp trên đất đồi núi chưa sử dụng. Khai thác có
hiệu quả vùng đồi núi phục vụ phát triển rừng tạo cảnh quan môi trường cho du lịch
phát triển, hướng phát triển rừng là khoanh nuôi, bảo vệ đi đôi với trồng rừng. Phát
triển nông lâm kết hợp với mô hình vườn đồi.
- Ưu tiên đủ đất đai cho phát triển giao thông, thủy lợi. Bố trí đất đai một cách hợp lý
cho phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, cho sự nghiệp giáo dục- đào tạo, thể
dục, thể thao, y tế, văn hoá - thông tin, trên cơ sở tiết kiệm có hiệu quả.
III.2 – Kiến nghị
Để tăng cường công tác quản lý Nhà nước về đất đai đi vào nề nếp, có hiệu lực
và hiệu quả theo quy định của pháp luật. Trong quá trình nghiên cứu công tác quản lý
nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Vân Canh, bản thân tôi xin phép được có một
số kiến nghị như sau:
- Nhà nước cần ưu tiên đầu tư bằng nhiều nguồn vốn, với nhiều hình thức khác nhau
để đầu tư phát triển trên địa bàn huyện Vân Canh nhằm sớm nâng cao đời sống vật
chất, tinh thần, trình độ dân trí cho nhân dân, khuyến khích và có cơ chế chính sách
đất đai phù hợp để nhân dân khai thác, sử dụng tiềm năng đất đai hiện có đúng mục
đích, tiết kiệm và hiệu quả.
- Tăng cường công tác quản lý tài chính về đất đai (thuế nhà, đất; thuế chuyển quyền
rất lớn 80.020,84 ha, chiếm 13,3 % tổng diện tích toàn tỉnh, mật độ dân số còn thấp
(32 người/km2). Dân tộc Ba Na, Chăm, Tày, Thái, Mường chiếm khoảng gần 40%
dân số toàn huyện, về điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật, trình độ dân trí còn ở mức độ
thấp so với mặt bằng chung của tỉnh, điều kiện phát triển kinh tế rất khó khăn, điều đó
đã và đang làm hạn chế và gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực
đất đai, tuy nhiên được sự đầu tư đúng mực của Nhà nước, sự quan tâm của UBND
tỉnh, nhất là sự quan tâm chỉ đạo chặt chẽ của UBND huyện, trong thời gian từ 2005
đến nay, công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Vân Canh dần đi vào
chiều sâu, ổn định và đạt được nhiều kết quả to lớn góp phần thắng lợi trong sự nghiệp
phát triển kinh tế - xã hội của huyện.
- Nhận thức của các cấp, các ngành trong việc chấp hành pháp luật đất đai có sự
chuyển biến tốt, các vi phạm pháp luật về đất đai trên địa bàn huyện ngày càng ít xảy
ra, việc chấp hành chính sách pháp luật đất đai của các đối tượng sử dụng đất được
nghiêm minh, quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai được phát huy cao hơn,
quyền và lợi ích chính đáng của người dân trong việc khai thác sử dụng đất được pháp
luật bảo vệ tốt hơn.
- Công tác lập quy hoạch đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 và kế hoạch sử
dụng đất hàng năm của huyện và 6 xã, 1 thị trấn đã được thành lập đồng loạt. Đây sẽ
là căn cứ để giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất theo đúng quy định
của pháp luật, đáp ứng nhu cầu sử dụng đất đai của các ngành; công tác đo đạc lập bản
đồ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và lập hồ sơ địa chính; công tác
giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất đã từng bước được chấn chỉnh,
kịp thời đáp ứng nhu cầu của các thành phần kinh tế và của người dân. Công tác thanh
tra, kiểm tra việc chấp hành các chế độ về quản lý, sử dụng đất đai được tiến hành kịp
thời, đã phát hiện và xử lý nhiều vụ vi phạm pháp luật về đất đai, chấn chỉnh tình
trạng lấn chiếm đất đai, phá rừng làm nương rẫy, các trường hợp khai thác sử dụng tài
nguyên đất đai không đúng quy định, giám sát chặt chẽ việc sử dụng đất của các đối
tượng theo đúng mục đích, ranh giới; xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm